Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27

Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vB_XML_Parser has a deprecated constructor in ..../includes/class_xml.php on line 52

Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vB_XML_Builder has a deprecated constructor in ..../includes/class_xml.php on line 689
Giao hưởng số 4 của Brahms- cách thể hiện ? Cổ điển hay lãng mạn [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Giao hưởng số 4 của Brahms- cách thể hiện ? Cổ điển hay lãng mạn



trung224
11-03-2012, 16:57
Giao hưởng số 4 của Brahms được viết vào cỡ năm 1885, khi Brahms 52 tuổi, và sau đó, dù sống hơn 12 năm nữa, Brahms không hề có ý định viết thêm một bản giao hưởng nào khác. Có lẽ từ thời điểm đó, Brahms đã cảm thấy giới hạn cuộc đời mình. Và cũng thật đặc biệt, năm 1897, khi thành Vienna tổ chức buổi hòa nhạc mừng sinh nhật lần thứ 64 của Brahms, bản giao hưởng số 4 được chọn để biểu diễn, và theo như lời đồn, Brahms (dù chịu đau đớn vì căn bênh ung thư và rất yếu) đã khóc khi kết thúc. Chỉ hơn 1 tháng sau, Brahms đã qua đời. Bản giao hưởng này chính là bản giao hưởng cuối cùng mà Brahms được nghe.

Giao hưởng số 4 của Brahms có lẽ là một trong số ít những bản giao hưởng hoàn thiện nhất, cả về mặt cảm xúc và kĩ thuật. Chủ đề mở đầu của bản giao hưởng này có vẻ như là sự nối tiếp của sự kết thúc lãnh đạm trong giao hưởng số 3 viết trước đó không lâu, mở đầu là một giai điệu đẹp nhưng đượm buồn, hơi vô vọng. Nhưng trái ngược với sự kìm nén cảm xúc như trong giao hưởng số 3, khi tất cả những xung đột chỉ đến rồi chợt đi như làn gió, cảm xúc trong giao hưởng số 4 mạnh mẽ hơn, xung đột nội tâm dữ dội hơn rất nhiều. Ấn tượng nhất là Brahms đã kết thúc chương 1 bằng 1 đoạn coda đầy hào hùng, muốn vượt qua nỗi buồn không tên của chủ đề 1, nhưng lại kết thúc trong vô vọng bằng 5 tiếng timpani, theo quan điểm của tôi gợi lại motif „định mệnh gõ cửa“ của Beethoven.

Chương 2 Andante Giodoso là chương nhạc đẹp tràn đầy tình yêu, tươi sáng không nhuốm màu u ám, tương tự như chương andante của giao hưởng số 3, và cũng là bước đệm tuyệt hảo cho chương 3, một chương allegro mang phong cách của Beethoven, tươi vui, đầy hy vọng vào ngày mai.

Chương 4, chương nhạc đã biến bản giao hưởng số 4 của Brahms thành bất tử. Thứ nhất là về mặt kết cấu, Brahms đã phá vỡ cấu trúc khi không dùng thể sonata quen thuộc, nhưng ông cũng không hắn là người cấp tiến khi sử dụng một thể thức cũ của thời kì Baroque „passacaglia“. Brahms là một người hoài cổ, và cực kì hâm mộ Chaconne trong Partita No.2 giọng rê thứ của Bach bởi cảm xúc tột độ trong nỗi đau vô hình của nó. Brahms đã có ý định viết 1 khúc nhạc nhỏ hơn, nhưng trên thực tế lại phức tạp hơn với 8 khuông nhịp thay vì 4 như trong Chaconne của Bach. Chương nhạc này có chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Cantata No.150 của Bach, tuy nhiên về mặt kĩ thuật lại chịu ảnh hưởng của Buxtehude, nhà soạn nhạc organ nổi tiếng thời kì đầu baroque về cách phát triển hòa âm 8 nốt, nếu các bạn đã nghe Chaconne giọng Mi thứ của Buxtehude, bạn sẽ thấy sự tương đồng rõ rệt, cùng giọng Mi thứ, về cách phát triển và đối vị. Về mặt kĩ thuật, có thể thấy sự ảnh hưởng của tư tưởng cũ trong giao hưởng số 4, nhưng Brahms, theo quan điểm của Schoneberg và tôi cũng đồng ý, có những ý tưởng phá cách. Cách kết thúc giao hưởng số 4 tạo cảm giác hỗn loạn cảm xúc không phải là đặc điểm của thời classical, nơi mà kết thúc giao hưởng thường là tươi vui hoặc chiến thắng (kiểu Beethoven). Schoenberg cho rằng đó là mở đầu của ngôn ngữ 12 âm, còn bản thân tôi thấy kiểu kết thúc hỗn loạn đó cũng gần tương tự tác phẩm Ein Heldenleben (cuộc sống anh hùng) của Richard Strauss, nhạc sĩ hậu lãng mạn nổi tiếng sau này.

Cũng như Ein Heldenleben, một tác phẩm có đoạn kết được viết rất mạch lạc về nốt, nhưng lại đòi hỏi sự hỗn loạn khi thể hiên. Strauss từng phàn nàn Toscanini về việc Toscanini chỉ chơi đúng nốt mà không quan tâm đến khía cạnh hỗn loạn mà Strauss viết tác phẩm, Giao hưởng số 4 của Brahms là sự kết hợp của nhiều khía cạnh tâm lý của Brahsm, giữa tình yêu nồng cháy và cảm xúc bị kìm nén, giữa sự đau đớn điên loạn và sự lãnh đạm bàng quan, giữa cái cũ và cái mới . Chính vì điều đó nên cách thể hiện bản giao hưởng này cũng rất đa dạng trong suốt lịch sử.

Sau đây, tôi sẽ làm bản nghiên cứu nhỏ về cách thể hiện bản giao hưởng này. Để đối chiếu, các bạn có thể vào cuối của mỗi post để xem link

trung224
13-03-2012, 00:50
Phong cách chơi Brahms 4 có thể chia làm những hướng sau:
Về mặt cảm xúc: một hướng là hướng vào sự lãnh đạm trong bản giao hưởng, hướng thứ hai là làm nổi bật sự xung đột dữ dội của bản giao hưởng

Về mặt kĩ thuật: Vì giao hưởng cuả Brahms là sự phối hợp rất phức tạp và hoàn hảo của các nhóm nhạc cụ nên có hai trường phái : một là trường phái Đức-Áo, trường phái này thiên xử dụng dàn dây làm trục chính khi thể hiện, nên thường tạo cảm giác trầm sâu của cảm xúc. Nhóm thứ hai là nhóm Đông Âu-Nga, do truyền thống thích nhạc cụ hơi, họ cố gắng tìm sự cân bằng giữa các nhạc cụ, nên nếu nghe Brahms của nhóm này, ta sẽ thấy nhẹ nhàng hơn.
Tôi sẽ chỉ lướt qua những bản thu coi là tiêu biểu, tức là mang cá tính sâu sắc của người thể hiện

Đầu tiên là Felix Weingartner, nhạc trưởng chính của Vienna Phiharmonic thay Mahler từ năm 1908 đến năm 1927, là người tiêu biểu cho trường phái Vienna cổ điển khi chỉ huy Brahms, họ thể hiện Brahms theo phong cách classical, nhanh, tỉnh táo, ổn định, để âm nhạc của Brahms tự nói. Chuơng Andante chậm được chơi rất nhanh,trong khi chuơng Scherzo nhanh nhất trong lịch sử:P nhưng lại rất hợp lý, cộng thêm với tiếng đàn đẹp, thanh tao khiến người nghe cảm thấy nhẹ nhàng, thư giãn, tuy nhiên nếu nghe nhiều sẽ thấy đều đều, thiếu điểm nhấn
2830
Nhắc đến những nhạc trưởng quan trọng trong chỉ huy Brahms hồi đầu thế kỉ, không thể không nhắc đến William Mengelberg, nhạc truỏng chính của Royal Concertgebouw Orchestral trong gần 50 năm. Một trong nhũng nhạc trưởng có phong cách sáng tạo và gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử, chuyên gia sửa tổng phổ theo ý mình, người thậm chí đã nói với khán giả rằng, liệu khán giả có muốn nghe giao hưởng số 9 do Beethoven sáng tác của tôi hôm nay hay không8-} (nới ông chơi đoạn coda chiến thắng cuối cùng một cách chậm rãi và lãnh đạm và kết thúc một cách im lặng với các nốt legato nhỏ dần và chậm dần, hết như symphony số 3 của Brahms hay symphony số 6 của Tchaikovsky 8-X). Nhưng sự khác người đó không hề đến khi Mengelberg chỉ huy Brahms, tempo trung bình, chính xác, âm nhạc được chăm sóc kĩ đến từng chi tiết với dàn dây ngọt ngào của dàn Royal Concertgebouw, tuy vẫn có đôi chỗ chi tiết nhỏ được chinh sửa, nhưng vẫn gây cho người nghe cảm xúc lãnh đạm,cảm nhận vẻ đẹp của từng chủ đề giai điệu.
2827
Mengelberg và Weingartner là những nhạc trưởng tiêu biểu cho phong cách Brahms-lãnh đạm đầu thế kỉ, còn dù có nhiều mâu thuẫn về cách tiếp cận, Furtwängler và Toscanini là những đại biểu cho phong cách Brahms-mãnh mẽ, xung đột.

Toscanini là nhà sáng lập của trường phái chỉ huy hiện đại, tôn trọng tổng phổ nhưng phải thể hiện cảm xúc mạnh mẽ. Tempo mà Toscanini chọn tuơng đối giống với Weingartner, nhanh những thay cho phong cách tập trung cho dàn dây thể hiện sự tao nhã, trong sự chính xác tuyệt đối đến mức máy móc khi thể hiện và sự cân bằng một cách đáng ngạc nhiên của các bộ phận trong dàn nhạc, nhưng cảm xúc đựoc dâng trào nhất là ở chuơng ba và chuơng cuối, khi Toscanini thể hiện như mình đáng chơi giao hưởng của Beethoven. Tuy nhiên, chuơnh 2 Andante chơi quá nhanh, thiếu chất thơ khiến người nghe cảm thấy mình bản thu này thừa cơ bắp mà thiếu đi tình yêu. :-" Lối chỉ huy của Toscanini cũng là đường lối chỉ huy chung cuat nhiều nhạc trưởng trong thời kì này như Erich Kleiber, Karl Schuricht hay Bruno Walter (trong bản thu với New York Phiharmonic)
2828
Trong nhũng nhạc trưởng đưa cá tính của mình vào giao hưởng số 4 như Max Fiedler (người bạn vong niên của Brahms) hay Stokowski ( tôi sẽ bàn tới cách chỉ huy của ông này sau), Hermann Abendroth, không ai có thể gây được ấn tượng mạnh bằng Wilhelm Furtwängler. Furtwängler có lẽ là nhạc trưởng có sự gần gũi nhất với Brahms, hoài cổ trên cả hai phuơng diện sáng tác (không chịu ảnh hưởng của trường phái 12 âm hay jazz) lẫn chỉ huy (không bao giờ chấp nhận chơi chỉ đúng theo tổng phố). Trong bản thu Brahms với Berlin Phiharmonic vào hai năm 1943 và 1948(dù bản thu năm 1943 vượt lên bới cả sự dữ dôi trong cảm xúc và sức mạnh) Furtwängler đã thể hiện cho chúng ta như cảm thấy tất cả những cảm xúc được dồn nén trong bản giao hưởng. Bản thân tôi nghe Brahms của Furtwängler hơi muộn, sau khi nghe của cả Klemperer, Carlos Kleiber, Karajan , Bruno Walter, Toscanini, Bernstein,Szell, nhưng khi nghe bản thu của Furtwängler tôi bị sốc toàn tập B-). Ban không được nghe những giai điệu đẹp và thư giãn mà thay vào đó là chuyến đi đầy ám ảnh, tràn đầy cảm xúc dữ dội. Giai điệu mở đầu được chơi rất chậm (hệt như cách Furtwängler chơi Beethoven) , nhưng ngay từ đầu đã sự nặng nề, u ám được đẩy lên cao dần và kết thúc bằng đoạn coda nhanh đến điên loạn, rồi đột ngột giảm tốc trong năm tiếng timpani cuối cùng để tạo nên cảm xúc vô vọng. Chuơng 2 là chuơng chậm đúng phong cách Bruckner, chậm nhưng hơi nặng nề, hơi giống một khúc cầu hồn requiem. Chương 3 anh hùng và hy vọng, dù không thực sự tuơi vui và sức mạnh như Toscanini hay Carlos Kleiber chỉ huy. Tuy nhiên, chuơng cuối mới thật sự là siêu phẩm, khi Furtwängler đã biến nó thành chuơng nhạc đau đớn nhất, xung đột nhất, với những tiếng clarinet vô vọng, và đặc biệt là đoạn coda dữ dội như ngày tận thế và sự hủy diệt :x
2829
Nhạc trưởng cuối cùng trong những người thu môn mà tôi muốn bàn đến là Eugene Jochum. Jochum, giống như Karl Böhm, Gunter Wand, Rudolf Kempe hay sau này là Sawallisch, Masur là những người tiêu biểu của các nhạc trưởng Kapellmeister, nói cơ bản thì là họ là những nhạc trưởng rất mạnh về một hai nhạc sĩ, những lại quá thiếu cá tính, chấp nhận những cách chơi cổ điển, cũ kĩ mà không tìm ra những hướng đi cá nhân ở hầu hết các nhạc sĩ. Tuy nhiên, Jochum lại rất mạnh về Brahms và Bruckner. Bản thu Brahms cho DG thể hiện đặc trưng phong cách của Jochum, tempo rất linh động, nhiều chỗ phrasing rất lạ những hợp lý, về mặt tempo tương đối giống với Furtwängler nhưng jochum không xử dụng mạnh timpani và cũng không yêu cầu thay đổi tempo quá đột ngột, thành ra bản thu của Jochum rất nhẹ nhàng, uyển chuyển và tinh tế chứ không nặng nề, dữ dội. Âm thanh tuy mono nhưng rất tốt, dàn Berlin Phiharmonic chơi rất tốt, đẹp giúp người nghe thấy được cả hai khía cạnh classical và romantic của Brahms.
2831
Đây là link download của bốn bản thu http://www.mediafire.com/?u5o1zsd6uq06e

trung224
13-03-2012, 07:46
Cuộc du hành về giao hưởng số 4 của Brahms sẽ tiếp tục với những bản thu sau năm 1955

Otto Klemperer, sau khi bị tai biến mạch máu não, nổi bật với tempo chậm đến siêu chậm, nhưng tính kết cấu và sự hùng vị của phong cách chỉ huy không hề mất đi. Tuy nhiên, Klemperer chỉ huy Brahms lại không làm nổi bật tính hùng tráng mà nhấn mạnh vào tính kết cấu, từng chi tiết được làm rõ ràng, mạch lạc đáng ngạc nhiên. Bè gỗ được giữ cân bằng với bè violin được chia đôi 2 bên, cách phân nhịp và hòa âm rất kịch tính, với điểm nhấn chú ý là đoạn tăng tốc ở coda chương 1, chương 2,3 chơi khá cân bằng, chướng cuối mở đầu rất tuyệt vời, mạnh mẽ, hào hùng nhưng càng về cuối, cảm xúc càng trầm xuống, đoạn coda cuối cùng trở lại cảm xúc lãnh đạm. Một cách tiếp cận rất cá nhân nhưng cũng gây nhiều tranh cãi, tuy nhiên rất đáng nghe
2832

Thanh nhã, nhẹ nhàng, tình cảm, tôn vinh vẻ đẹp của bản thân âm nhạc chính là những từ ngữ tốt nhất dành cho cách chỉ huy giao hưởng số 4 của Brahms mà Bruno Walter thể hiện. So với thời trẻ, Bruno Walter đã chơi chậm lại, hướng thể hiện của ông gần giống như của Mengelberg, nhẹ nhàng ấm áp cả bản giao hưởng như một Lied, chương 2 đầy chất thơ, chương 3 tươi vui. Tuy nhiên, chương 4 chơi quá nhẹ nhàng, nhạy cảm, hơi thiếu sức bật nhưng tổng thể lại, nếu ai muốn nghe Brahms tình cảm thì đây là bản thu không thể bỏ qua
2833
" Power, Power, more Power. Beauty, Beauty, more Beauty"- tạm dịch là mãnh mẽ quyền lực, mãnh mẽ quyền lực hơn, đẹp, đẹp hơn. Đó chính là tiêu chí nghệ thuật cuả Herbert von Karajan. bản thu Brahms 4 vào năm 1964 (dù hai bản thu năm 1978 và năm 1988 cũng có cùng hướng đi tương tự) là tiêu biểu cho hướng đi của Karajan. Về mặt tempo, Karajan chọn tempo khá chậm, nhấn mạnh vào vẻ đẹp của từng giai điệu qua việc xử dụng dàn dây tuyệt vời của BPO. Nhưng khác với Mengelberg, hay Bruno Walter, vẻ đẹp của dàn dây không phải là sự ấm áp, tinh tế mà là vẻ đẹp của sự to lớn, hùng vĩ như âm thanh của nhà thờ lớn nhờ sự kết hợp với những đoạn cao trào hùng vĩ với những legato liên tục nối tiếp nhau . Cách tiếp cận này triệt tiêu hoàn toàn sự nồng cháy rất con người trong tác phẩm, thay vào đó là thế giới siêu hình bất tử kiểu Bruckner hay Richard Strauss. Một cách tiếp cận ấn tượng nhưng cũng gây nhiều tranh cãi
2834
Nếu phong cách Brahms kiểu Đức thuần túy khiến bạn cảm thấy nặng nề thì cách diễn giải Brahms kiểu Đông Âu sẽ khiến bạn được thư giãn. Đặc trưng phong cách kiểu Đông Âu là sự cân bằng giữa các nhạc cụ (chứ không chú trọng bộ dây và timpani như kiểu Đức-Áo). Trong các bản thu thì bản thu của nhạc trưởng Antal Dorati là đáng chú ý nhất. Tempo nhanh, nhưng cân bằng, không quá nặng nề, gần giống như cách mà Weingartner đã từng thể hiên, nhưng nhiều cảm xúc dự dội hơn, nhờ tốc độ và bộ đồng được khai thác tối đa.
2846

trung224
13-03-2012, 19:03
Như đã thấy, phong cách Brahms kiểu Vienne hầu như bị lãng quên trong suốt nhiều năm. Tuy nhiên, một phần phong cách đó được thể hiện trong cách diễn giải của Fritz Reiner. Fritz Reiner, nhạc trưởng chính của Chicago Symphony Orchestral, người nổi tiếng bởi sự chính xác trong cách thể hiện, nhưng lại rất kiềm chế (không phải kiểu bùng nổ như Toscanini) đã diễn giải tác phẩm như một rhapsody theo phong cách Đông Âu, hệt như kiểu Dvorak. Tempo nói chung nhanh, nhịp điệu gấp gáp, hơi căng thẳng nhưng không nặng nề. Chương 1 được chơi cực nhanh, về tốc độ có lẽ chỉ thua mỗi Toscanini, đầy hứng khởi. Chương 2 lại chơi khá chậm, đẹp. Chương 3 hoàn hảo về tempo. Chương 4 các bè được cân bằng rất rành mạch, với nhịp điệu khí thế và có lửa, nhưng luôn trong tầm kiểm soát. Một cách tiếp cận rất đáng chú ý, ấm áp, nhẹ nhàng, nhưng thiếu sức nặng và sự bùng nổ, ta hầu như không cảm thấy chất anh hùng và bi kịch ở đây, thay vào đó là cảm giác về điệu nhảy tươi vui
2835

Tiếp theo ta sẽ đến với một phong cách, thường bị chê khi tiếp cận Brahms, nhưng rất đáng chú ý. Đó là George Szell, nhạc trưởng của Cleveland Orchestral. Bản thu này tiêu biểu phong cách Szell, tempo trung bình, không thay đổi tempo nhấn mạnh vào sự rõ ràng mạch lạc của nhịp điệu và cấu trúc. Các bè được cân bằng tuyệt đối, bộ gỗ và bộ đồng phân nhịp và thể hiện chính xác đến từng chi tiết. Một cách tiếp cận học thuật một cách cực đoan, mất hoàn toàn cảm xúc.
2836
Chúng ta tiếp tục đến với Evgeny Mravinsky, nhạc trưởng xuất sắc nhất của các bạn Nga Xô. Nếu các bạn quen thuộc với phong cách bùng nổ, lãng mạn của Mravinsky trong các bản thu Tchaikovsky, bạn sẽ sốc khi thấy khi chỉ huy Brahms, Mravinsky lại thể hiện rất cổ điển, nhấn mạnh vào sự lãnh đạm trong bản giao hưởng. Tuy vây, bản thu của Mravinsky vẫn thể hiện một phong cách Soviet đặc sệt, tempo tuy trung bình (hơi giống với Bruno Walter), các bè cũng được cân bằng rõ ràng (đúng truyền thống biểu diễn Đông Âu), nhưng giai điệu bị kiểm soát quá máy móc, tất cả các nhạc cụ chơi quá gay gắt, không có chất thơ. Tuy vậy , ở những đoạn cao trào, chất kịch tính vẫn rõ ràng dù không thật bùng nổ
2837

Thập niên 70 bắt đầu đánh dấu thời kì mở đầu cho những bản thu Brahms siêu chậm. Nếu nói bản thu thành công nhất có lẽ là bản thu của Carlo Maria Giulini với Chicago Orchestral, một bản thu không để lại nhiều cá tính như bản thu với Vienna Phiharmonic sau này nhưng thuộc loại tốt cho cả hai phía. Tempo rất chậm, phân nhịp chuẩn. Âm thanh và cảm xúc rất sâu, nên thơ, chương cuối Giulini cũng như Karajan chọn phong cách biểu diễn như giao hưởng của Bruckner. Các variations được nối tiếp bằng legato liên tục tạo cảm giác như âm thanh nhà thờ,
2838
Chúng ta sẽ cùng đến với nhạc trưởng Stokowski, một người thuộc nhóm chuyên sửa tác phẩm và gây nhiều tranh cãi. Trong bản thu với RCA hay BBC legend, ta thấy rõ Brahms kiểu Stokowski, tempo nhanh nhưng có những đoạn chậm bất thường, gây khó chịu, nhiều năng lượng với những đoạn coda nhanh đến điên loạn (nhanh hơn cả Furtwangler) tuy nhiên, việc sử dụng hạn chế timpani đã khiến cách thể hiện này không thật sâu và thiếu sức nặng, thiếu chất bi kịch
2840
Trước năm 1980 cũng có rất nhiều bản thu Brahms khác được thu, tiêu biểu như Solti, Kertesz(Decca), Sawallish, Van Beinum (Phillips), Jochum thu lần 2 với LPO (EMI), Barbirolli (EMI), Bernstein , Ormandy (Sony), Sanderling (RCA) những tất cả các bản thu trên đều rơi vào "bẫy chất lượng trung bình". Tempo trung bình, phân nhịp và thể hiện không có gì đặc biệt, dàn nhạc chơi đẹp nhưng thiếu cá tính.

link tải các bản thu từ 1955-1980 http://www.mediafire.com/?taadh0rgpv8i6

trung224
13-03-2012, 20:07
Chúng ta tiếp tục với những cách tiếp cận sau năm 1980. Từ cuối thập niên 70, xu hướng chơi Brahms là ngày càng chậm dần. Dĩ nhiên, vẫn có những ngoại lệ, tiêu biểu là bản thu nổi tiếng của Carlos Kleiber. Thiên tài lập dị, đó là những gì có thể nói về con người này. Thật sự, Kleiber theo tôi là người gần với trường phái của Toscanini và Karajan chứ không gần với trường phái của Furtwängler. Trong bản thu của Kleiber, ta không thấy được sự đối lập lớn về tempo, những đoạn tăng tốc điên loạn hay chương andante kiểu Bruckner, đó không phải là sở trường của Kleiber. Điều làm bản thu của Kleiber đặc biệt đó là sự phân nhịp và làm chủ giai điệu và các bè hoàn hảo. Các bè được làm cân bằng mà không mang đến cảm giác học thuật khô khan kiểu Szell. Chương Andante chơi đầy chất thơ (loại bỏ điểm yếu chơi chương 2 khô cứng của Toscanini), chương Scherzo vui tươi, tràn đầy năng lượng, Đặc biết các đoạn cao trào tại chương 1 và chương 4 được chơi với sự dữ dội và mạnh mẽ, tràn đầy cảm xúc nặng nề và định mệnh (khắc phục được yếu tố gây tranh cãi của Klemperer)
2841
Các buổi biểu diễn của Bernstein vào cuối đời luôn gây ra nhiều tranh cãi. Khác xa với bản thu thiếu cá tính với New York Phiharmonic trước đó 20 năm, bản thu live tại Vienna cho thấy được phong cách của Bernstein những năm cuối đời, tất cả các phân nhịp và tempo vượt ngoài tầm kiểm soát, hoàn toàn để cảm xúc hỗn loạn chi phối , một kiểu Mahler hóa tác phẩm của Brahms (khác hẳn với sự xung đột kiểu triết học Beethoven hóa Brahms kiểu Furtwängler). Nhiều chi tiết vượt ngoài khuôn khổ thông thường, hơi thiếu cân bằng về âm thanh nhưng nhiều cảm xúc. VD như sự tuyệt vọng giận dữ trong cách mở đầu dữ dằn của chương 4, hay cách dàn dây chơi nặng nề đến bất thường trong chương andante. Gây nhiều tranh cãi từ khi ra mắt, bị các nhà phê bình chê ỏng eo (ngay cả nhà phê bình thân Bernstein nhất như David Hurwitz cũng chê) nhưng theo tôi, vẫn đáng nghe hơn rất nhiều những bản thu chơi ổn nhưng thiếu cá tính của Solti.
2842
Thập niên 80 cũng đánh dấu một phong cách chơi Brahms mới, phong cách Brahms chịu ảnh hưởng của tôn giáo, với đại biểu là Carlo Maria Giulini và Sergiu Celibidache. Trong thập niên 60, 70 hai người này đều chơi theo phong cách trung bình, nhưng khi về già, họ đã tìm ra hướng đi của mình. Đều là những tín đồ nhiệt thành (Giulini là con chiên ngoan đạo còn Celibidache là phật tử sùng đạo). Cả hai đều chọn tempo rất chậm (chậm nhất trong lịch sử) để diễn giải tác phẩm. Cả hai đều biến buổi diễn live của mình (Giulini với Vienna Phiharmonic, Celibidache với Munich Phiharmonic) thành một cuộc dạo chơi trên thiên đường, dàn nhạc chơi legato liên tục, chậm rãi, không quá chú trọng vào tính đối lập của tốc độ và sự xung đột, nhưng lại tạo nên cảm giác sâu sắc và mang đầy tính tôn giáo.
28432844
Trong những năm trở lại đây, thật sự những người chỉ huy Brahms cá tính hầu như đã qua đời (Kleiber, Giulini đều qua đời vào cỡ năm 2005), chúng ta không còn thấy xuất hiện nhiều bản thu Brahms hay nữa, khi mà Abbado, Levine, Barenboim hay lớp các nhạc trưởng trẻ đều thiếu sáng tạo khi đến với âm nhạc Brahms, thậm chí có những người như David Zimman (được lăng xê bởi các tạp chí của Mỹ) còn cổ xúy cho phong cách chỉ huy không diễn giải, để "âm nhạc tự nói lên vẻ đẹp của nó", trong những năm qua, bản thu duy nhất theo đường lối cổ điển mà tôi cảm thấy nghe được là Rattle (điều đáng ngạc nhiên vì Rattle vốn không được đánh giá cao trong việc biểu diễn các tác giả cổ điển và lãng mạn Đức-Áo). Tuy nhiên, bản thu này theo cảm nhận của tôi cũng gần như là sự làm lại trên âm thanh mới của cách tiếp cận tác phẩm của Bruno Walter, hay William Mengelberg, dàn nhạc chơi đẹp, cân bằng, tao nhã nhưng không để lại nhiều cảm xúc mạnh mẽ. Dẫu vậy, đây cũng là bản thu đáng nghe nhất là với những người yêu thích Brahms những không muốn nghe lại âm thanh cổ xưa
2845
Link tải bản thu sau năm 1980 http://www.mediafire.com/?8rk32pqx552bj

trung224
13-03-2012, 20:59
Cuối cùng tôi muốn nói đến trường phái diễn giải Brahms theo quan điểm HIP (historic instrument practice), nói nôm na là dùng những nhạc cụ thời Brahms, dùng cách chơi của thời đó (vibrato ít sử dụng), tiêu biểu cho trường phái này là Gardiner hay Hanoncourt. Về cơ bản, việc giảm số lượng dàn nhạc và sử dụng ít vibrato khiến cho cảm giác nghe như tác phẩm thính phòng với sự cân bằng của các nhạc cụ được làm rõ, việc chơi như thế này làm rõ nhiều chi tiết trong tổng phổ nhưng lại gây cảm giác thiếu chiều sâu, thiếu cảm xúc mà cũng chẳng tạo nên vẻ đẹp thư gian kiểu như Rattle (bản thu Brahms cũng thời) (theo quan điểm của tôi)
2847
Tổng kết lại: Nếu buộc tôi phải chọn hai bản thu giao hưởng số 4 của Brahms mang đến hoang đảo, thì đó chắc chắn là hai bản thu của Furtwängler và Carlos Kleiber. Còn nếu buộc phải chọn một bản thì Furtwängler là sự lựa chọn cuối cùng mang lại cho tôi tất cả những cảm xúc tôi mong muốn khi nghe bản giao hưởng này. Còn bạn, bạn yêu thích bản thu nào, do ai chỉ huy, hãy chọn và chia sẻ ở topic này :D

cobeo
14-03-2012, 21:57
Trên đây đã liệt kê hầu hết toàn bộ những bản thu âm giao hưởng số 4 của Brahms đáng nghe rồi. Trong số này có những bản thu âm khá thú vị như của Mravinsky hay Rattle. Thực ra nếu chia các bản thu âm ra 2 dòng chính thì có thể nói đơn giản là thể hiện bản giao hưởng này theo phong cách cổ điển hoặc phong cách lãng mạn. Brahms là người tôn sùng âm nhạc tuyệt đối trong suốt cuộc đời mình nên việc các nhạc trưởng nhìn bản giao hưởng 4 của ông theo góc độ này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Khá thú vị là Karajan lại chơi tác phẩm này với một sự mãnh liệt đầy khao khát mà lại hướng tới sự cổ điển, đến vẻ đẹp thuần túy của âm nhạc. Đúng như Trung nói, đó là sự triệt tiêu sự nồng cháy dù vẫn duy trì những đoạn legato đặc trưng. Bernstein thì hoàn toàn ngược lại. Với bản thu âm cùng Vienna Philharmonic năm 1981, ông hướng đến sự lãng mạn trong tác phẩm, với những cảm xúc cháy bỏng. Trong khi đó, Carlos Kleiber cũng với Vienna Philharmonic thu âm 1 năm trước đó lại đạt được sự cân bằng đáng kinh ngạc. Nồng nhiệt, thôi thúc ở chương 1, điềm đạm và dịu dàng ở chương 2, chương 3 đạt đến đỉnh cao về sự cân bằng và chương 4 mạnh mẽ nhưng cũng đầy lý trí. Kleiber để lại ít bản thu âm nhưng hầu hết đều là những bản để đời. Cu quần đùi dạo phố thì ngày trước kết nổ bát nổ đĩa bản của Celibidache cùng Sttugart Radio Symphony Orchestra và Giulini với Chicago Symphony Orchestra. Tôi cũng rất thích cách tiếp cận Brahms của Walter và Giulini
Thực ra còn tùy tâm trạng, nhiều lúc nghe kiểu đầy cảm xúc của Bernstein cũng thấy rạo rực dù nếu nhìn lại Brahms thì có vẻ đó không phải là cách tiếp cận mà Brahms mong muốn. Thử đoán mò một chút thì có lẽ Brahms mong muốn được nghe giao hưởng số 4 của mình do Kleiber chỉ huy chăng?

trung224
15-03-2012, 06:58
Em cũng có bản thu của Celibidache với dàn Stuttgart những e thấy bản thu đấy về tempo gần giống như bản thu của Furtwängler, có điều cũng gần như Jochum, đó là việc sử dụng timpani và kèn đồng không bốc đã khiến nó không đạt tới cảm xúc dữ dội. Dĩ nhiên, kiểu tiếp cận đó cũng như của Giulini với Chicago Symphony Orchestral rất cân bằng những theo e không thật sự cá tính, đặc biệt là so với chính những bản thu của Celibidache và Giulini sau này. Mà với e thì cá tính nhạc trưởng áp đặt lên tác phẩm quan trọng hơn là bản thân tác phẩm. Vì tác phẩm chỉ là bản nhạc chết trên giấy, còn biến nó thành sống, thành cảm xúc là chuyện của nhạc trưởng.
Về chuyện Brahms thích kiểu biểu diễn nào thì e có đọc tài liệu thì Brahms có vẻ thích kiểu cân bằng giữa các nhạc cụ nhưng phải tự nhiên không kiểm soát, kiểu Weingartner hay Bruno Walter, chứ không thích kiểu quá cơ bắp. Những nhạc trưởng nổi tiếng thời đấy như Walter Frisch (phong cách Furtwängler) bị chế là quá cảm xúc quá đà, còn Hans Richter bị chê là quá tệ, trong khi trình diễn cân bằng kiểu Steinbach lại được Brahms rất khen. Những chuyện Brahms thích kiểu gì là chuyện của Brahms, với e thì cảm xúc tuôn trào mới hay chứ thật sự kiểu nhẹ nhàng tình cảm không phải kiểu e yêu thích

quầnđùidạophố
21-05-2012, 16:48
Ấy, timpani trong bản thu của Celibidache với SWR Stuttgart là chuẩn nhất rồi, nhất là đoạn coda của chương 1, âm thanh của timpani được xử lý thế là rất thích hợp. Vấn đề đối với Brahms 4 không chỉ là chuyện tempo nhanh hay chậm, bởi vì mỗi tempo phải được gắn bó hài hòa và hợp lý với âm sắc. Nếu âm sắc mà không hợp với tempo thì sẽ dễ tạo cảm giác thất vọng và hụt hẫng khi nghe. Các bản thu quá cũ (trước 1955?) chỉ có thể cho ta biết về tempo, chứ còn không thể truyền tải được âm sắc với chất lượng cao, thành ra không có cách nào đánh giá hay dở được. Brahms 4 có hình thức hoàn hảo là cổ điển, nhưng nội dung lại cũng hoàn hảo không kém là lãng mạn. Cho nên việc xử lý hình thức của nó cần sự cân đối hoàn hảo cả về tempo lẫn cân bằng các bè trong dàn nhạc, đồng thời việc xử lý nội dung cần những tuôn chảy của cảm xúc qua cách hòa thanh, cách thay đổi âm lượng, và đặc biệt là sắc thái của từng bè nhạc cụ (ví dụ sự cộc cằn nghiệt ngã của timapani, hay sự yếu đuối tuyệt vọng của flute; hay lúc thì da diết, lúc thì tha thiết, lúc thì bão táp, lúc thì trầm tĩnh suy tưởng của bè dây...). Tóm lại xử lý tốt cả nội dung lẫn hình thức (trong khi nội dung không ăn nhập với hình thức), tức là vừa dung hòa vừa thúc đẩy 2 khía cạnh này sẽ cho kết quả tốt. Quan điểm cá nhân: chương 1 (tuyệt vời nhất là Celibidache), chương 2 (thích sự nắn nót của C. Kleiber, chương này Kleiber đạt được sự hoàn hảo nhất về cả nội dung lẫn hình thức), chương 3 (cần nhiều sự sảng khoái trong sáng kiểu cổ điển, nhưng còn cần hơn sự mộc mạc nhiệt thành dân dã kiểu các vũ khúc dân gian Hungary, hoặc Slavonic Dances của Dvorak... có thể chọn Szell với Cleverland Orc, hoặc Celibidache Stutt), chương 4 (thích kiểu của C. Kleiber, cực kỳ chân thành và xúc động). Đánh giá toàn diện: số 1 Celibidache, số 2 C. Kleiber, không có số 3, 4, 5,... gì hết ;))

trung224
21-05-2012, 19:49
Dĩ nhiên trong 1 bản phân tích tóm lược của dân không chuyên nghiệp thì em chỉ có thể phân tích theo tempo thôi, còn mấy cái sắc thái do phrasing thì cũng khó mà phân tích hêt được. Anh Dũng có vẻ thích Brahms kiểu tươi vui, trong sáng kiểu humane , em thì lại thích chơi theo kiểu Beethoven hóa Brahms, cũng giống như kiểu chơi của Yudina mà Richter đã từng nói là "kiểu chơi trong chiến tranh". Em thích bản thu của Furtwängler vì cảm xúc anh hùng và đau thương, tuyệt vọng được đẩy lên giới hạn, dù để có điều đó ông ấy loại bỏ hết tất cả những cái gì trong sáng vui tươi trong tác phẩm. Cũng vì lý do thích Brahms kiểu anh hùng nên trong các sym của Brahms e không thích sym No.3 1 chút nào vì nó quá nữ tính, quá đẹp nhưng lại quá thiếu bùng nổ

quầnđùidạophố
22-05-2012, 18:35
Anh thích Brahms là kiểu Brahms, chứ không phải "Brahms kiểu tuơi vui"...Còn về Brahms 3 thì còn có thể gọi là một anh hùng ca được, tính chất anh hùng ca của Sym 3 còn nhiều hơn Sym 2 và Sym 4, không nữ tính chút nào cả, Brahms không bao giờ viết cái gì nữ tính cả (kể cả Wiegenlied cũng không hề nữ tính). Hơn nữa, Brahms 3 cực kỳ bùng nổ, nhất là chương cuối Allegro (đan xen trưởng thứ)

trung224
22-05-2012, 19:43
Nếu đánh giá Brahms 3 là anh hùng ca thì e ko đồng ý một chút nào. Về tempo thì Brahms chọn cả 4 chương đều có tempo gần tương tự nhau (allegro con brio, andante, poco allergietto và allegro), các chủ đề trong một chương cũng không có sự đối lập lớn về tempo. Về phân nhịp và chi tiết thì ngay trong chương cuối thì đoạn cao trào nhất : ngay sau khi trombone vào thì lập tức lại phải chơi 1 crescendo, sau đó ngay lập tức phải dừng , dàn dây phải chơi nhẹ để tiếp tục cho cái cao trào thứ hai,... chính thế nên cảm giác đoạn cao trào rất bị giới hạn, không bùng nổ được.

quầnđùidạophố
25-05-2012, 14:38
Cách phân tích sự ít chênh lệch về tempo của em Trung (thật ra giữa allegro và andante tốc độ khác nhau nhiều) cũng không thể dùng để phân biệt anh hùng ca hay không anh hùng ca được. Còn về chuyện dừng dừng một lát rồi crescendo thì là chuyện rất phổ biến trong Sym 3 ”Eroica” của Beethoven! Trong Beethoven Eroica (chương 1, 2, 4) có quá nhiều những đoạn đan xen giữa những độc tấu (có khi là pianissimo hoặc decrescendo) của kèn gỗ kèn đồng với những crescendo hoành tráng của dàn dây hoặc toàn dàn nhạc. Chương 1 của Brahms cũng có ”con brio” như chương 1 của Beeth. Chính Hans Richter cũng từng gọi Brahms 3 là ”Giao hưởng anh hùng ca”

Thật ra, như đã nói, giao hưởng Brahms thường có hình thức không ăn nhập với nội dung, thành ra không thể chỉ lấy chuyện phân tích hình thức để quy kết cho nội dung được. Tính chất anh hùng ca trong Beethoven Eroica là kiểu tuyên ngôn toàn nhân loại, còn kiểu anh hùng ca của Brahms 3 mang tính lãng mạn, bộc lộ nội tâm cá nhân. Giao hưởng của Brahms là âm nhạc tuyệt đối, nên ”nội dung” của nó không thể kể ra như các câu chuyện được, mà chỉ có thể nói về tính chất sắc thái và các yếu tố về nội tâm cảm xúc. Các nhà phê bình chống đối Brahms trước đây thường chỉ phân tích hình thức để bảo là Brahms copy của Beethoven hay Schumann…, nhưng trong con mắt của những Brahmsians thì đó chỉ là những phân tích ấu trĩ. Nếu ở đâu đó ta gặp lại những hình thức của Brahms giống Beethoven hay người khổng lồ nào khác thì cũng cần phải hiểu rằng: bình tuy cũ, nhưng rượu thì là rượu mới. Câu chuyện mà nhiều người biết là khi một số nhà phê bình dựa vào hình thức để bảo Brahms rằng chương cuối Sym1 của ông giống chương cuối Sym 9 của Beeth, Brahms trả lời: ”bất cứ tên ngốc nào cũng đều nhận ra điều đó!”

trung224
09-12-2012, 07:50
Gần đây mình mới phát hiện ra một bản thu Brahms 4 rất tuyệt vời, đó là bản thu của Schuricht với dàn SWR Symphony Orchestra (dàn nhạc đài phát thanh Nam Đức) vào năm 1961. Karl Schuricht là một trong số những nhạc trưởng nổi tiếng nhất nước Đức thời điểm trước và những năm đầu sau chiến tranh thế giới 2, sau một thời gian dài bị lãng quên thì nay đã được trở lại tâm điểm (EMI và Decca, Hanssler đều release những bộ đĩa khá lớn về Schuricht). Phong cách chỉ huy của Schuricht có thể được gói gọn trong một từ "trung tính". Thật sự Schuricht chưa bao giờ tập trung vào những khía cạnh to lớn, hoành tráng, hay xung đột của tác phẩm, ông luôn hướng đến cái đẹp giản dị, đầy chất thơ của tác phẩm (kế cả khi đó là những tác phẩm có độ bi tráng cao như Brahms 4, Beethoven 3, Bruckner 5,8,9). Tuy nhiên, điều ông khác hoàn toàn với những nhạc trưởng như Sawallisch, Wand, Kempe,kể cả Böhm là việc thay đổi mạch cảm xúc liên tục khiến buổi trình diễn dù không quá kịch tính nhưng chưa bao giờ bị nhàm chán, buồn ngủ. Về điểm này Schuricht rất gần với Furtwängler, dù mục đichr thể hiện tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Nghe Schuricht ta thấy Brahms 4 thật sự như một dòng sông với đủ mọi cung bậc cảm xúc. Một bản thu rất đáng để thử. Nhân tiện cám ơn bác Lupagazzi ở diễn đàn ta, ngươi đã lùng ra đĩa hiếm này và up lên blog của bác ấy (giúp mình có thể tiếp cận với bản thu tuyệt vời này). Link download thì vẫn nằm ở thư mục 1955-1980 nằm trên
3049