Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Liszt - Piano Sonata in B Minor [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Liszt - Piano Sonata in B Minor



Apomethe
22-05-2007, 15:22
Download tác phẩm ở đây:
http://www.nhaccodien.info/forum/showpost.php?p=1533&postcount=2

Như đã nói ở một tác phẩm trước, chủ nghĩa Lãng mạn trong âm nhạc châu Âu được hình thành với những biến động của Cách mạng tư sản Pháp. Tâm hồn người nghệ sĩ Lãng mạn bị ảnh hưởng bởi tình hình xã hội đương thời, họ luôn khát khao muốn vươn tới sự tự do cho dân tộc, sự công bằng cho các tầng lớp nhân dân, nhưng những ước mơ không tưởng ấy đã làm họ cảm thấy bất lực, đơn độc, dẫn tới những nỗi đau, những bế tắc, được phản ánh một cách gián tiếp trong các tác phẩm nghệ thuật mà họ tạo ra. Nỗi khát khao mơ ước về những ý tưởng cao đẹp càng trở nên mạnh mẽ, họ luôn đề cao lòng nhân đạo, những vẻ đẹp tinh thần và những giá trị đạo đức, nhất là thế giới nội tâm của con người luôn chiếm vị trí hàng đầu. Vì vậy, sự xung đột phức tạp về tâm lý nhân vật là điển hình trong nghệ thuật lãng mạn
Với Âm nhạc, thực tế xã hội đã thức tỉnh trong lòng các nhạc sĩ sự phẫn nộ đối với bất công và tình cảm sâu sắc với Tổ Quốc. Các tác phẩm của họ, ngoài tính trữ tình lãng mạn còn mang sự xung đột căng thẳng và những thay đổi về màu sắc hoà âm, sự pha trộn âm sắc của các nhạc cụ khác nhau trong cách phối dàn nhạc... trở thành phương tiện để các nhạc sĩ thể hiện nội dung tác phẩm của mình. Họ đề cao tính tự do trong sáng tạo, dẫn đến sự hình thành nhiều hình thức và thể loại mới như: trong ca khúc xuất hiện thể loại ca khúc Romance có giá trị nghệ thuật cao sánh ngang với các thể loại lớn như giao hưởng, nhạc kịch; loại nhạc có tiêu đề đã phản ánh thực tế sinh động, trần thuật tư duy âm nhạc tự do và rõ ràng hơn. Các thể loại nhỏ trong lĩnh vực âm nhạc thính phòng viết cho đàn piano cũng phát triển: các khúc nhạc mang tính vũ khúc trước kia chỉ là một phần phụ trong cả tác phẩm lớn, đến thế kỷ XIX đã trở thành những thể loại độc lập. Ngoài ra, còn có những khúc nhạc một chương mà Ferenc Liszt là một trong những người sáng tạo nên.
Ferenc Liszt sinh ngày 22-10-1810 ở Doborian - Hunggary. Làm quen với cây đàn piano từ nhỏ và được đào tạo về nghệ thuật sáng tác, Liszt không những là nhà biểu diễn dương cầm xuất sắc mà còn có vai trò lớn và nhiều cống hiến cho nền âm nhạc lãng mạn thế kỷ XIX. Phần lớn cuộc đời sống xa tổ quốc, chu du ở nhiều quốc gia như Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Ý... đã tạo nguồn cảm hứng sáng tác phong phú cho nhạc sĩ, nhưng tấm lòng ông luôn yêu mến hướng về tổ quốc mình.

Liszt rất quan tâm đến âm nhạc của dân tộc mình. Chất liệu âm nhạc dân gian Hunggary được ông khai thác thể hiện ở cách tiến hành giai điệu và cách sử dụng "gam Hunggary" trong rất nhiều tác phẩm. Toàn bộ sáng tác của nhạc sĩ nổi rõ sự mâu thuẫn đấu tranh giữa những chiều hướng khác nhau, hình tượng thể hiện thường là những mặt đối lập nhau trong tính cách nhân vật. Ông đã sáng tác một số lượng lớn các tác phẩm thuộc nhiều thể loại, như Rhapsody, Concerto, giao hưởng, giao hưởng thơ..., nhưng thể loại mà ông yêu thích hơn cả là các giao hưởng, hợp xướng, ca khúc, và các tác phẩm cho piano. Đặc biệt, những sáng tác cho piano là thể loại ưu tú nhất trong di sản âm nhạc của Liszt, ông đã viết rất nhiều: cải biên, chuyển thể, étude, tiểu phẩm có tiêu đề, liên hoàn khúc, sonate. Đặc điểm những tác phẩm piano của Liszt là tính chất dàn nhạc , qua lối khai thác tất cả các âm vực của cây đàn piano, những hợp âm dày dặn mạnh mẽ và những nét lướt điêu luyện, ta có cảm giác như đang được nghe một dàn nhạc hoà tấu với âm hưởng của nhiều loại nhạc cụ khác nhau.
Cả cuộc đời, Liszt chỉ sáng tác 2 bản sonate cho piano. Đó là hai tác phẩm có quy mô đồ sộ và có nội dung kịch tính sâu sắc. Đặc biệt, bản Sonate số 2 B minor là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhạc sĩ. Ông đã nêu bật được sức mạnh nghệ thuật lớn lao cũng như khẳng định cái nhìn của mình với thế giới bên ngoài. Qua 2 tác phẩm đó, ông đã sáng tạo nên thể loại Sonate 1 chương với kết cấu tự do nhưng vẫn mang đặc điểm của 4 chương sonate thông thường. Các sonate của ông không nhiều, nhưng là những tác phẩm rất có giá trị; và Liszt trở thành một trong số những nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thể loại này, như Beethowen, Chopin, và Schumann


Như đã nói ở trên, Liszt là người sáng tạo ra thể loại sonate 1 chương. Nghĩa là trong một tác phẩm chứa đựng những đường nét điển hình của 4 chương trong liên khúc sonate giao hưởng. Sonate số 2 B minor là một thí dụ về thể loại này. Qua phân tích, chúng ta có thể thấy đặc điểm của từng chương trong sonate cổ điển được thể hiện ở từng phần của tác phẩm.
Tác phẩm có cấu trúc chung như sau:
Phần mở đầu - Phần trình bày - Phần phát triển - Phần tái hiện - Coda(kết)

A - PHẦN MỞ ĐẦU có âm hưởng trang nghiêm như một lời báo trước, chuẩn bị cho sự xuất hiện của chủ đề chính. Nhịp độ chậm, thủ pháp diễn tấu đồng nhất về tiết tấu ở cả hai bè, hướng chuyển động đi xuống liền bậc ở âm khu trầm với loại nhịp phân 2. Phần mở đầu không viết ở giọng chủ B minor mà viết ở giọng bậc IV G minor.
B - PHẦN TRÌNH BÀY mang những đặc điểm như chương I ở liên khúc sonate bởi: tốc độ nhanh (allegre energico); sự trình bày các chủ đề tương phản trong mối tương quan về điệu tính và chất liệu, bao gồm:
Chủ đề chính - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề phụ thứ hai.
I. Chủ đề chính: gồm 2 yếu tố tương phản. Ngắn ngủi và cô đọng, nhưng hai yếu tố này mang ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển sau này của tác phẩm. Những đường nét cơ bản của giai điệu cũng như những âm hình tiết tấu chính đều được giới thiệu thông qua hai yếu tố này.
- Yếu tố thứ nhất mang tính mạnh mẽ, rắn rỏi thể hiện ý chí, khát vọng vươn tới của con người.
- Yếu tố thứ hai tương phản với yếu tố thứ nhất, biểu lộ sự giễu cợt, mai mỉa và mất niềm tin vào cuộc sống.
Sau đó là sự phát triển từ hai yếu tố này. Đường nét giai điệu phát triển và từ từ được đẩy lên một cao trào chuẩn bị cho các bước phát triển tiếp theo.
II: Chủ đề phụ thứ nhất: Tạo sự tương phản với chủ đề chính trước hết ở điệu tính - mang giọng Trưởng D Majeur là giọng song song của chủ đề chính. Bề dày của hợp âm đệm được bổ trợ bởi sắc thái mạnh và loại nhịp phân ba, tạo nên tính trang trọng uy nghiêm, tượng trưng cho quyết tâm vươn tới lý tưởng cao đẹp của nhân vật.
Hạt nhân của chủ đề được phát triển bằng phương pháp mô tiến, âm hình tiết tấu được đặc biệt nhấn mạnh đi lên dần, kết thúc sự trình bày chủ đề phụ.
Đến đây xuất hiện lại chất liệu của chủ đề chính với âm sắc mới mẻ, không còn rắn rỏi mạnh mẽ như trước mà trở nên mềm mại trữ tình, gần gũi với tính chất của chủ đề phụ.

III. Chủ đề phụ thứ hai: được xây dựng trên cơ sở tiết tấu và tính chất của chủ đề phụ thứ nhất, nhưng biểu hiện sự êm ả trữ tình hơn. Bước đi đều đặn ít chuyển động của giai điệu và bè đệm với tiết tấu chùm 3 hợp âm được rải ra trong âm vực rộng tạo nên tính chất mềm mại, thể hiện hình tượng cô gái xinh đẹp dịu dàng Margarita. Rồi một lần nữa chất liệu của chủ đề chính xuất hiện ở bè trầm, nhưng bị ảnh hưởng bởi chủ đề phụ thứ hai, nó không còn mạnh mẽ kịch tính mà trở nên nhẹ nhàng, linh hoạt. Những ý chí khát vọng của nhân vật đã bị mờ nhạt trong tình yêu.
Ngay sau đó, chủ đề phụ thứ hai lại nổi lên mạnh mẽ như khẳng định điều này.

C - PHẦN PHÁT TRIỂN: có quy mô lớn và chức năng phức tạp. Có thể chia phần này làm hai giai đoạn phát triển.
I. Giai đoạn thứ nhất: xây dựng trên cơ sở biến đổi những chủ đề tương phản đã giới thiệu trong phần trình bày.
Đầu tiên là yếu tố thứ nhất của chủ đề chính với sắc thái mạnh và hợp âm dày nốt, thể hiện quyết tâm tranh đấu của nhân vật để đạt được lý tưởng. Nhưng trong sự phát triển sau đó, chủ đề chính mất dần tính mạnh mẽ sôi sục biểu hiện ở sự giảm dần cường độ, nét kịch tính đã mất đi, âm nhạc trở nên mềm mại nhẹ nhàng hơn với đương nét giai điệu ẩn giữa tiết tấu linh hoạt của bè cao, bè đệm dàn trải ở sắc thái nhỏ.
Sau đó, chủ đề phụ thứ hai (chủ đề tình yêu) xuất hiện với sắc thái nhỏ, như một niềm an ủi nhẹ nhàng. Về sau, âm hình tiết tấu của hạt nhân chủ đề được lặp lại nhiều lần với cường độ tăng dần và cao độ cũng chuyển dần lên âm khu trên, rồi chỉ âm hình tiết tấu của chủ đề được nhấn mạnh, đẩy giai điệu lên cao trào thể hiện niềm an ủi ngày càng lớn, lấn át cả nỗi thất vọng.
Trong quá trình phát triển về sau, chủ đề chính cũng được nhắc lại theo xu hướng giảm dần kịch tích và tăng cường tính chất trữ tình mềm mại bởi các chủ đề phụ. Nhân vật đã mất dần lòng tin vào sức mạnh bản thân và chìm đắm trong những suy nghĩ yếu mềm.

Giai đoạn thứ hai: mở đầu bằng đường nét giai điệu trữ tình sâu lắng, mềm mại với tiết tấu đều đặn tiến hành liền bậc như muốn diễn tả một nỗi hoài niệm quá khứ xa xôi để trốn chạy thực tế trong chốc lát. Đây là chủ đề mới ở phần phát triển, mang tính sử thi trữ tình, nhịp độ chậm (Andante sostenuto).
Một lần nữa lại nổi lên âm hưởng các chủ đề từ phần trình bày, theo trình tự chủ đề phụ thứ hai - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề chính. Ban đầu còn gần gũi về tính chất với chủ đề mới của phần phát triển, về sau tăng dần kịch tính dẫn đến đỉnh điểm. Sau đó, một lần nữa đường nét giai điệu của chủ đề mới lại xuất hiện. Với cao độ được nâng lên một quãng 8 và bè đệm dàn trải càng làm chủ đề trở nên trữ tình sâu sắc: Nhân vật của tác phẩm muốn trốn chạy thực tại cuộc sống và ẩn mình vào những suy nghĩ trừu tượng.

D - PHẦN TÁI HIỆN: nhắc lại các chủ đề từ phần trình bày theo trình tự: chủ đề chính - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề phụ thứ hai. Ở đây, tính chất của các chủ đề không được giữ nguyên mà thể hiện những hình tượng âm nhạc mới mẻ. Có thể nói, đây là phần tái hiện có biến dạng.
Đầu tiên, nét giai điệu mở đầu vẫn với tính chất trang nghiêm ảm đạm, chỉ có điệu tính là thay đổi (Fa# minor) so với phần mở đầu của tác phẩm (G minor). Sau đó, chủ đề chính được tái hiện ở giọng B minor với hai yếu tố chính đã được lược bớt, chỉ còn riêng bè tay trái diễn tấu.
Chủ đề chính ở phần tái hiện không còn thể hiện nỗi khát vọng và ý chí vươn tới lý tưởng, mà là tâm trạng do dự thất vọng của nhân vật, biểu hiện qua những hình tượng kỳ ảo mang tính châm biếm ảm đạm được tạo nên bởi sự phát triển chủ đề với những thủ pháp mang tính phức điệu, được nhận biết ở sự đối vị trong từng đường nét giai điệu, cách xé lẻ chất liệu mô tiến đi lên ở cả hai bè và thủ pháp phản gương chủ đề.
Chủ đề phụ thứ nhất được nhắc lại ở giọng B Major với nguyên vẹn đường nét giai điệu như ở phần trình bày, nhưng các hợp âm dày bè ở phần đệm chỉ còn là những hợp âm rải trong âm vực rộng. Với sắc thái mạnh, chủ đề phụ thứ nhất đã phần nào mất đi sự uy nghiêm trang trọng ban đầu, như muốn diễn tả nỗi thất vọng của nhân vật với lý tưởng mình đã theo đuổi.
Chủ đề phụ thứ hai được nhắc lại ở cùng điệu tính với chủ đề phụ thứ nhất. Nó vẫn mang những đường nét dịu dàng và chất trữ tình sâu lắng.

E - CODA: Phần kết của tác phẩm đã thâu tóm những đường nét của các chủ đề trong sự thống nhất về điệu tính và diễn giải chúng ở một nhịp độ mới, nhanh sôi nổi (Presto)
Đầu tiên, vang lên nét nhạc mở đầu ở một âm khu khá cao. Sau đó chủ đề chính (yếu tố thứ nhất) xuất hiện lại với những đường nét cơ bản của cách tiến hành giai điệu. Âm hình tiết tấu đặc trưng ban đầu đã mất đi: những khát vọng ý chí của nhân vật đã mờ nhạt và để sự chán nản buông xuôi lấn át.
Ngay sau đó, chủ đề phụ thứ nhất lại vang lên mạnh mẽ như một lời khuyến khích cuối cùng, nhưng đường nét chủ đề mờ nhạt dần bởi sự giảm dần cường độ và âm hình tiết tấu cũng bị xoá nhoà http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_dissapprove.gif
Xuất hiện chủ đề trữ tình, chậm rãi - chủ đề mới của phần phát triển, với tính sử thi ban đầu. Nhân vật muốn quên đi những vật lộn đấu tranh của đời thường và tìm quên trong hồi tưởng. Lòng tin của nhân vật về những lý tưởng cao cả không còn nữa (xuất hiện đường nét rất mờ nhạt của chủ đề chính) và chịu khuất phục trước Định Mệnh.
Tác phẩm khép lại bằng chủ đề định mệnh trang nghiêm ảm đạm (chủ đề mở đầu) với sắc thái ngày càng nhỏ và dần tắt.

Một vài nhận xét:
Sonate N.2 giọng B minor của Ferenc Liszt được viết ở hình thức sonate 1 chương nhưng đã thâu tóm được những đặc điểm của cả 4 chương trong liên khúc sonate cổ điển ở từng phần tương đối độc lập: Phần trình bày mang đặc điểm của chương I ở nhịp độ nhanh và sự trình bày, phát triển các chủ đề trong mối tương quan về điệu tính. Trong phần phát triển, ngoài việc mở rộng các chủ đề đã gặp ở phần trình bày, chúng ta còn nhận thấy một chủ đề mới với nhịp độ chậm mang tính sử thi trữ tình, giống với đặc điểm của chương II. Phần tái hiện đã nhắc lại các chủ đề ở phần trình bày với tính chất và hình tượng âm nhạc mới mẻ, tiết tấu linh hoạt dễ làm chúng ta liên tưởng tới chương III (Scherzo). Coda là sự tổng hợp các đường nét và hình tượng chính trong tác phẩm, nhịp độ nhanh sôi nổi giống với chương kết trong liên khúc sonate.
Về mối quan hệ giữa hình thức với nội dung hình tượng của tác phẩm: Trong mỗi phần của tác phẩm đã diễn tả sâu sắc về thế giới tình cảm nội tâm phong phú của con người. Nhân vật của tác phẩm luôn khát khao đi tìm lý tưởng, nhưng vẫn chưa thật sự tin vào sự cao cả của mục đích và những vẻ đẹp tinh thần (phần trình bày). Những đấu tranh đời thường và những đấu tranh trong tâm tưởng, những ý chí vươn lên mạnh mẽ đã bị đè bẹp bởi những trở ngại không thể vượt qua (phần phát triển). Nhân vật đã mất đi lòng tin vào sự tồn tại những điều tốt đẹp và hoài nghi về sức mạnh bản thân (phần tái hiện) dẫn đến sự buông xuôi phó mặc cho sự xoay vần của số phận (Coda)
Như vậy, hình thức sonate 1 chương là sự sáng tạo của Liszt. Sự sáng tạo đó là phù hợp với mục đích để thể hiện những nội dung âm nhạc mang tính thời đại lúc bấy giờ và có lẽ là tâm tư của bản thân tác giả. Liszt đã rất thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn nội dung và hình thức của tác phẩm âm nhạc, và sonate một chương không còn là thể nghiệm của riêng ông, mà thể loại này đã được nhiều nhạc sĩ ứng dụng để thể hiện tư tưởng và những nội dung hình tượng của mình.
____________________________________
Bài viết của Fleur-de-Lys (http://www.nhaccodien.info/forum/member.php?u=72)

elena141990
31-03-2010, 17:26
link hư rồi kìa bạn.

Apomethe
20-09-2010, 17:04
Liszt là người sáng tạo ra thể loại sonate 1 chương. Nghĩa là trong một tác phẩm chứa đựng những đường nét điển hình của 4 chương trong liên khúc sonate giao hưởng. Sonate số 2 B minor là một thí dụ về thể loại này. Qua phân tích, chúng ta có thể thấy đặc điểm của từng chương trong sonate cổ điển được thể hiện ở từng phần của tác phẩm.

Tác phẩm có cấu trúc chung như sau:

Phần mở đầu - Phần trình bày - Phần phát triển - Phần tái hiện - Coda(kết)


A - PHẦN MỞ ĐẦU có âm hưởng trang nghiêm như một lời báo trước, chuẩn bị cho sự xuất hiện của chủ đề chính. Nhịp độ chậm, thủ pháp diễn tấu đồng nhất về tiết tấu ở cả hai bè, hướng chuyển động đi xuống liền bậc ở âm khu trầm với loại nhịp phân 2. Phần mở đầu không viết ở giọng chủ B minor mà viết ở giọng bậc IV G minor.

B - PHẦN TRÌNH BÀY mang những đặc điểm như chương I ở liên khúc sonate bởi: tốc độ nhanh (allegre energico); sự trình bày các chủ đề tương phản trong mối tương quan về điệu tính và chất liệu, bao gồm:

Chủ đề chính - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề phụ thứ hai.

I. Chủ đề chính: gồm 2 yếu tố tương phản. Ngắn ngủi và cô đọng, nhưng hai yếu tố này mang ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển sau này của tác phẩm. Những đường nét cơ bản của giai điệu cũng như những âm hình tiết tấu chính đều được giới thiệu thông qua hai yếu tố này.
- Yếu tố thứ nhất mang tính mạnh mẽ, rắn rỏi thể hiện ý chí, khát vọng vươn tới của con người.
- Yếu tố thứ hai tương phản với yếu tố thứ nhất, biểu lộ sự giễu cợt, mai mỉa và mất niềm tin vào cuộc sống.

Sau đó là sự phát triển từ hai yếu tố này. Đường nét giai điệu phát triển và từ từ được đẩy lên một cao trào chuẩn bị cho các bước phát triển tiếp theo.

II: Chủ đề phụ thứ nhất: Tạo sự tương phản với chủ đề chính trước hết ở điệu tính - mang giọng Trưởng D Majeur là giọng song song của chủ đề chính. Bề dày của hợp âm đệm được bổ trợ bởi sắc thái mạnh và loại nhịp phân ba, tạo nên tính trang trọng uy nghiêm, tượng trưng cho quyết tâm vươn tới lý tưởng cao đẹp của nhân vật.

Hạt nhân của chủ đề được phát triển bằng phương pháp mô tiến, âm hình tiết tấu được đặc biệt nhấn mạnh đi lên dần, kết thúc sự trình bày chủ đề phụ.
Đến đây xuất hiện lại chất liệu của chủ đề chính với âm sắc mới mẻ, không còn rắn rỏi mạnh mẽ như trước mà trở nên mềm mại trữ tình, gần gũi với tính chất của chủ đề phụ.


III. Chủ đề phụ thứ hai:/b] được xây dựng trên cơ sở tiết tấu và tính chất của chủ đề phụ thứ nhất, nhưng biểu hiện sự êm ả trữ tình hơn. Bước đi đều đặn ít chuyển động của giai điệu và bè đệm với tiết tấu chùm 3 hợp âm được rải ra trong âm vực rộng tạo nên tính chất mềm mại, thể hiện hình tượng cô gái xinh đẹp dịu dàng Margarita. Rồi một lần nữa chất liệu của chủ đề chính xuất hiện ở bè trầm, nhưng bị ảnh hưởng bởi chủ đề phụ thứ hai, nó không còn mạnh mẽ kịch tính mà trở nên nhẹ nhàng, linh hoạt. Những ý chí khát vọng của nhân vật đã bị mờ nhạt trong tình yêu.
Ngay sau đó, chủ đề phụ thứ hai lại nổi lên mạnh mẽ như khẳng định điều này.


C - PHẦN PHÁT TRIỂN: có quy mô lớn và chức năng phức tạp. Có thể chia phần này làm hai giai đoạn phát triển.

I. Giai đoạn thứ nhất: xây dựng trên cơ sở biến đổi những chủ đề tương phản đã giới thiệu trong phần trình bày.

Đầu tiên là yếu tố thứ nhất của chủ đề chính với sắc thái mạnh và hợp âm dày nốt, thể hiện quyết tâm tranh đấu của nhân vật để đạt được lý tưởng. Nhưng trong sự phát triển sau đó, chủ đề chính mất dần tính mạnh mẽ sôi sục biểu hiện ở sự giảm dần cường độ, nét kịch tính đã mất đi, âm nhạc trở nên mềm mại nhẹ nhàng hơn với đương nét giai điệu ẩn giữa tiết tấu linh hoạt của bè cao, bè đệm dàn trải ở sắc thái nhỏ.

Sau đó, chủ đề phụ thứ hai (chủ đề tình yêu) xuất hiện với sắc thái nhỏ, như một niềm an ủi nhẹ nhàng. Về sau, âm hình tiết tấu của hạt nhân chủ đề được lặp lại nhiều lần với cường độ tăng dần và cao độ cũng chuyển dần lên âm khu trên, rồi chỉ âm hình tiết tấu của chủ đề được nhấn mạnh, đẩy giai điệu lên cao trào thể hiện niềm an ủi ngày càng lớn, lấn át cả nỗi thất vọng.
Trong quá trình phát triển về sau, chủ đề chính cũng được nhắc lại theo xu hướng giảm dần kịch tích và tăng cường tính chất trữ tình mềm mại bởi các chủ đề phụ. Nhân vật đã mất dần lòng tin vào sức mạnh bản thân và chìm đắm trong những suy nghĩ yếu mềm.


Giai đoạn thứ hai: mở đầu bằng đường nét giai điệu trữ tình sâu lắng, mềm mại với tiết tấu đều đặn tiến hành liền bậc như muốn diễn tả một nỗi hoài niệm quá khứ xa xôi để trốn chạy thực tế trong chốc lát. Đây là chủ đề mới ở phần phát triển, mang tính sử thi trữ tình, nhịp độ chậm (Andante sostenuto).

Một lần nữa lại nổi lên âm hưởng các chủ đề từ phần trình bày, theo trình tự chủ đề phụ thứ hai - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề chính. Ban đầu còn gần gũi về tính chất với chủ đề mới của phần phát triển, về sau tăng dần kịch tính dẫn đến đỉnh điểm. Sau đó, một lần nữa đường nét giai điệu của chủ đề mới lại xuất hiện. Với cao độ được nâng lên một quãng 8 và bè đệm dàn trải càng làm chủ đề trở nên trữ tình sâu sắc: Nhân vật của tác phẩm muốn trốn chạy thực tại cuộc sống và ẩn mình vào những suy nghĩ trừu tượng.


D - PHẦN TÁI HIỆN: nhắc lại các chủ đề từ phần trình bày theo trình tự: chủ đề chính - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề phụ thứ hai. Ở đây, tính chất của các chủ đề không được giữ nguyên mà thể hiện những hình tượng âm nhạc mới mẻ. Có thể nói, đây là phần tái hiện có biến dạng.

Đầu tiên, nét giai điệu mở đầu vẫn với tính chất trang nghiêm ảm đạm, chỉ có điệu tính là thay đổi (Fa# minor) so với phần mở đầu của tác phẩm (G minor). Sau đó, chủ đề chính được tái hiện ở giọng B minor với hai yếu tố chính đã được lược bớt, chỉ còn riêng bè tay trái diễn tấu.

Chủ đề chính ở phần tái hiện không còn thể hiện nỗi khát vọng và ý chí vươn tới lý tưởng, mà là tâm trạng do dự thất vọng của nhân vật, biểu hiện qua những hình tượng kỳ ảo mang tính châm biếm ảm đạm được tạo nên bởi sự phát triển chủ đề với những thủ pháp mang tính phức điệu, được nhận biết ở sự đối vị trong từng đường nét giai điệu, cách xé lẻ chất liệu mô tiến đi lên ở cả hai bè và thủ pháp phản gương chủ đề.

Chủ đề phụ thứ nhất được nhắc lại ở giọng B Major với nguyên vẹn đường nét giai điệu như ở phần trình bày, nhưng các hợp âm dày bè ở phần đệm chỉ còn là những hợp âm rải trong âm vực rộng. Với sắc thái mạnh, chủ đề phụ thứ nhất đã phần nào mất đi sự uy nghiêm trang trọng ban đầu, như muốn diễn tả nỗi thất vọng của nhân vật với lý tưởng mình đã theo đuổi.

Chủ đề phụ thứ hai được nhắc lại ở cùng điệu tính với chủ đề phụ thứ nhất. Nó vẫn mang những đường nét dịu dàng và chất trữ tình sâu lắng.


E - CODA: Phần kết của tác phẩm đã thâu tóm những đường nét của các chủ đề trong sự thống nhất về điệu tính và diễn giải chúng ở một nhịp độ mới, nhanh sôi nổi (Presto)
Đầu tiên, vang lên nét nhạc mở đầu ở một âm khu khá cao. Sau đó chủ đề chính (yếu tố thứ nhất) xuất hiện lại với những đường nét cơ bản của cách tiến hành giai điệu. Âm hình tiết tấu đặc trưng ban đầu đã mất đi: những khát vọng ý chí của nhân vật đã mờ nhạt và để sự chán nản buông xuôi lấn át.
Ngay sau đó, chủ đề phụ thứ nhất lại vang lên mạnh mẽ như một lời khuyến khích cuối cùng, nhưng đường nét chủ đề mờ nhạt dần bởi sự giảm dần cường độ và âm hình tiết tấu cũng bị xoá nhoà http://ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_dissapprove.gif
Xuất hiện chủ đề trữ tình, chậm rãi - chủ đề mới của phần phát triển, với tính sử thi ban đầu. Nhân vật muốn quên đi những vật lộn đấu tranh của đời thường và tìm quên trong hồi tưởng. Lòng tin của nhân vật về những lý tưởng cao cả không còn nữa (xuất hiện đường nét rất mờ nhạt của chủ đề chính) và chịu khuất phục trước Định Mệnh.
Tác phẩm khép lại bằng chủ đề định mệnh trang nghiêm ảm đạm (chủ đề mở đầu) với sắc thái ngày càng nhỏ và dần tắt.[/SIZE].

Apomethe
20-09-2010, 17:05
1 vài điều về sonate si thứ Liszt:
Đây là 1 sonate có hình thức rất đặc biệt , tổng hợp 5 loại hình thức trong 1 tác phẩm:
- Sonate allegro
- Liên khúc sonate 3 chương
- Hình thức liên khúc giao hưởng 4 chương
- 3 đoạn phức
- Rondo.
Sonate này mang hình thức hỗn hợp vì Liszt sử dụng kỹ thuật biến ảo các hình tượng chủ đề trong sáng tác.
- Để cho dễ hiểu mình chỉ giới thiệu nó ở hình thức sonate allegro, & nói về hình tượng ÂN ( bỏ qua HÂ , điệu thức )
- Phần mở đầu Lento assai : Chủ đề về số phận.
Nếu xem sonate ở hình thức rondo thì chủ đề số phận chính là tema refren.
- Chủ đề chính : Gồm 2 phần tương phản.
Phần đầu mạnh mẽ đầy nghị lực.
Phần sau dưới bè bass, mang tính diễu cợt , mỉa mai.
Hai phần này khắc họa 2 tính cách : Faust - Mephisto.
-Chủ đề phụ : Cũng có 2 chủ đề.
Chủ đề 1 trang nghiêm, hòa âm dày , như 1 bài hát hợp xướng lớn.
Chủ đề 2 trữ tình , là chủ đề tình yêu trong sonate (hình tượng Magrarita (Grethen)
- Phần kết Incalzando : Hành khúc nhanh, mạnh.
....
Ở phần phát triển có 1 episode dài, trữ tình.
-Trong sonate chỉ có bấy nhiêu chủ đề - hình tượng. Nếu có 1 trí tưởng tượng phong phú thì ta sẽ nghĩ ra được 1 câu truyện theo bài, nhưng sẽ khác với nguyên bản truyện gốc. ( Chỉ giống về tính cách các nhân vật)
Nhưng mà đây là sonate không có nội dung. Chỉ có các hình tượng trung tâm.
-Chủ đề số phận mang tính triết lý, câu hỏi về cuộc sống, về vận mệnh con người.
-Kết thúc sonate hợp âm cao, điệu trưởng, là ánh sáng & là câu trả lời cho mọi câu hỏi, mọi suy tư.
Hợp âm si trưởng trong sáng : Hợp âm của tâm hồn.

Sonate si thứ nếu xem từng đoạn thì kỹ thuật không khó. Nhưng khi đánh nguyên thành một khối thống nhất thì phải cần tư duy kĩ thuật cao. Còn Fantasia sonate đọc Dante thì ngược lại..

Apomethe
20-09-2010, 17:06
ở đoạn fugato chuẩn bị tái hiện chủ đề faust lại mang tính cách của mephisto(lố bịch, giễu cợt, không ổn định). Suy ra: Làm con người dù mạnh mẽ, cương trực đến đâu , nhưng có lúc cũng phải theo quỉ.
-liszt viết sonate này đã bị sai một lỗi : đoạn chen ở phần tái hiện viết giống ở phần trình bày , ở giọng si thứ. Hình thức sonate cấm viết như thế.nhưng kô sao, vì gạo đã thành cơm rồi :).

Apomethe
27-09-2010, 10:27
Một vài nhận xét:

Sonate N.2 giọng B minor của Ferenc Liszt được viết ở hình thức sonate 1 chương nhưng đã thâu tóm được những đặc điểm của cả 4 chương trong liên khúc sonate cổ điển ở từng phần tương đối độc lập: Phần trình bày mang đặc điểm của chương I ở nhịp độ nhanh và sự trình bày, phát triển các chủ đề trong mối tương quan về điệu tính. Trong phần phát triển, ngoài việc mở rộng các chủ đề đã gặp ở phần trình bày, chúng ta còn nhận thấy một chủ đề mới với nhịp độ chậm mang tính sử thi trữ tình, giống với đặc điểm của chương II. Phần tái hiện đã nhắc lại các chủ đề ở phần trình bày với tính chất và hình tượng âm nhạc mới mẻ, tiết tấu linh hoạt dễ làm chúng ta liên tưởng tới chương III (Scherzo). Coda là sự tổng hợp các đường nét và hình tượng chính trong tác phẩm, nhịp độ nhanh sôi nổi giống với chương kết trong liên khúc sonate.

Về mối quan hệ giữa hình thức với nội dung hình tượng của tác phẩm: Trong mỗi phần của tác phẩm đã diễn tả sâu sắc về thế giới tình cảm nội tâm phong phú của con người. Nhân vật của tác phẩm luôn khát khao đi tìm lý tưởng, nhưng vẫn chưa thật sự tin vào sự cao cả của mục đích và những vẻ đẹp tinh thần (phần trình bày). Những đấu tranh đời thường và những đấu tranh trong tâm tưởng, những ý chí vươn lên mạnh mẽ đã bị đè bẹp bởi những trở ngại không thể vượt qua (phần phát triển). Nhân vật đã mất đi lòng tin vào sự tồn tại những điều tốt đẹp và hoài nghi về sức mạnh bản thân (phần tái hiện) dẫn đến sự buông xuôi phó mặc cho sự xoay vần của số phận (Coda)

Như vậy, hình thức sonate 1 chương là sự sáng tạo của Liszt. Sự sáng tạo đó là phù hợp với mục đích để thể hiện những nội dung âm nhạc mang tính thời đại lúc bấy giờ và có lẽ là tâm tư của bản thân tác giả. Liszt đã rất thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn nội dung và hình thức của tác phẩm âm nhạc, và sonate một chương không còn là thể nghiệm của riêng ông, mà thể loại này đã được nhiều nhạc sĩ ứng dụng để thể hiện tư tưởng và những nội dung hình tượng của mình..

Admin
27-09-2010, 18:09
Apo xem lại chủ đề này đi nhé. Chị vừa merge vào đấy.