Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27

Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vB_XML_Parser has a deprecated constructor in ..../includes/class_xml.php on line 52

Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vB_XML_Builder has a deprecated constructor in ..../includes/class_xml.php on line 689
Pelléas và Mélisande [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Pelléas và Mélisande



phucphan
10-10-2006, 05:31
http://www.ipl.org/div/mushist/images/debussy.gif
Pelléas và Mélisande (Pelléas et Mélisande) là một vở opera 5 màn, 15 cảnh của nhạc sĩ Pháp Claude Debussy (1862-1918). Vở opera được dựa trên vở kịch cùng tên của nhà viết kịch người Bỉ Maurice Maeterlinck (1862-1949). Libretto của vở opera của Debussy gần như giữ nguyên tác vở kịch nói của Maeterlinck. Vở kịch của Maeterlinck là một vở kịch mang tính tượng trưng (Symbolist). Các lời thoại và hành động diễn ra trong vở kịch đều có ý nghĩa về cảm xúc, về không khí nhiều hơn là về hành động.
Vở opera của Debussy được công diễn lần đầu tiên vào năm 1902 ở nhà hát Opera-Comique, Pháp. Nhiều người gọi nó là một vở opera "ấn tượng" theo tên của phong cách sáng tác của Debussy. Ngày nay, Pelléas và Mélisande được biểu diễn khá phổ biến và thường xuyên, nhưng nó không phải là 1 vở opera dễ cảm thụ với khán giả các nước không nói tiếng Pháp.
Vai Pelleas là một vai dành cho loại giọng Baryton-Martin, một loại giọng baryton nhẹ có âm vực gần như tenor. Melisande là một vai mà cả soprano và mezzo-soprano đều có thể thể hiện. Debussy đã ngay lập tức cảm thấy ấn tượng trước vở kịch của Maeterlinck trong lần công diễn của nó vào ngày 17-5-1893 và đã ngay lập tức quyết định viết vở opera của mình dựa trên vở kịch đó. Chính Maeterlinck cũng đã viết libretto của "Pelleas và Melisande" cho Debussy vào năm 1902 nhưng Debussy đã sáng tác một phần lớn của vở opera từ trước đó trong khoảng từ năm 1893 đến năm 1895 và giữa 2 người thực sự không có 1 sự hợp tác đáng kể. Pelleas và Melisande được sáng tác trong cùng giai đoạn với những tác phẩm khí nhạc nổi tiếng như bản tứ tấu dây và tác phẩm Prelude buổi chiều của thần đồng nội. Maeterlinck cũng đã bộc lộ ước muốn để soprano Georgette Leblanc, vợ ông, đóng vai Melisande trong lần công diễn ra mắt nhưng Debussy đã quyết định chọn giọng soprano Pháp gốc Scotland Mary Garden.
Nhiều người nhắc đến ảnh hưởng của Wagner với vở opera của Debussy. Điểm giống nhau tương đồng nhất là trong cấu trúc (cấu trúc viết liền mỗi màn thành một chuỗi chứ không tách ra số nhạc, lối phối khí dày cũng gợi nhớ về Wagner và cũng có những đoạn nhạc mang dáng dấp của Tristan và Isolde hay Parsifal). Nhưng điểm khác nhau cơ bản là nếu như trong âm nhạc Wagner, những đỉnh điểm kịch tính được dùng để nhấn mạnh các sự kiện quan trọng trong cốt truyện thì với Pelleas và Melisande, mọi thứ dường như đều mờ ảo, huyền bí, nhiều khi những crescendo chỉ được dùng để tạo ra một cảm giác cần thiết cho cảnh đang được trình diễn nhưng không đóng vai trò gì về mặt hành động sân khấu. Chính Debussy đã nói: "Tôi muốn âm nhạc diễn tả được những thứ mà sân khấu hay các trường đoạn kịch tính không thể lột tả được". Thành công của Debussy là ông giữ nguyên được tính biểu tượng mơ hồ của vở kịch nguyên gốc khi viết vở opera của mình và kết hợp được nó với bút pháp sáng tác của ông.
Cũng như mọi vở opera với bút pháp mới mẻ, lần ra mắt của Pelleas và Melisande vào ngày 30-4-1902 cũng gây ra một sự tranh cãi và sự tranh cãi đó vẫn đang tiếp tục cho đến tận ngày nay. Một vở opera không aria, không hợp xướng, không có các vũ khúc hay trường đoạn ballet, thậm chí cũng chẳng có một giai điệu nào mà khán giả có thể nhớ trong đầu sau khi ra khỏi nhà hát. Khán giả tại lần công diễn phân đều thành 2 phe. Trong giới chuyên môn, Rimsky-Korsakov, Fauré và Richard Strauss cho rằng Pelleas và Melisande đơn điệu, thiếu sự thanh thoát. Nguợc lại, Massenet tỏ ra rất xúc động, Stravinsky tỏ ra tán thưởng còn Ravel tuyên bố "sau Pelléas và Melisande còn có ai có thể sáng tác nữa". Đến ngày nay, nhà âm nhạc học Ernest Newman cho rằng vở opera của Debussy là "1 sự phá sản về khả năng sáng tạo nghệ thuật" còn baryton Pháp nổi tiếng Jacques Jansen thì cho rằng đó là vở opera Pháp duy nhất có khả năng ám ảnh ông từ lần nghe đầu tiên và "pelleas trở thành mục tiêu phấn đấu suốt sự nghiệp của tôi". Dù khen hay chê, Pelleas và Melisande là đỉnh cao của phương châm sáng tác của Debussy: "Âm nhạc có nhiệm vụ bộc lộ những thứ không thể diễn đạt được."
Chính sự bí hiểm, mơ hồ là điều làm nên sự hấp dẫn của Pelleas và Melisande. Khi viết vở opera của mình Debussy đã bộc lộ uớc muốn tạo ra một sự liên hệ "giữa thiên nhiên và trí tưởng tượng" chứ không phải là một "sự ràng buộc cụ thể giữa thiên nhiên và con người". Người xem sau cả vở opera không biết gì về các nhân vật trong đó. Chỉ có nhân vật Golaud là nhân vật duy nhất có những suy nghĩ và hành động dễ hiểu. Ngay cả sự sắp đặt sân khấu mà Debussy nghĩ ra cũng có một hiệu quả đặc biệt: Cảm giác về thời trung cổ không được tạo ra bằng những toà lâu đài mà bằng những khu rừng rậm, biển khơi và những đài phun nước. Âm nhạc của dàn nhạc thay đổi liên tục về màu sắc và hầu như không có những đỉnh điểm, những khoảnh khắc lớn như trong nhạc Wagner. Melisande có lẽ là nhân vật nữ khó hiểu nhất của opera cổ điển. Melisande xuất hiện không rõ nguồn gốc, chẳng bao giờ trả lời trúng vào những câu hỏi được đặt ra cho nàng, đến 80% những lời nói của Melisande trong vở opera là nói dối...Mái tóc dài của Melisande thật phù hợp với không khí của vở opera: lờ mờ, kín đáo. Boulez, một nhạc trưởng đặc biệt gắn bó với vở opera của Debussy nhận xét: "Phần viết cho giọng hát lơ lửng giữa hát và nói, nhưng các tiết tấu và các quãng nhạc trong lời hát thì hoà nhập một cách hoàn chỉnh vào bút pháp dàn nhạc của Debussy." Có thể nói, nếu những vở opera lãng mạn của Ý hay Đức là thơ thì Pelleas và Melisande là văn xuôi.

phucphan
10-10-2006, 06:07
Pelleas và Melisande chia thành nhiều cảnh rất cụ thể, các đoạn interlude dàn nhạc rất dài nối liền các cảnh với nhau rất khéo, về mặt âm nhạc thì các đoạn interlude này báo trước nội dung của những cảnh tiếp theo, về mặt sân khấu thì những interlude này là lúc thay đổi phông cảnh trên sân khấu.
Tóm tắt:
http://www.resmusica.com/images/pelleas_melisande.jpg
Màn 1:

Cảnh 1: Golaud, cháu nội Arkel, vua xứ Allemonde, đi săn bị lạc trong rừng trong khi rượt đuổi theo một con lớn rừng bị thương (Je ne pourrai plus sortit de cette foret). Ông nghe thấy một tiếng khóc và nhìn thấy một cô gái bé nhỏ ngồi khóc bên bờ suối. Golaud tìm cách tiếp cận cô gái đó nhưng cô vùng chạy đi hoảng hốt và tỏ ra sợ hãi một cách kì lạ (Pourquoi pleures-tu). Vất vả lắm Golaud mới trấn tĩnh được nàng, hỏi được tên của nàng là Melisande và nhận thấy nàng rất đẹp. Golaud nhận thấy dưới con suối nhỏ nơi Melisande ngồi khóc có một cái vương miện vàng lấp lánh (Qu'est ce qui brille ainsi au fond de l'eau?) . Melisande cho Golaud biết rằng nó là một chiếc vương miện mà có người đưa cho cô, và nếu Golaud nhặt nó lên thì cô sẽ nhảy xuống dòng suối mà chết. Golaud tìm cách trấn tĩnh Melisande và thuyết phục được nàng quay về với mình. (Ou allez-vous?...Je ne sais pas, je suis perdu aussi).

Cảnh 2: Lâu đài của Arkel. Arkel là một ông vua rất già và đã gần mù. Genevieve, mẹ của Golaud đọc lá thư của Golaud cho Arkel (Voici ce qu'il ecrit a son frere Pelleas). Đó là lá thư Golaud viết cho Pelleas, em trai cùng mẹ khác cha của ông. Trong thư, Golaud kể rằng ông đã cưới Melisande đến 6 tháng nhưng vẫn không biết về nàng nhiều hơn kể từ ngày ông mới gặp nàng. Golaud không dám đem Melisande về lâu đài bởi ông đã phá vỡ thỏa thuận cưới Ursule, một công chúa nước ngoài và sợ sẽ làm Arkel buồn phiền. Golaud yêu cầu Pelleas hãy hỏi ý kiến Arkel và nếu Arkel từ chối, Golaud sẽ không bao giờ quay lại. Arkel không tỏ ý kiến gì (Je n'en dis rien, mais on ne voit jamais que l'envers des choses) nhưng chỉ lo cho Golaud. Kể từ ngày vợ cũ của Golaud qua đời, Golaud trở nên sầu muộn và chỉ sống vì Yniold, con trai nhỏ của cuộc hôn nhân trước.
Pelleas xuất hiện. (C'est Pelleas, il a pleuré.) Pelleas xin Golaud cho mình đi thăm một người bạn bị thương trong chiến trận và sắp chết. Arkel nhắc cho Pelleas rằng bố chàng đang rất ốm, có lẽ cũng đang hấp hối. Genevieve yêu cầu Pelleas đi thắp ngọn hải đăng của tòa lâu đài để báo hiệu cho Golaud rằng Arkel đồng ý với hôn nhân mới của Golaud.

Cảnh 3: Trong khu vườn của tòa lâu đài. Melisande đang đi dạo cùng Genevieve. (Comme il fait sombre dans ces jardins). Melisande ngạc nhiên vì lâu đài của Arkel cây cối xum xuê đến nỗi khu vườn dưới bóng cây không có một chút ánh mặt trời nào, tối như đêm. Genevieve an ủi Melisande và nói rằng nàng sẽ quen như bà đã từng quen khi cưới cha của Golaud. Pelleas xuất hiện. Cả 3 người cùng lắng nghe những âm thanh phát ra từ bờ biển bên tòa lâu đài và Melisande đưa ra những dự cảm đen tối về con tàu đang ở ngoài khơi (Elle va peut-etre naufrager). Genevieve chạy đi tìm bé Yniold. Pelleas nói với Melisande rằng chàng sắp phải đi có việc trong 1 thời gian. Melisande tỏ ra rất lo lắng và xin Pelleas hãy đưa mình về phòng vì nàng thấy trong người không khỏe.

http://www.artsfairies.com/leighton/Pelleas%20and%20Melisande.jpg
Màn 2:

Cảnh 1: 1 giếng phun trong một công viên gần tòa lâu đài, 1 buổi trưa hè rất nóng. Pelleas, trong một cuộc đi dạo, đưa Melisande đến một chiếc giếng phun mát lạnh để nàng đỡ nóng. (Vous ne savez pas ou je vous ai menée?) Pelleas kể rằng chiếc giếng phun này trước đây thường xuyên làm những người mù sáng mắt. Nhưng khi đến Arkel thì nó không có hiệu nghiệm, từ đó chẳng ai đến chiếc giếng phun này nữa. Melisande tỏ ra rất thích thú với chiếc giếng phun và cố dùng tay chạm xuống đáy giếng nhưng không được vì nó quá sâu. Pelleas nhận thấy Melisande có mái tóc dài hơn cả thân hình nàng. (Oh, vos cheveux, Melisande). Pelleas hỏi Melisande về chuyện nàng gặp Golaud và câu truyện Melisande kể ra khác hẳn với sự thật: Golaud gặp nàng bên dòng suối, nàng chẳng nhớ Golaud nói gì với nàng, chỉ nhớ rằng Golaud muốn hôn nàng nhưng nàng đã cự tuyệt (C'est ainsi au bord d'une fontaine aussi qu'il vous a trouvée?) . Pelleas định hỏi kĩ hơn thì Melisande đánh trống lảng và đùa nghịch với chiếc nhẫn cưới Golaud đưa cho. Bỗng chiếc nhẫn rơi xuống giếng và 2 người không thể nhặt nó lên được (Il est tombe dans l'eau). 2 người quay về, Pelleas khuyên Melisande nên nói sự thật với Golaud và nói với Melisande rằng chiếc nhẫn rơi xuống đúng vào lúc chuông đồng hồ điểm 12 giờ trưa.

Cảnh 2: Trong lâu đài, tối hôm đó căn phòng của Golaud. Golaud nằm trên gường rên rỉ, Melisande ngồi bên giường chăm sóc Golaud. Golaud kể lại rằng đúng lúc chuông đồng hồ điểm 12 giờ trưa, con ngựa của ông bỗng vùng lên làm ông ngã ngựa, cả con ngựa đè lên ngực ông làm ông nổ đom đóm mắt nhưng thuyết phục Melisande rằng ông không sao. (Ah, tout va bien, cela ne sera rien). Melisande bật khóc, nói rằng mình không hạnh phúc với cuộc sống mới nhưng không thể đưa ra 1 lý do thuyết phục cho Golaud. (Je suis...malade ici). Golaud tìm cách nói dịu dàng để an ủi Melisande rồi chợt nhận thấy chiếc nhẫn trên tay Melisande đã không còn. Melisande nói rằng nàng đã để rơi chiếc nhẫn bên bờ biển, trong 1 hang động gần tòa lâu đài khi nàng đi nhặt vỏ ốc cho Yniold vào buổi chiều. Golaud bỗng nổi giận và bắt Melisande phải đi tìm chiếc nhẫn ngay trước khi triều lên. Melisande sợ, Golaud gọi Pelleas dẫn Melisande đi. Melisande tức tưởi bước ra (Ah, je ne suis pas heureuse).

Cảnh 3: Hang động bên bờ biển. Pelleas và Melisande bước vào hang động. 2 người nói chuyện với nhau như thể chưa từng biết những gì đã xảy ra vào buổi trưa (Oui, c'est ici. Nous y sommes) và Pelleas cố tìm chiếc nhẫn. Pelleas khuyên Melisande hãy quan sát kĩ hang động để chứng tỏ cho Golaud biết là nàng đã cố tìm. Một ánh trăng tỏ sáng cả hang động, Melisande nhìn thấy 3 người ăn mày nằm ngủ trong động bên bờ biển. Nàng bỗng run sợ và xin Pelleas đưa nàng về. Pelleas, vẫn tìm cách trấn tĩnh Melisande, cố nắm lấy tay nàng. Melisande gạt tay Pelleas ra(Laisse-moi).

phucphan
10-10-2006, 07:01
http://www.bibl.u-szeged.hu/inf/szakdoli/2003/puskas/ns_pelleas.jpg
Màn 3:

Cảnh 1: Bên cửa sổ căn phòng của Melisande. Một đêm hè. Melisande đang chải tóc và hát một bài hát dân gian (Mes longs cheveux descendent jusqu'au seuil de la tour). Pelleas xuất hiện (Moi, moi et moi). Chàng muốn được nắm tay Melisande vì ngày mai chàng phải đi xa vương quốc. Melisande tỏ ra lo lằng và cố nghiêng người xuống để chạm được vào tay của Pelleas. Lúc 2 người chạm tay vào nhau thì Melisande đã cúi xuống thấp đến mức cả mái tóc của nàng buông xuống, phủ lấy Pelleas. (Oh, mes cheveux descendent de la tour). Pelleas rùng mình rồi sung sướng, đùa nghịch với mái tóc của Melisande rồi buộc mái tóc của Melisande vào một cành liễu để "giam giữ" Melisande suốt đêm (Tu es ma prisonniere cette nuit. Toute la nuit.) Golaud xuất hiện, chê Pelleas và Melisande quá trẻ con và yêu cầu 2 người quay về ngay vì đã quá muộn (Que faites-vous ici? Vous etes des enfants!)

Cảnh 2: Ngày hôm sau. Golaud đưa Pelleas xuống tầng hầm của tòa lâu đài, một nơi hầu như chẳng ai đến bao giờ (Prenez garde, par ici). Một ám khí nồng nặc như mùi xác người chết bốc lên. Golaud yêu cầu Pelleas nghiêng người xuống một cái dốc để nhìn thấy bờ vực. Pelleas sợ hãi, xin Golaud đưa mình ra khỏi tầng hầm này.

Cảnh 3: Pelleas và Golaud đã ra khỏi tầng hầm. Pelleas sung sướng vì được hít thở khí trời và biển (Ah, je respire enfin). Pelleas nhận thấy Melisande và Genevieve đang tưới cây trên ban công của tòa lâu đài. Golaud nói với Pelleas rằng Mélisande sắp làm mẹ, vì vậy Pelleas phải rất để ý vì Melisande là một người phụ nữ rất yếu đuối. Golaud cũng nói rằng ông đã nghe thấy những gì Pelleas và Melisande nói với nhau vào đêm trước và yêu cầu Pelleas hãy tạm tránh xa Melisande, nhưng phải thật khôn khéo và không để Melisande biết.

Cảnh 4: Một buổi tối. Trong vườn tòa lâu đài. Golaud cùng với bé Yniold, đứa con của Golaud của cuộc hôn nhân trước (Viens, nous allons nous asseoir ici, Yniold). Yniold còn rất nhỏ tuổi. Golaud dò hỏi Yniold về Pelleas và Melisande. Đứa trẻ nói cho Golaud biết rằng nó thường xuyên thấy Pelleas và Melisande ở với nhau, 2 người rất chăm lo cho bé và có 1 lần nó nhìn thấy 2 người hôn nhau vào 1 hôm trời mưa. Cuộc tra hỏi càng ngày càng trở nên căng thẳng hơn và Yniold bật khóc. Golaud cố an ủi vỗ về đứa trẻ rồi bế nó lên cửa sổ phòng Melisande, yêu cầu nó theo dõi những gì diễn ra trong phòng. (Tiens, petite mere a allume sa lampe) Yniold thấy Pelleas và Melisande ở với nhau nhưng 2 người ngồi yên, không hề nói chuyện mà chỉ nhìn chằm chằm vào ánh đèn, không hề chớp mắt. Bé bỗng hoảng sợ và yêu cầu Golaud thả mình ra.

Màn 4:

Cảnh 1: Pelleas và Melisande ở trong 1 căn phòng nhỏ của lâu đài (Ou vas-tu? Il faut que je te parle ce soir). Pelleas nói với Melisande rằng chàng sắp phải ra đi, có lẽ là vĩnh viễn và hẹn gặp Melisande lần cuối cùng ở giếng phun của những người mù. Melisande lo lắng tột cùng. Pelleas chạy trốn khi nghe thấy động từ sau cánh cửa.

Cảnh 2: Arkel biết rằng Melisande sắp sinh con. Arkel nói rất dịu dàng với Melisande, tin rằng Melisande và đứa con của nàng sẽ đem đến tuổi trẻ và ánh sáng cho tòa lâu đài của ông (Maintenant que le pere de Pelleas est sauvé). Golaud bước vào, hừng hực, tuyên bố Pelleas sẽ ra đi vào đêm nay (Pelleas part ce soir). Golaud yêu cầu Melisande đưa cho mình thanh kiếm của ông và nói bằng một giọng cục cằn làm Melisande hoảng sợ. Nhìn thấy sự hoảng sợ của Melisande, Golaud không thể cầm lòng được nữa. Ông túm lấy tóc của Melisande và lôi nàng quanh phòng, chửi mắng nàng một cách giận dữ (Une grande innocence? C'est plus que l'innocence!). Arkel sững sờ, đuổi Golaud ra khỏi phòng. Melisande bật khóc tức tưởi.

Cảnh 3: Bé Yniold tìm cách nhấc 1 tảng đá to lên để nhặt quả bóng của mình đã lăn xuống dưới tảng đá. (Oh, cette pierre est lourde). Bỗng bé nhìn thấy một đàn cừu. Đàn cừu kêu rất to rồi im bặt khi người chăn cừu chuyển hướng. Bé thấy ngạc nhiên rồi chạy về tòa lâu đài.

Cảnh 4: Bên giếng nước nơi Melisande đánh rơi chiếc nhẫn. Pelleas lo lắng vì Melisande chưa đến, quyết định sẽ nói hết với Melisande trong đêm cuối cùng (C'est le dernier soir...). Melisande xuất hiện, nàng đã chạy khỏi tòa lâu đài sau khi biết chắc rằng Golaud đã ngủ say. Pelleas giải thích với Melisande rằng chàng phải ra đi vì chàng yêu Melisande. Melisande đáp lại "Je t'aime aussi" (em cũng yêu anh) nhẹ như gió thoảng. 2 người đứng yên trong bóng tối, ngắm nhìn ánh trăng và khu vườn. Có động, Pelleas yêu cầu Melisande hãy quay về nhưng nàng không chịu (Quel est ce bruit?...Golaud, c'est Golaud). Đó là Golaud, ông đứng theo dõi 2 người từ phía sau rồi bước đến rất nhanh. Melisande quyết không rời Pelleas, 2 người ôm hôn nhau say đắm (Ta bouche...toutes les etoiles tombent sur moi). Golaud đâm chết Pelleas, Melisande sợ hãi bỏ chạy.

http://www.cs.princeton.edu/~san/death_melisande.jpg
Màn 5: Mélisande đã sinh con. Đứa con của nàng đẻ non và Melisande đang nằm bất động trên giường. Bác sĩ khẳng định rằng vết thương nhỏ của Melisande không thể là nguyên nhân làm nàng ốm đến như vậy (Ce n'est pas de cette blesssure qu'elle peut mourir). Golaud dằn vặt đau đớn vì nghĩ rằng mình đã đem đến bệnh tật của Melisande. Mélisande tỉnh dậy, yêu cầu Arkel mở cửa sổ ra để nàng có thể nhìn thấy mặt trời trên biển (Attention, je crois qu'elle s'eveille). Arkel tìm cách an ủi vỗ về Melisande. Mọi người tìm cách để nàng không phải gặp Golaud nhưng nàng muốn nói chuyện với Golaud. Nàng nhận thấy Golaud đã già và gầy đi nhiều. Golaud muốn được ở một mình nói chuyện với Melisande. Cuộc nói chuyện bắt đầu chậm rãi, vừa phải nhưng cơn ghen tuông bỗng quay trở lại với Golaud và ông cao giọng hỏi nàng về chuyện giữa nàng và Pelleas (Melisande, as-tu pitie de moi comme j'ai pitie de toi?). Melisande chỉ nói rằng nàng và Pelleas không có tội rồi bắt đầu nói như mê sảng, thậm chí yêu cầu muốn gặp Pelleas. Golaud tuyệt vọng vì biết chắc rằng sẽ không thể biết gì hơn về Melisande cả (Elle est trop loin de nous). Arkel đem đứa trẻ đến cho Melisande, Melisande nhìn nó, đưa ra những dự cảm khi thấy nó quá bé nhỏ, buồn bã và yếu đuối. Arkel yêu cầu Golaud hãy để Melisande yên, vì "tâm hồn cần được để yên để có thể bay đi" (Attention...Il faut parler a voix basse maintenant). Những người hầu trong căn phòng đều quỳ gối. Melisande đã qua đời. Golaud gục ngã. Arkel yêu cầu mọi người hãy ra khỏi phòng và đưa đứa trẻ đi vì "nó phải sống thế chỗ cho Melisande" (C'est au tour de la pauvre petite...)