Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Tiếng hát của người Pháp [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Tiếng hát của người Pháp



phucphan
05-10-2006, 10:14
Gần 2-3 tháng rồi không lộ diện, hôm nay được một bữa không có bài tập, em liều mình post một cái ở forum hoành tráng của box mình một cái>:D< .
Em xin lập topic này để giới thiệu những giọng hát nổi tiếng của opera và thanh nhạc Pháp, em sẽ cố gắng chọn thịt thăn loại 1 cho box mình thưởng thức;;) .
Trái với những gì mọi người thường nghĩ, opera Pháp không ra đời một cách độc lập ở Pháp. Truyền thống opera tiếng Pháp bắt đầu không phải bằng một nhạc sĩ Pháp mà là một người Ý - Jean-Baptiste Lully. Lully phục vụ dưới vương triều Louis XIV và đã quyết định lập ra một truyền thống opera độc lập với opera của Ý. Vậy là suốt thế kỉ 17, opera của Pháp đã được thành lập và dẫn đầu bởi 1 người Ý. Opera Pháp dần dần, qua sự phát triển của lịch sử, hình thành những dòng opera đặc trưng: Grand Opera sử dụng recitatif, thường xuyên có 1 màn ballet (ví dụ Les Huguenots-Meyerbeer); Opera-Comique sử dụng đối thoại (Carmen-Bizet, Manon-Massenet), Operette và opera bouffe-những màn hài kịch tức cười bằng âm nhạc do Offenbach thành lập và dần dần là đến những vở opera đầy tính hiện đại hoặc ấn tượng như Pelleas et Melisande (Debussy), Enfant et Sortileges (Ravel)...
Thể loại thanh nhạc thính phòng của Pháp (mélodie) thì phát triển độc lập với Lieder của Đức. Khái niệm mélodie, những bài thơ phổ nhạc, thường là với phần đệm piano với vai trò tăng cường tính nhạc, tính nghệ thuật của những tác phẩm thơ nguyên gốc được nhạc sĩ Berlioz đưa ra vào nửa sau thế kỉ 19. Nếu như hoàng kim của Lieder Đức là vào nửa đầu thế kỉ 19 thì hoàng kim của Mélodie là vào cuối thế kỉ 19, nửa đầu thế kỉ 20. Mélodie Pháp có sức cuốn hút khá tách biệt so với Lieder Đức, từ những Melodie tuyệt vời của Fauré đến những mélodie trữ tình đến khác thường của Hahn, những mélodie gợi cảm của Debussy, Ravel, Duparc và những mélodie siêu thực của Poulenc hay phòng trà của Satie...
Giọng hát của người Pháp thường được coi là những giọng hát nhỏ, nhẹ kí, hẹp, ngả mũi, khác với phong cách hát khỏe mạnh, sáng choang, đầy đặn của người Ý. Tính chất của giọng hát Pháp bắt đầu ngay từ cách phát âm tiếng pháp rất nhiều những âm mũi (un bon vin blanc) và những âm được phát âm hơi kì lạ, ví dụ "r" phát âm là "g", "u" là "uy". Tiếng Ý thì những nguyên âm gần với tính chuẩn hơn(a-ê-i-ô-u). Bù lại, tiếng hát của người Pháp lại mang những thế mạnh đặc biệt khác rất khó đạt được: tính legato cao, âm thanh chính xác, rất ít dùng portamento trừ khi phải trượt những quãng rộng và yêu cầu nhả chữ hết sức cao, sự bay bổng, thanh lịch rất Pháp...Tiếng hát thuần Pháp, mang đủ những đặc điểm trên chủ yếu tồn tại trước và trong khoảng 1-2 thập kỉ sau chiến tranh thế giới thứ II. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi một loạt những ca sĩ xuất sắc mới ra đời trong một "thế hệ vàng", các vai opera chính của opera Pháp dần dần chuyển sang các giọng hát quốc tế, các giọng hát Pháp xuất hiện toàn trong những dàn vai phụ, tiếng hát thuần Pháp mất dần đi trong quá trình "toàn cầu hóa". Vì vậy, ngày nay opera Pháp thường gắn với những cái tên của các giọng ca quốc tế chứ không phải những giọng ca thuần Pháp.
Gần đây rất nhiều giọng hát mới đã xuất hiện trên đất Pháp và đạt được danh tiếng trên sân khấu âm nhạc quốc tế như Natalie Dessay, Roberto Alagna, Veronique Gens, Patricia Petibon...Phải nói là những giọng hát này vượt qua rất nhiều giọng hát Pháp của thế hệ cũ trên nhiều khía cạnh như âm sắc, kĩ thuật, sức bền...Nhưng những giọng hát Pháp của những năm xưa, dù dày hay mỏng, ngả mũi hay đầy đặn, đều đem đến cho người nghe một cảm giác đặc biệt: Người nghe như cảm thấy được ngồi giữa một nhà hát opera hay một phòng nhạc ở đô thành Paris, được ngắm nhìn tận mắt những hình ảnh của một đất nước Pháp lộng lẫy, thanh lịch nhưng đôi khi cũng hết sức ấm áp và gần gũi.
Trong topic này, em sẽ giới thiệu một số giọng hát Pháp nổi tiếng, cũ và mới.

phucphan
05-10-2006, 10:47
Régine Crespin (1927-)
http://www.cs.princeton.edu/~san/crespin4.jpg
Regine Crespin hát rondeau "Ah, que j'aime le militaire"-Offenbach:
http://video.google.com/videoplay?docid=-7281779638316334796&q=regine+crespin&hl=en

Một số trích đoạn opera qua tiếng hát của Regine Crespin (một số aria Ý qua phần dich tiếng Pháp)
http://www.nycoperafanatic.com/crespin/regine.html

Regine Crespin sinh ngày 23 tháng 2 năm 1927 tại Marseille, Pháp. Mẹ của bà là người Ý còn bố bà là người Pháp. Bà được xem là giọng soprano xuất sắc nhất của nước Pháp những năm sau chiến tranh thế giới thứ 2 và được xem là 1 trong những soprano kịch tính xuất sắc nhất của nước Pháp. Regine Crespin hát cả 2 danh mục: soprano kịch tính và mezzo-soprano. Crespin hát chủ yếu là opera Pháp nhưng cũng được xem là một người biểu diễn opera Đức xuất sắc, nhất là trong các tác phẩm của Wagner và Richard Strauss.
Regine Crespin bắt đầu học hát từ khá muộn (năm 16 tuổi). Bà muốn trở thành một y sĩ và cố thi vào trường y nhưng đã không qua được kì Baccalaureat. Trước đó, giành giải cao trong một cuộc thi tiếng hát toàn quốc, Regine Crespin quyết định đăng kí vào nhạc viện Paris và đã thành công. (Hé hé chị Crespin trượt đại học:D )
Lần ra mắt của bà là vào năm 1950 ở Mulhouse (phía đông nước Pháp) trong vai Elsa trong Lohengrin (Wagner) và cũng trong năm đó đã diễn vai này ở Paris. Thành công đến rất nhanh với Crespin và bà được đánh giá cao vì giọng hát lộng lẫy cũng như khả năng diễn xuất xuất sắc và óc hài hước tuyệt vời. Danh mục của bà mở rộng với những vai Pháp lớn của bà: Penelope (Faure), Iphigenie (Gluck), Charlotte (Werther), các vai nữ chính trong nhiều operetta của Offenbach, cả 2 vai Cassandre và Didon trong "Les troyens" (Berlioz), mẹ Lidoine và de Croissy (Poulenc). Trên danh mục Đức, bà có rất nhiều thành công lớn với Kundry, Sieglinde, Brunhilde (Wagner), Marschallin (Strauss). Bà cũng được xem là một Tosca xuất sắc vào thế hệ của bà. Regine Crespin cũng có một danh mục lớn các mélodie của Berlioz, Faure, Poulenc, Debussy, Ravel...Bà ngừng biểu diễn vào năm 1989 và dẫn thường xuyên giảng dạy ở Pháp và Mỹ.
Về giọng hát của Regine Crespin: Regine Crespin có một giọng hát khổng lồ. Cũng giống như một số giọng ca cỡ cự phách khác như Nilsson hay Rita Gorr, Crespin không thực sự may mắn trên ghi âm vì giọng hát quá to của bà thường tạo ra những âm thanh rất rát tai vào những trường đoạn fortissimo. Là một soprano kịch tính, bà thường không lên được những nốt thực sự cao. Những Ab, A, Bb của bà tràn đầy sức mạnh nhưng một phần vì hơi với, một phần vì quá to và âm sắc của bà hơi mang tính kim khí nên rất rát. Regine Crespin gọi phòng thu và chiếc microphone là "mon cher cauchemar" (cơn ác mộng thân thiết của tôi).
Thế nhưng vượt qua những điểm yếu này, giọng hát của Crespin có rất nhiều ưu điểm: Bà có một âm vực quãng trung lộng lẫy, hết sức sang trọng và legato hoàn hảo. Tuy giọng hát rất dày và to nhưng Crespin nhả chữ đủ rõ để bất cứ người nghe nào cũng có thể hiểu được những gì bà đang hát. Cũng nhờ chất giọng dày, to mà người ta đôi khi không nhận ra tính ngả mũi trong giọng hát của Crespin. Trên sân khấu, bà đầy sức sống và diễn xuất rất thú vị (dù hơi béo hehe).
Cũng như Callas, Crespin cho thấy một giọng hát to cũng hoàn toàn có khả năng tạo màu sắc. Crespin hát bài hát cây liễu và Ave Maria trong Otello (Verdi) cũng cảm động như bất cứ soprano trữ tình nào, bà hát pianissimo rất tuyệt vời và khả năng thể hiện lời hát của bà rất cao. Nhờ vậy mà bà thể hiện mélodie rất xuất sắc. 2 chùm ca khúc Đêm hè (Nuits d'ete-Berlioz) và Scheherazade (Ravel) qua tiếng hát của bà được xem là không thể vượt qua được, nhờ sự lộng lấy, chất Pháp lồng lộng và sự nhạy cảm tinh tế với lời thơ. Óc hài hước của bà thể hiện xuất sắc qua các melodie của Ravel, Satie và Poulenc.
Crespin thuộc nhóm những nghệ sĩ thể hiện tác phẩm trực tiếp, không rên rỉ, không trải chuốt quá mức. Vai diễn mẹ Lidoine trong Dialogues des Carmelites (Poulenc) của bà là một nhân vật có tầm cao, rất quý tộc nhưng cũng có độ ấm áp rất cao. Bà được xem là Penelope xuất sắc nhất mọi thời đại. Crespin có lẽ cũng là người duy nhất có thể hát cả 2 vai Cassandre và Didon một cách hoàn hảo-Bà thét ra lửa trong vai Cassandre và đầy mẫn cảm và cả kịch tính trong vai Didon. Nhờ giọng hát sang trọng, lộng lẫy bẩm sinh, bà thể hiện Marschallin một cách xuất sắc. Nhiều người thích Marschallin của Crespin hơn của Schwarzkopf. Bà cũng hát nhiều vai bằng tiếng Ý trong những bản dịch tiếng Pháp như Tosca và Desdemona. Dù chịu sự cạnh tranh của rất nhiều soprano kịch tính, Crespin vẫn tạo dấu ấn riêng trong các opera của Wagner và bà được Georg Solti chọn làm Siegliende trong ghi âm Wagner Ring khổng lồ và huyền thoại của Decca Classics.
Những năm cuối sự nghiệp, giọng hát của Crespin trở nên không vững, các nốt cao bị với, nhiều nốt ngân bị gãy và bà chuyển sang nhiều vai mezzo như Carmen (Bizet) hay Bà đầm Pích (Tchaikovsky). Giọng hát rất ấn tượng của bà vẫn để lại dấu ấn nhưng nhiều âm không còn đẹp nữa. Thật đáng tiếc là bà không còn ở đỉnh cao những năm lưu diễn với Metropolitan Opera (New York) nhưng vẫn không ngừng gây ấn tượng cho khán giả với diễn xuất và sự nhạy cảm trong thể hiện vai của mình.

yes_Iam_here
05-10-2006, 11:06
Brvavo, tèn ten, hehee Phucphan đã trở lại. Ritorna Vincitor !!!! >:D< cop lại mấy bài cũ giới thiệu opera hồi trước đê.
Hôm trước vừa nghe cái đĩa Vocalise của em Dessay choáng quá, toàn là trên f3 với g3!!!, biến tấu các kiểu, xây xẩm mặt mày :-S .

phucphan
05-10-2006, 11:19
Em Dessay lên đến A3 cơ mà bác YIH, cái doll song của em ý có 1 cái lên đến E3, cứ tưởng là hết, ai ngờ em ý vút 1 phát lên hẳn A3, suýt nữa bật khỏi ghế. Bell Song cũng thế, cuối khổ 1 có 1 lần em ý vèo 1 phát lên G3 (mà sol thăng hẳn hoi thành thử cũng ra A3) nghe đứng tim. Em Dessay công nhận có khiếu, hát có gu, nhả chữ tốt, em sẽ giới thiệu trên topic này sau. Tuy nhiên điều em thích nhất ở Dessay không phải là mấy nốt cao dở hơi mà là khả năng nhập vai tuyệt vời, nhả chữ tốt, có sức ấm đặc biệt. Xem em ý hát cái scene de folie Ophelie (Hamlet) có lẽ là lần đầu tiên mà em ấn tượng khổ "Pale et blonde" hơn toàn bộ phần coloratura.

yes_Iam_here
05-10-2006, 11:56
Crespin có lẽ cũng là người duy nhất có thể hát cả 2 vai Cassandre và Didon một cách hoàn hảo-Bà thét ra lửa trong vai Cassandre và đầy mẫn cảm và cả kịch tính trong vai Didon.
Đọc đoạn này lại nhớ đến bà béo nhà mình : vừa dịu dàng, yếu đuối với Lìu, vừa lạnh lùng, sắt thép với Turandot.
Chị Crespin trượt trường Y là còn đỡ, chứ chị Su kều còn phải vào học cao đẳng về nghề thư kí văn phòng mới thảm cảnh hehehe

phucphan
06-10-2006, 08:45
Đêm hè (Nuits d'ete) - Hector Berlioz
Scheherazade - Maurice Ravel
Regine Crespin, mezzo-soprano
Ernest Ansermet, dàn nhạc Suisse Romande

Nuits d'ete:
I, Villanelle
les nuits d'ete- villanelle (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/les%20nuits%20d%27ete-%20villanelle.mp3)
II, Spectre de la Rose
les nuits d'ete- le spectre de la rose (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/les%20nuits%20d%27ete-%20le%20spectre%20de%20la%20rose.mp3)
III, Absence
les nuits d'ete- absence (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/les%20nuits%20d%27ete-%20absence.mp3)
IV, Sur les Lagunes
les nuits d'ete- sur les lagunes (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/les%20nuits%20d%27ete-%20sur%20les%20lagunes.mp3)
V, Au cimetiere
les nuits d'ete- au cimetiere (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/les%20nuits%20d%27ete-%20au%20cimetiere.mp3)
VI, Ile inconnue
les nuits d'ete- l'ile inconnue (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/les%20nuits%20d%27ete-%20l%27ile%20inconnue.mp3)

Sheherazade
I, Asie (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/07%20scheherazade-%20asie.mp3)
II, La flute enchantée (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/08%20scheherazade-%20la%20flute%20enchantee.mp3)
III, L'indifférent (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/09%20scheherazade-%20l%27indifferent.mp3)

phucphan
06-10-2006, 10:05
Gerard Souzay (1918-2004)
http://www.cs.princeton.edu/~san/souzay.jpg
"Ước gì tôi có thể hát Mélodie Pháp hay được như Gerard Souzay hát Lieder Đức". Đó không phải là một lời khen nhỏ, đặc biệt khi tác giả của câu nói đó không ai khác ngoài Dietrich Fischer-Dieskau, giọng baritone huyền thoại, ông vua của Lieder Đức sau những năm chiến tranh thế giới thứ 2. Gerard Souzay hoạt động vào cùng thời kì với Dietrich Fischer-Dieskau, ông được coi là người thể hiện Mélodie Pháp xuất sắc nhất trong những năm sau chiến tranh thế giới II.
Gérard Souzay, tên thật là Gerard Marcel Tisserand, sinh ngày mùng 8 tháng 12 năm 1918 ở một ngôi làng nhỏ ở Angers, bên bờ sông Loire, phía Tây Bắc nước Pháp. Ông xuất thân từ một gia đình khá có truyền thống âm nhạc. Cha mẹ ông gặp nhau lần đầu tiên trong lần ra mắt vở opera Pelleas và Melisande của Debussy vào năm 1902 và 2 người thuộc nhóm những người đã ủng hộ sáng tác đầy tính đột biến của Debussy. Mẹ và 2 người anh em trai của ông đều là ca sĩ, và ông có một người chị gái là giọng soprano nổi tiếng Genevieve Touraine, hơn ông 15 tuổi. Ẹc ẹc, khác với chị Crespin và chị Sutherland thi trượt đại học, Gerard Souzay đỗ vào đại học Sorbonne để học triết học#:-S . Ở đó, Gerard Souzay đã làm quen với Pierre Bernac, giọng baritone trữ tình huyền thoại người Pháp, người biểu diễn mélodie nổi tiếng nhất nước Pháp trước chiến tranh thế giới II và là bạn thân của nhạc sĩ Francis Poulenc. Ấn tượng trước giọng hát của Souzay, Pierre Bernac đã khuyến khích Souzay nên theo đuổi sự nghiệp âm nhạc
Năm 1940, Gerard Souzay vào học ở nhạc viện Paris dưới sự hướng dẫn của mezzo-soprano Pháp Claire Croiza. Lúc bắt đầu học ông được huấn luyện như 1 giọng tenor, nhưng baritone opera nổi tiếng của Pháp vào thời đó, Henri Etcheverry (một Golaud danh tiếng) đã khuyên Souzay nên chuyển hướng và ông trở thành 1 giọng baritone từ năm 1943 (điều đó một phần giải thích âm vực quãng cao rất đẹp của Souzay những năm tuổi trẻ của ông). Ông tốt nghiệp nhạc viện Paris năm 1945, với cả 2 giải thưởng về thanh nhạc của nhạc viện. Sau khi tốt nghiệp, Souzay tiếp tục học hát với Pierre Bernac nhưng không hoàn toàn đồng ý với phương pháp giảng dạy của Bernac, cho rằng ông quá coi trọng nhả chữ. Souzay không bó hẹp vào mỗi danh mục mélodie mà cũng mở rộng danh mục của mình sang cả Lieder Đức, học cùng Lotte Lehmann, giọng soprano Đức, Marschallin đầu tiên. Gerard Souzay được đánh giá cao về khả năng ngôn ngữ của mình, ông thành thạo 4 thứ tiếng. Album "Songs of many Lands" của ông là 1 tập hợp 32 bài hát bằng 16 thứ tiếng;;) .
Sự nghiệp biểu diễn quốc tế của ông phát triển khá nhanh, bắt đầu từ năm 1945, trong một lần biểu diễn Requiem của Faure ở London nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của nhạc sĩ. Ông bắt đầu lưu diễn, chủ yếu biểu diễn recital (trình diễn độc tấu các tác phẩm thanh nhạc thính phòng). Trọng tâm của ông là các tác phẩm thanh nhạc thính phòng Pháp-mélodie, chủ yếu của Chausson, Debussy, Ravel, Duparc và đặc biệt là Faure. Ông cũng được đánh giá rất cao với Lieder của các nhạc sĩ Đức, đặc biệt là Schubert và Schumann. Trong độ 10 năm đầu, pianist Jacqueline Bonneau, bạn diễn thường xuyên của ông trong những năm ở nhạc viện Paris, là người đệm đàn chính cho ông trong lưu diễn và ghi âm. 2 người có 1 sự cộng tác rất hiệu quả, nhưng thường xuyên mâu thuẫn vì Bonneau không thích biểu diễn ngoài nước Pháp. Từ năm 1954, Dalton Baldwin trở thành người đệm đàn tin cậy của Souzay, 2 người tiếp tục cộng tác cho đến những năm cuối của sự nghiệp của Souzay. Chủ yếu tập trung vào các tác phẩm thanh nhạc cổ điển của thế kỉ 19, nửa đầu 20 nhưng Souzay cũng biểu diễn ra mắt một số tác phẩm hiện đại như La danse des morts (vũ điệu tử thần) của Honegger hay Canticum Sacrum (Stravinsky) và các tác phẩm thanh nhạc của Jacques Leguerney. Cũng giống như Fischer-Dieskau, Souzay không được biết đến nhiều trên sân khấu opera nhưng ông cũng có nhiều thành công. Sự nghiệp opera của ông bắt đầu từ năm 1947 trong vở Il matrimonio segreto của Cimarosa tại lễ hội âm nhạc Aix-en-Provence của Pháp. Các vai diễn của ông bao gồm Orfeo (Monteverdi), bá tước Almaviva (Nozze di Figaro), Mephistopheles trong "Damnation de Faust" (Berlioz), Lescaut trong Manon (Massenet). Nhưng vai diễn nổi tiếng, xuất sắc nhất và cũng là vai diễn opera ưa thích của ông là vai Golaud trong vở opera ấn tượng Pelleas et Melisande của Debussy.
Từ những năm 1960, ông ngừng biểu diễn opera nhưng tiếp tục biểu diễn recital các tác phẩm thanh nhạc thính phòng. Souzay giải nghệ vào khoảng những năm 1980 rồi giảng dạy ở Mỹ, châu Âu và Nhật. Là người biểu diễn mélodie nổi tiếng nhất nửa sau thế kỉ 20 nhưng khác với nhiều người nghĩ, Souzay không quá coi trọng nhả chữ và phát âm tiếng Pháp mà tập trung hơn trên khía cạnh âm nhạc. Gerard Souzay là một họa sĩ vẽ tranh trừu tượng rất khá. Hồi kí của ông vào năm 1983 tràn đầy những bức tranh của ông. Ông qua đời tại nhà riêng bên bờ biển Antibes, phía Nam nước Pháp vào ngày 17 tháng 8 năm 2004, hưởng thọ 86 tuổi.
Sự nghiệp ghi âm của Gerard Souzay khá lâu dài. Những năm 1940, ông ghi âm cho một hãng ghi âm rất nhỏ của Pháp-boite à musique. Sau đó ông kí hợp đồng với những hãng ghi âm lớn như Decca, Phillips và EMI. Souzay ghi âm rất nhiều mélodie của Duparc, Debussy, Ravel, ghi âm toàn tập mélodie của Faure và Poulenc cùng Elly Ameling, Michel Senechal, Mady Mesple. Ông ghi âm nhiều lieder của Schubert và Schumann, một số lieder của Wolf, nhiều tác phẩm âm nhạc Baroque, các bài hát dân gian của nhiều nước trên thế giới. Một số nhạc sĩ khác được Souzay ghi âm bao gồm Chausson, Gounod, Massenet, Falla...
Về giọng hát của Gerard Souzay: Gerard Souzay có một chất giọng baritone trữ tình rất đẹp: mỏng, nhẹ nhõm, rất thanh lịch nhưng đầy sức ấm, có chiều sâu đặc biệt. Suốt sự nghiệp của mình, Souzay nổi tiếng với cách thể hiện đơn giản, nồng nhiệt. Ông coi mình là một người theo chủ nghĩa lãng mạn và không bao giờ phân tích tác phẩm quá mức: "Theo tôi, Monteverdi trong Orfeo và Bach trong Matthaus-Passion đều đã là những nhạc sĩ lãng mạn, không nên quá coi trọng tính đầu óc khi thể hiện những tác phẩm này." Một giọng baritone lồng lộng tính Pháp, Gerard Souzay legato rất chuẩn mực, âm sắc đẹp, gợi cảm tuy giọng hát không phải là một giọng hát lớn. Giọng hát của Souzay giàu màu sắc, âm vực quãng cao trong những năm trẻ tuổi của ông rất đẹp và ông dùng giọng óc rất khéo, tạo ra một sự lịch lãm đặc biệt. Souzay nhả chữ và thể hiện lời thơ rất tinh tế và rõ ràng nhưng không bao giờ thái quá như Fischer-Dieskau. Xuất hiện và biểu diễn cùng thời với Fischer-Dieskau, cũng dễ hiểu khi mọi người thường xuyên so sánh Souzay với Fischer-Dieskau. Có thể nói, chất giọng của Souzay đẹp hơn của Fischer-Dieskau, ông hát giản dị, có thể nói là tình cảm hơn Fischer-Dieskau nhiều dù ông hát Lieder Đức hơi bị Pháp. Lần đầu tiên em nghe Gerard Souzay hát một Lied của Schubert, em đã bị hoàn toàn thuyết phục, ông hát đơn giản, tự nhiên, nhiều màu sắc hơn nhiều và giọng hát của ông thời trẻ đẹp hơn hẳn của Fischer-Dieskau. Bất cứ ai đã quá quen đến mức nhàm chán với giọng hát của Fischer-Dieskau đều nên ít nhất 1 lần nghe Gerard Souzay.
Ít diễn opera nhưng không thể không nói đến một vai opera của Souzay-Golaud trong Pelleas và Melisande. Ông thể hiện mọi màu sắc của vai diễn này một cách thành công và nhờ giọng hát đầy màu sắc của mình, cộng với việc được ghi âm vào những năm đỉnh cao mà em có thể coi Golaud của Souzay là Golaud hay nhất từng được ghi âm. Gia đình của Souzay từng có mặt trong lần ra mắt Pelleas và Melisande và Souzay học vai Golaud trực tiếp từ Henri Etcheverry, Golaud huyền thoại những năm 30, 40 của thế kỉ trước. Golaud của Souzay có một vẻ đẹp tuyệt vời, không quá "thô bạo" như nhiều Golaud khác nhưng cũng tràn đầy trăn trở, giằng xé.
Souzay có thể nói là không thể vượt qua trong các mélodie của Faure, Duparc và Debussy. Với 2 nhạc sĩ đầu, Souzay thuyết phục với giọng hát đẹp, thể hiện lời thơ tinh tế mà không bị thái quá, đặc biệt với Duparc chất lãng mạn nồng nàn trong giọng hát của Souzay tạo ra những ghi âm không thể quên được. Với Debussy, giọng hát nhiều màu sắc, đặc biệt tinh tế của Souzay tạo ra những chuẩn mực thực sự. Với Ravel và Poulenc, Souzay cũng tạo ra dấu ấn nhưng không được chuẩn mực như với Faure, Duparc và Debussy. Ravel và Poulenc đòi hỏi những giọng hát có tính cách đặc biệt, thậm chí mang tính châm biếm, và dù rất cố nhưng Souzay cũng không phải là một giọng hát sinh ra để hát danh mục này. Những năm trong nhạc viện khi quen Bernac, Poulenc từng nói với Souzay rằng: 'Giọng hát của anh quá đẹp để có thể hát được mélodie của tôi".
Hẳn mọi người đều để ý trong bài viết của em, em thường xuyên đả động đến "những năm tuổi trẻ" của Souzay. Trong sự nghiệp của mình Gerard Souzay đã mắc một sai lầm đáng kể. Từ khi bắt đầu cộng tác với Dalton Baldwin, Souzay đã yêu cầu ngừng toàn bộ phát hành cũng như phát thanh các ghi âm thời trẻ của ông với Bonneau. Từ cuối những năm 60, đầu những năm 70, giọng hát của Souzay gặp khủng hoảng: Nó trở nên khô cứng, tẻ nhạt và âm vực quãng cao một thời rất đáng yêu bỗng nhiên mất đi hoàn toàn. Gerard Souzay đạt đỉnh cao vào những năm 50, nửa đầu 60. Nếu vào giai đoạn này âm vực quãng cao dùng giọng óc của Souzay nghe rất lịch lãm, giàu màu sắc thì trong những năm 70 Souzay bị phô rất nhiều trên các nốt cao. Âm vực quãng trầm cũng mất đi rất nhiều sức ấm, giọng hát mỏng đi. Bù lại, nhạc cảm và thể hiện lời thơ của Souzay lại phát triển. Ông nhả chữ rõ hơn, cố gắng thể hiện lời thơ rõ hơn đến từng chữ từng câu. Nói tóm lại, vào thời kì này, ông tiến gần đến phong cách của Fischer-Dieskau. Nhưng ông không thể nào vượt qua Fischer-Dieskau được và dần dần bị lãng quên. Năm 2004 khi ông qua đời, thê giới âm nhạc mới để ý đến ông. Hãng ghi âm nước Anh Testament đã phát hành lại một loạt những ghi âm những năm tuổi trẻ của Gerard Souzay và thế giới âm nhạc ngỡ ngàng trước một giọng hát thể hiện tác phẩm thanh nhạc thính phòng xuất sắc mà chưa ai từng biết. Nói như vậy không có nghĩa là những ghi âm những năm 70 của Souzay không có giá trị, tính chất giọng hát của ông vẫn còn đó và người nghe vẫn nghe được rõ ràng sự khác nhau giữa Souzay và Dietrich Fischer-Dieskau.
Có thể nói, nếu Dietrich Fischer-Dieskau là người đưa rất nhiều người đến với Lieder Đức thì Gerard Souzay là người đưa nhiều người đến với mélodie Pháp, và em cũng đã bắt đầu tìm hiểu mélodie Pháp kể từ lần đầu nghe Gerard Souzay. Em sẽ post một số sound file của Gerard Souzay sau.

phucphan
06-10-2006, 10:22
Tất cả những ghi âm sau đều là của Souzay trẻB-) :

Gerard Souzay hát melodie của Faure:

Dalton Baldwin, piano
Green (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Faure%20-%20green.mp3)
Mandoline (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Faure%20-%20mandoline.mp3)
Prison (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Faure%20-%20prison.mp3)


Jacqueline Bonneau, piano
Tristesse (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Gerard%20Souzay%20-%20tristesse.mp3)
Au bord de l'eau (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Gerard%20Souzay%20-%20au%20bord%20de%20l%27eau.mp3)
Apres un rêve (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Gerard%20Souzay%20-%20apres%20un%20reve.mp3)
Clair de Lune (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Gerard%20Souzay%20-%20clair%20de%20lune.mp3)
Arpege (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Gerard%20Souzay%20-%20arpege.mp3)
En Sourdine (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Gerard%20Souzay%20-%20en%20sourdine.mp3)

Gerard Souzay hát Dichterliebe của Schumann
Jacqueline Bonneau, piano
I, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2001.%20im%20wunderschonen%20monat%20mai.mp3
II, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2002.%20aus%20meinen%20tranen%20spriesen.mp3
III, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2003.%20die%20rose,%20die%20lilie,%20die%20taube, %20die%20sonne.mp3
IV, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2004.%20wenn%20ich%20in%20deinen%20augen%20seh.mp 3
V, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2005.%20ich%20will%20meine%20seele%20tauchen.mp3
VI, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2006.%20im%20rhein,%20im%20heiligen%20strome.mp3
VII, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2007.%20ich%20grolle%20nicht.mp3
VIII, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2008.%20und%20wustens%20die%20blumem,%20die%20kle igen.mp3
IX, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2009.%20das%20ist%20ein%20floten%20und%20geigen.m p3
X, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2010.%20horich%20das%20liedchen%20klingen.mp3
XI, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2011.%20ein%20jungling%20liebt%20ein%20madchen.mp 3
XII, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2012.%20am%20leuchtenden%20sommermorgen.mp3
XIII, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2013.%20ich%20habim%20traum%20geweinet.mp3
XIV, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2014.%20allnachtlich%20traume.mp3
XV, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2015.%20aus%20alten%20marchen.mp3
XVI, http://apomethe.dajoob.com/phucphan/dichterliebe%20op%2048-%2016.%20die%20alten,%20bosen%20lieder.mp3

1 trích đoạn về vai Golaud trong Pelleas và Melisande của Debussy. Đây là cảnh Golaud hỏi dò bé Yniold về Pelleas (em trai Golaud) và Melisande (vợ Golaud). Sau đó, Golaud bế Yniold lên, bắt bé theo dõi và báo cáo những diễn biến trong căn phòng của Melisande. Francoise Ogeas hát vai Yniold. Andre Cluytens chỉ huy, dàn nhạc đài phát thanh truyền hình Pháp.
Viens, nous allons nous asseoir ici, Yniold (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Pelleas%20et%20Melisande:%20Act%20II:%20Viens,%20n ous%20allons%20nous%20asseoir%20ici,%20Yniold.mp3)
Ah, petit pere, petite mere a allume sa lampe.mp3 (http://apomethe.dajoob.com/phucphan/Pelleas%20et%20Melisande:%20Act%20II:%20Ah,%20peti t%20pere,%20petite%20mere%20a%20allume%20sa%20lamp e.mp3)

Giọng hát tiếp theo: Gabriel Bacquier

Apomethe
07-10-2006, 04:09
Chú phucphan chăm quá, up từng ấy bài lên 4share. Anh đã chuyển tất cả đống đó sang một server rồi, cho dân tình dễ down hơn. Chú nghiên cứu thêm IT đi để anh đưa chú account của host upload cho nó tiện, khoản này YIH sẽ chỉ thêm.

À, nhớ là đặt tên file đàng hoàng chứ đừng ghi track 6 track 7 nữa nhé X(

phucphan
07-10-2006, 07:32
Hic hic bây giờ còn phải học tin nữa chứ, phức tạp ghê:-/ . YIH đâu? À bác Apo thì cũng tích cực ghê cơ nhỉ, 3-4 giờ sáng đã lên hoạt động rồi nhỉ;;) ?

phucphan
07-10-2006, 23:02
Gabriel Bacquier (1924-)
http://www.bm-st-etienne.com/abv/Specifique/coupsdecoeur/image/operette.jpg
Có lẽ bất cứ ai đã từng tìm hiểu opera Pháp một lần thì đã từng 1 lần bước qua cái tên Gabriel Bacquier. Giọng bass-baryton Pháp Bacquier là 1 trong số rất ít những giọng hát từ nước Pháp chiếm lĩnh rất nhiều vai chính trong nhiều vở opera quan trọng và là 1 cái tên khá phổ biến với các hãng ghi âm lớn trong những năm 50 và 60. Gabriel Bacquier được mệnh danh là "l'ambassadeur du beau chant francais" (sứ giả của tiếng hát Pháp).
Gabriel Bacquier sinh ngày 17 tháng 5 năm 1924 ở Beziers, 1 thị trấn nhỏ miền nam nước Pháp. Gabriel Bacquier theo học ở nhạc viện quốc gia Paris từ năm 1945 đến năm 1950 và tốt nghiệp với các giải thưởng cả về thanh nhạc cả về diễn xuất. Trong quá trình theo học ở nhạc viện, Bacquier cũng thường xuyên phải hát ở các phòng trà (cabaret) hay trong nhà hát chiếu phim (trong các đoạn entr'acte) để trang trải học phí. Sự nghiệp biểu diễn của ông bắt đầu từ năm 1953 với những chuyến lưu diễn cùng nhà hát hoàng gia Bruxelles. Năm 1956 ông tham gia biểu diễn ở nhà hát Opera-Comique (salle Favart) và sau đó vào năm 1960 ở nhà hát Opera quốc gia, Paris. Cũng trong năm 1960, Bacquier trở thành người Pháp đầu tiên hát vai Don Giovanni ở lễ hội âm nhạc Aix-en-Provence và biểu diễn vai Scarpia (Renata Tebaldi đóng vai Tosca). Sau đó ông lưu diễn ở Vienna, tiếp tục thành công với Don Giovanni và thành lập danh tiếng trở thành một baryton Mozart xuất sắc. Trong quá trình lưu diễn và ghi âm, ông dần dần chuyển trọng tâm sang opera Pháp. Nhờ danh tiếng mới của mình, Bacquier được mời biểu diễn ra mắt một số vai trong các vở opera hiện đại như Pour un Don Quichotte (Riviere) ở nhà hát Scala, Milan; Docteur me M.Thiriet (Lesur) ở nhà hát Opera-Comique và Andrea del Sarto (Lesur) ở nhà hát opera Marseille. Sự nghiệp lưu diễn quốc tế của ông mở rộng. Từ năm 1963 ông thường xuyên biểu diễn ở nhà hát Opera quốc gia Vienna, nhà hát Convent Garden, Anh; nhà hát Colon (Buenos Aires). Suốt 18 năm liền, ông được mời biểu diễn ở Metropolitan, New York, một danh dự mà ít giọng hát nào từ nước Pháp đạt được. Những vai diễn được ông thường xuyên biểu diễn: Don Giovanni, bá tước Almaviva, Mephistopheles trong "La damnation de Faust", Scarpia, Iago, Falstaff, 4 vai phản diện của "Contes d'Hoffmann", Arkel trong "Pelleas và Melisande", bá tước Des Grieux trong Manon (Massenet)...
Ông ghi âm rất nhiều, chủ yếu trong các vai opera Pháp. Tuy rất thành công trên ghi âm nhưng Gabriel Bacquier ít khi có những hợp đồng dài hạn với 1 hãng ghi âm cụ thể nào. Những ghi âm của ông đoạt nhiều giải thưởng. Năm 1963 là giải Charles Panzera và giải thưởng ghi âm quốc gia (Prix National du Disque), năm 1966 là giải Lily Pons. Ông ghi âm nhiều cho các đài phát thanh truyền hình và kể từ khi lưu diễn thì không thể đếm xuể những ghi âm xuất sắc của ông: Guillaume Tell, bá tước Des Grieux, Mephistopheles cho EMI, chùm 4 vai phản diện, Nikalantha, Falstaff cho Decca...Ông có công lớn trong việc đem lại sự chú ý cho nhiều vở opera hoặc operetta ít được để ý như Mireille (Gounod), La Jolie fille de Perth (Bizet), Sapho (Massenet)...Bacquier thường tập trung biểu diễn những vở opera hoàn chỉnh và rất ít biểu diễn recital aria hoặc thanh nhạc thính phòng. Bacquier là một người hát operetta và opera-bouffe xuất sắc và thường xuyên được mời biểu diễn thể loại này ở nhà hát Opera Lyon với những vai như Brissac (Mosquetaire au Couvent) hay Agamemnon (La Belle Helene). Gabriel Bacquier có một sự nghiệp biểu diễn rất dài và vẫn thường xuyên xuất hiện vào những năm ông đã hơn 70 tuổi.
Gabriel được rất nhiều giải thưởng danh giá trong sự nghiệp của mình, đặc biệt là các giải thưởng cao của Pháp nhờ những đóng góp lớn trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật: Officier du Merite National, commandeur des Arts et Lettres, chevalier de la Legion d'Honneur, medaille de vermeille de la Ville de Paris. Ông cũng là người góp phần thành lập nhiều tổ chức văn hóa của Pháp như Amis de Francis Poulenc, Honneur des Ecrivains et Artistes francais.
Về giọng hát của Gabriel Bacquier: Không khó gì tìm thấy những bản ghi âm của Gabriel Bacquier, ông từng ghi âm cùng nhiều cái tên lớn của opera như Joan Sutherland, Placido Domingo, Montserrat Caballe, Nicolai Gedda, Janet Baker, Beverly Sills, Richard Bonynge, James Levine, Sir Georg Solti...ông luôn được mời hát các vai baryton hoặc bass-baryton chính.
Cá tính. Đó là từ đầu tiên phải nhắc đến khi nói về Gabriel Bacquier. Không phải là giọng baritone đẹp nhất hay giàu sức mạnh nhất, nhưng Gabriel Bacquier luôn tìm ra những cách hiệu quả để nhập vai diễn và thể hiện nhân vật một cách hoàn chỉnh nhất. Bacquier thể hiện một cách hoàn hảo rất nhiều vai baryton, từ thái cực hài kịch đến thái cực phản diện và đi qua một loạt các vai kịch tính. Bacquier có thể làm tối giọng hát của mình một cách đáng kể để vào các vai kịch tính và làm nhẹ giọng hát của mình để hát các vai hài kịch. Ông là 1 trong những baryton xuất sắc nhất của nước Pháp, cùng hàng ngũ với Robert Massard, Ernest Blanc...Không phải là một giọng hát lớn nhưng khá đẹp, có một gu sân khấu đặc biệt xuất sắc, không lúc nào Bacquier không nhận ra tính sân khấu hoặc diễn xuất của bất cứ vai diễn nào của ông. Vì thế ông cũng thể hiện được tốt một số melodie đòi hỏi cá tính của những nhạc sĩ như Ravel hoặc Satie. Không phải bàn cãi gì về khả năng nhả chữ và chất Pháp hoàn hảo trong giọng hát của ông. Tính ngả mũi của người Pháp xuất hiện nhiều trong những vai trữ tình của ông hơn trong những vai kịch tính, khi ông thực sự tạo cho mình một chất giọng tối và một sự "hiện diện" (presence) đáng kể.
Cả 4 vai phản diện của ông trong "Contes d'Hoffmann" đều đạt đến sự hoàn thiện và không vai nào giống vai nào. 2 vai Nikalantha (Lakme) và bá tước Des Grieux (Manon) của ông tràn đầy chiều sâu và quyền thế, phù hợp với vai những người đứng đầu 1 dòng họ. Ông được đánh giá cao với bản thu hoàn chỉnh Guillaume Tell (Rossini) bằng nguyên bản tiếng Pháp của nhạc sĩ và tràn đầy cá tính với Mephistopheles trong Damnation de Faust (Berlioz). Trong các vai diễn của opera Ý, ông luôn để lại dấu ấn dù giọng hát của ông thiếu sức nặng điển hình cần trong các vai opera Ý. Với mélodie, ông thành công hơn với những melodie hài kịch, châm biếm nhiều hơn là những mélodie "chuẩn" của Faure, Debussy. Ông thể hiện Satie khiến người nghe cười ra nước mắt và được xem là người hát "Lịch sử tự nhiên" (Histoires naturelles) của Ravel thành công nhất. Để thể hiện các vai hài kịch, Gabriel Bacquier dùng đủ các biện pháp như gằn giọng, "nhè" chữ, giả thanh một cách xuất sắc. Bacquier biểu diễn đến tận những năm ông rất già và khi đó thường vào những vai phụ, ví dụ chùm vai phụ Schemil-Spalanzani-Crespel của Contes d'Hoffmann và vẫn đạt được thành công. Sau Gabriel Bacquier, opera Pháp có thêm 1 baryton nữa cái gì cũng hát, cái gì cũng thành công dù giọng hát kém cá tính hơn hẳn Bacquier-đó là Jose van Dam.
Gabriel Bacquier có lẽ là một trong những giọng hát bị coi nhẹ nhất và ít được nhắc đến nhất của âm nhạc thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2 dù mọi người đều cho rằng những gì ông đạt được trong phòng thu và trên sân khấu đều rất thành công. Đóng góp của ông cho opera Pháp phải nói là khổng lồ và ông xứng đáng với danh hiệu "sứ giả của tiếng hát Pháp".

Số tiếp theo: Alain Vanzo, Henri Legay.

phucphan
08-10-2006, 12:23
Em cứ post tạm theo 4shared đã, có gì cu YIH hay bác Apo chỉ dẫn cho em sau về vụ host mới a#:-S .

Một số trích đoạn qua giọng hát của Gabriel Bacquier:
-Scene và arietta của bá tước Des Grieux. trích màn 3, cảnh 2, Manon (Massenet):
Nicolai Gedda...Kị sĩ Des Grieux
Julius Rudel chỉ huy dàn nhạc New Philharmonia.
http://www.4shared.com/file/4388592/95f0123a/12_bravo_mon_chersucces_complet.html

-Aria và cảnh bắn cung, trích màn 3, cảnh 2, Guillaume Tell (Rossini):
Gabriel Bacquier...Guillaume Tell
Mady Mesple...Jemmy
Louis Hendrikx...Gessler
Montserrat Caballé...Mathilde
Lamberto Gardelli chỉ huy dàn Royal Philharmonic
http://www.4shared.com/file/4388593/e2f722ac/16_sois_immobile_et_vers_la_terre.html
http://www.4shared.com/file/4388602/4674172a/17_victoire_victoire.html

-5 aria/scene của 4 nhân vật phản diện trong "Contes d'Hoffmann" (Offenbach):
Gabriel Bacquier...Lindorf/Coppelius/Dapertutto/Docteur Miracle
Joan Sutherland...Giulietta/Antonia
Placido Domingo...Hoffmann
Huguette Tourangeau...Nicklausse; Paul Plishka...Crespel; Margarita Lilowa...Mẹ Antonia
Richard Bonynge chỉ huy dàn nhạc Suisse Romande, Thụy Sĩ
http://www.4shared.com/file/4388699/6475eb/dans_les_roles_damoureux_langoureux.html
http://www.4shared.com/file/4388729/e252c617/jai_des_yeux_de_vrais_yeux.html
http://www.4shared.com/file/4388749/b4086191/scintille_diamante.html
http://www.4shared.com/file/4388736/6bf6eac7/que_veux-tu_fairepour_conjurer_le_danger.html
http://www.4shared.com/file/4388759/ad1350d0/tu_ne_chanteras_plus_sais-tu_quel_sacrifice.html

http://perso.orange.fr/nelly.charbonneaux/images/pintade.jpg
La Pintade (con gà sao)

-Gabriel Bacquier hát "Lịch sử tự nhiên" (Histoires naturelles) - Ravel
Dalton Baldwin, piano
I, Le Paon
http://www.4shared.com/file/4388607/361ee3a5/07_histoires_naturelles_song_cycle_for_voice__pian o-_no_1_le_paon-_il_va_surement_se_marier_aujourdhui.html
II, Le Grillon
http://www.4shared.com/file/4388608/a6a1fe34/08_histoires_naturelles_song_cycle_for_voice__pian o-_no_2_le_grillon-_cest_lheure_ou_las_derrer_linsecte_negre_revient_ de_pr.html
III, Le Cygne
http://www.4shared.com/file/4388616/5802e272/09_histoires_naturelles_song_cycle_for_voice__pian o-_no_3_le_cygne-_il_glisse_sur_le_bassin_comme_un_traineau_blanc.h tml
IV, Le Martin-Pecheur
http://www.4shared.com/file/4388617/2f05d2e4/10_histoires_naturelles_song_cycle_for_voice__pian o-_no_4_le_martin-pecheur-_ca_na_pas_mordu_ce_soir_mais_je_rapporte_une_rare .html
V, La Pintade
http://www.4shared.com/file/4388647/527226a1/11_histoires_naturelles_song_cycle_for_voice__pian o-_no_5_la_pintade-_cest_la_bossue_de_ma_cour.html

-Gabriel Bacquier hát 3 mélodie hài kịch của Satie
L'omnibus automobile:
http://www.4shared.com/file/2848308/6c8d1427/lomnibus_automobile.html
Chez le docteur:
http://www.4shared.com/file/2848281/dc4a4cbc/chez_le_docteur.html
Allons-y, Chochtotte!
http://www.4shared.com/file/2848291/c5517dfd/allons-y_chochotte.html

yes_Iam_here
08-10-2006, 17:37
Ui ui, ku phúc có complete Guillaume Tell bản của Caballe k0, up đê!!
Quên, APo nó còn nhỏ hơn tớ 1 tuổi mà lúc nào cậu cũng lễ phép với nó thế hả -> ghen tị :-w

phucphan
12-10-2006, 12:16
Alain Vanzo (1928-2002)
http://www.onlineenzyklopaedie.de/Images/a/alain_vanzo.jpg
Alain Vanzo có thể coi là giọng tenor trữ tình nổi tiếng nhất của Pháp trong những năm ngay sau chiến tranh thế giới thứ 2. Cùng với Gabriel Bacquier, Alain Vanzo có công rất lớn trong việc phục hồi cả 1 trường phái tác phẩm opera Pháp những năm sau thế chiến 2. Cái chết của ông vào ngày 27-1-2002 trong một bệnh viện ở Paris đánh dấu sự chấm dứt của cả 1 trường phái biểu diễn-trường phái biểu diễn của Pháp sau thế chiến 2. Ông đã hát hầu hết tất cả các vai tenor chính quan trọng của opera Pháp, nhiều vai opera Ý và được coi là người kế vị của giọng tenor huyền thoại Georges Thill ở nhà hát Opera Paris.
Alain Vanzo sinh ngày 2-4-1928 ở Monaco, bố của ông là một người gốc Ý. Alain Vanzo tham gia dàn hợp xướng ở nhà thờ từ khi còn rất nhỏ. Năm 18 tuổi, Alain Vanzo tham gia biểu diễn với nhóm "Le Bastringue", một dàn nhạc nhỏ cấp địa phương. Năm 1950, Alain Vanzo đến Paris và học hát chính thức với Rolande Dracoeur. Để trang trải tiền học, Alain Vanzo chơi nhiều nhạc cụ và hát nhiều âm nhạc phòng trà hoặc các aria operetta cùng nhóm nhạc Tzigane 'Les Vinitzky". Cũng trong giai đoạn này (1951-1952), Alain Vanzo vừa học hát, vừa bắt đầu tham gia biểu diễn trong các vai phụ trong các vở opera-comique hoặc operetta và thậm chí tham gia đóng thế cho giọng tenor operetta nổi tiếng Luis Mariano ở nhà hát Châtelet trong vở Le Chanteur de Mexico trong một số lần dàn dựng ở Paris.
Sự nghiệp biểu diễn của Alain Vanzo chính thức bắt đầu vào năm 1954 ở Cannes khi ông giành giải nhất trong một cuộc thi cho giọng hát tenor mang tên Mario Podesta. Ông lập tức có hợp đồng với nhà hát Opera quốc gia Paris (Garnier) và nhà hát Opera Comique. Trong những năm từ 1954 đến 1957 Alain Vanzo đóng nhiều vai, chủ yêu là opera Pháp, cả vai chính và vai phụ và ông gặp gỡ với những cái tên quan trọng của opera Pháp vào thời bấy giờ. Năm 1957, sau một thành công rực rỡ trong vai Edgardo trong Lucia di Lammermoor (Donizetti), sự nghiệp biểu diễn quốc tế của Alain Vanzo bắt đầu chính thức bắt đầu và ông thường xuyên được mời đóng những vai chính. Những vai quan trọng của ông: Don Ottavio, bá tước Mantua, Chevalier Des Grieux (bản của Massenet), Cavaradosssi, Edgardo, Alfredo. Ông thường xuyên lưu diễn ở các nhà hát quan trọng của các thành phố lớn như London, Rome, Barcelona, Lisbonne, Bruxelles, Edinbourgh, Vienna, Montréal, New York, San Francisco và Buenos Aires. Cuối những năm 60, ông hầu như dồn hết sự tập trung của mình vào các vai trữ tình (lyric) hoặc kịch tính-trữ tình (lirico spinto) Pháp. Ông trở thành một người biểu diễn xuất sắc các vai Werther (Massenet), Benvenuto Cellini (Berlioz), Faust (Gounod), Don Jose (Bizet), Hoffmann (Offenbach), Robert le Diable (Meyerbeer). Ông trở thành giọng tenor trữ tình nổi tiếng nhất của Pháp trong suốt những năm 70, 80. Placido Domingo thừa nhận Alain Vanzo là một trong những nguồn cảm hứng lớn của ông trong danh mục biểu diễn opera Pháp.
Kho tàng ghi âm của Alain Vanzo phải nói là đáng khâm phục. Cũng như Gabriel Bacquier, ông ghi âm cho rất nhiều hãng ghi âm và ghi âm rất nhiều nhưng hầu như không đứng yên với bất cứ hợp đồng nào. Ngoài ra, rất nhiều người cho rằng những ghi âm hay nhất của Vanzo là những ghi âm "pirate" những lần biểu diễn trực tiếp của ông chứ không phải là những gì ông đem đến trong phòng thu. Trong sự nghiệp kéo dài hơn 30 năm của mình, Alain Vanzo đã hát dưới sự chỉ huy của nhiều nhạc trưởng danh tiếng và với những cái tên quan trọng của opera thế kỉ 20. Tuy ghi âm khá đa dạng nhưng những ghi âm hay nhất của Vanzo đều nằm trong danh mục tác phẩm bằng tiếng Pháp. Cũng như Gabriel Bacquier, Alain Vanzo chủ yếu tập trung ghi âm các opera hoàn chỉnh chứ ít biểu diễn recital. Vanzo cũng ít biểu diễn melodie hay các tác phẩm thanh nhạc độc lập.
Về giọng hát của Alain Vanzo: Giọng hát của Alain Vanzo là điển hình, thậm chí là thỏa mãn hoàn hảo "định kiến" của khán giả opera hiện đại về các giọng tenor Pháp: Ngả mũi, nhẹ kí, nhiều lúc giống falsetto dù thực tế không phải như vậy. So với phong cách hát của tenor Ý, giọng hát của Alain Vanzo cần một ít thời gian để làm quen. Khi người nghe đã quen được với tiếng hát của Vanzo, nó bộc lộ những phẩm chất tuyệt vời của một giọng hát Pháp: trong trẻo, legato hoàn hảo, rất có gu, nhả chữ tốt và đầy chất thanh lịch rất Pháp. Tuy không có chất "đực rựa" thường đòi hỏi ở các vai tenor chính của opera Ý nhưng chất Pháp mơ mộng, lịch lãm lồng lộng trong giọng hát của Alain Vanzo dễ dàng gây được cảm tình với người nghe. Với bộ phận khán giả opera nói tiếng Pháp, tiếng hát của Alain Vanzo dễ tiếp cận hơn rất nhiều. Khi đã quen với những âm thanh mỏng, hơi ngả mũi của Vanzo, không có nghi ngờ gì cả-đó là một chất giọng rất đẹp và êm dịu. Vanzo được mệnh danh là hoàng tử của các giọng tenor Pháp (Georges Thill được đánh giá là vua).
Tuy giọng hát rất bay bổng và nhẹ nhõm nhưng Alain Vanzo rất biết cách xử lí giọng hát để phù hợp với cả những khoảnh khắc kịch tính nặng nề nhất của một vai diễn. Tập trung vào những vai trữ tình, Vanzo giữ được giọng hát trong trẻo, bay bổng của mình suốt sự nghiệp dù nó có tăng lên về sức nặng và độ tối vào những năm nửa sau sự nghiệp của ông. Tuy chưa xem Vanzo trên sân khấu nhưng qua các ghi âm, Vanzo bộc lộ một khả năng nhập vai hoàn hảo. Giọng hát của Alain Vanzo lên được đến D2 (contre-ré) nhưng người nghe có cảm giác ông falsetto từ những la, si...Thực tế, tenor Pháp có truyền thống sử dụng một kĩ thuật thanh nhạc gọi là voix mixte-đại khái có thể hiểu là falsetto từ 1/4 đến 1/3. Nó đủ "ăn gian" để tenor Pháp có thể lên được rất cao nhưng cũng giữ lại đủ giọng thật của ca sĩ để họ có thể điều khiển được những âm phát ra (hiểu về kĩ thuật đặc biệt này, trong bản "LUCIE de Lammemoor" bằng tiếng Pháp, Donizetti cho tenor hát Edgard lên đến tận E2).
Chất Pháp hoàn hảo là đặc điểm quan trọng nhất cần nhắc đến khi nhắc đến Alain Vanzo: nhả chữ, legato, mezza voce và sotto voce tốt. Khả năng nhập vai tuyệt vời cho phép Vanzo thể hiện xuất sắc mọi vai diễn của mình một cách xuất sắc. Vai Nadir của Alain Vanzo trong "Pecheurs de Perles" (Bizet) từ lâu vẫn được coi là hoàn hảo. Vanzo ghi âm vai Nadir rất nhiều lần. Aria khó nổi tiếng 'je crois encore entendre" qua giọng hát của Vanzo được thể hiện tuyệt vời: nốt chuẩn xác, độ legato và đường nét hoàn hảo. Vanzo được chọn làm Gerald cho ghi âm Lakme của Sutherland và Bonynge và chưa ai hát được Gerald tuyệt vời như Vanzo. Vanzo cũng là một Faust, Romeo và Werther xuất sắc. Vanzo có công lớn trong việc phục hồi một số vở Grand opera của Meyerbeer: les huguenots và Robert le Diable. 2 vai Robert và Raoul của Vanzo là chuẩn mực về chất Pháp, sự tinh tế, bay bổng.
Alain Vanzo cũng góp công hồi phục rất nhiều vở opera và operetta của Pháp như Jongleur de Notre Dame (Massenet), Grande Duchesse de Gerolstein (Offenbach), Le Roi d'Ys (Lalo)...Với vai diễn Pháp nào Alain Vanzo cũng đem đến những chuẩn mực, chưa từng một câu nhạc nào ông hát lại thiếu độ tinh tế, độ liền mạch. Tuy không thực sự tin tưởng vào những vai tiếng Ý của Vanzo, lịch sử đã nhiều lần chứng kiến Vanzo đem đến những lần biểu diễn xuât sắc những vai tiếng Ý: Trong "Lucia di Lammermoor" với một Sutherland trẻ tuổi và "Lucrezia Borga" với Montserrat Caballe.
Với Alain Vanzo, cả một thế hệ và một truyền thống biểu diễn đã chấm dứt. Một sự nghiệp song song với những Domingo, Pavarotti, Kraus và Gedda và tập trung vào một danh mục ít phổ biến hơn, dễ hiểu vì sao Alain Vanzo ít được khán giả ngày nay biêt đến. Nhưng những ai muốn thực sự biết thế nào là opera Pháp, là tiếng hát Pháp đều phải ít nhất một lần biết đến tiếng hát êm ái, nhẹ nhõm, bay bổng, đầy mơ mộng của Alain Vanzo.
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _

Henri Legay (1920-1992)
http://i10.ebayimg.com/03/i/01/88/f7/5a_1_b.JPG
Henri Legay là một giọng tenor trữ tình Pháp khác được đánh giá rất cao sau chiến tranh thế giới thứ 2. Một cái tên khá quen thuộc với những thế hệ khán giả opera trước đây của Pháp, Henri Legay là một người biểu diễn opera-bouffe và opera comique xuất sắc. Ông học ở nhạc viện Paris. Thật thú vị khi biết rằng trong suốt những năm học nhạc viện, Henri Legay phải hát trong các phòng trà (cabaret) và biểu diễn nhạc nhẹ và chơi guitar để kiếm sống và trang trải tiền học. Thậm chí trước khi có một sự nghiệp opera khá đáng khâm phục, Legay đã từng nổi tiếng với âm nhạc cabaret và thường xuyên biểu diễn với nghệ sĩ cabaret nổi tiếng Bourvil. Tuy vậy, Legay vẫn tốt nghiệp Nhạc viện năm 1947 với giải nhất về thanh nhạc của nhạc viện. Ông có lần biểu diễn ra mắt trên sân khấu opera chuyên nghiệp vào năm 1950 ở Brussels và những thành công của ông đã đem đến một hợp đồng ở nhà hát Opera-Comique cho ông. Henri Legay chủ yếu biểu diễn ở Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ. Các vai quan trọng của ông ở nhà hát Opera Comique: Des Grieux (bản của Massenet), Gerald (Delibes), Nadir, Don jose, Werther, Hoffmann, Faust...). Cũng như Vanzo, Legay cũng biểu diễn một số vai tiếng Ý và Đức nhưng danh tiếng của ông hầu như nằm toàn bộ trong danh mục tiếng Pháp. Henri Legay sáng tác hơn 350 bài hát và có cả một vở comédie musicale.
Giọng hát rất nhẹ của Henri Legay phù hợp với thể opera comique và operette, ngay cả khi ông đạt được rất nhiều thành công với những vai trữ tình Pháp. Sau khi 2 thể loại này chịu một sự lãng quên đáng kinh ngạc trong những năm 60, 70, 80 của thế kỉ trước, cái tên Henri Legay trở nên ít phổ biến hơn hẳn. Ngày nay, Henri Legay chủ yếu được biết đến trong cuơng vị là một Chevalier Des Grieux xuất sắc cho bản thu Manon tuyệt vời với Victoria de Los Angeles trong vai chính. Con gái của Henri Legay, Aurelie Legay, cũng mới bắt đầu sự nghiệp thanh nhạc của mình. dù chưa gây được ấn tượng gì đặc biệt.
Về giọng hát của Henri Legay: Lần đầu tiên nghe Henri Legay hát Chevalier Des Grieux trong Manon, em suýt ngã gục: em chưa nghe thấy một giọng tenor nào nhẹ, mỏng (và yếu) đến như vậy. Nó mỏng và nhẹ hơn cả giọng của Vanzo. Nhưng sau đó em đã quen với giọng hát này rất nhanh vì chất Pháp tuyệt vời của nó: nhả chữ tốt, legato tuyệt vời. Legay có khả năng pianissimo tuyệt vời và có một chất giọng óc tuyệt đẹp. Giọng hát của Henri Legay là giọng tenor êm nhất mà em từng nghe, cũng là một trong những giọng hát bay bổng nhất. Sau khi tìm nghe thêm một số vai nữa, Legay còn bộc lộ một óc hài hước và diễn xuất tuyệt vời.
Rất nhiều người đã hát vai Chevalier Des Grieux thành công, và bản của Legay rất khác biệt: Đó là bản Pháp nhất và bay bổng nhất. Tuy mọi người hẳn sẽ thích những giọng tenor đầy đặn hơn trong vai này như Gedda, Alagna hay Kraus nhưng Legay tạo ra một ấn tượng đặc biệt: Legay hát Chevalier Des Grieux như một chàng trai 19 tuổi, và de Los Angeles hát Manon như một cô gái 16-18 tuổi. Cặp Manon-Des Grieux này là một trong những cặp đôi trẻ trung và đáng yêu nhất trên một ghi âm opera mà em từng được nghe. Xét cho cùng, nhân vật Chevalier Des Grieux là một nhân vật non trẻ, nông nổi và nhẹ dạ. Vì vậy, cách thể hiện Des Grieux của Legay, dù quá nhẹ kí so với những Des Grieux nổi tiếng khác, là hoàn toàn thuyết phục: bay bổng, lãng mạn nhưng nông cạn. Legay hát aria "Fuyez, douce image" cũng xúc động như bất cứ tenor nào khác.
Legay có thể không phải là một lựa chọn tốt cho những vai trữ tình hoàn chỉnh của opera Pháp và Ý nhưng là một người thể hiện operette và opera comique xuất sắc. Em đặc biệt thích 2 vai Barbe-bleu (Offenbach) và Maraouf (Rabaud) của Legay.

Số tiếp theo: Renée Doria - Robert Massard - Michel Senechal

phucphan
16-10-2006, 01:05
Một số trích đoạn qua giọng hát của Alain Vanzo và Henri Legay, 2 tenor Pháp với giọng hát trữ tình đẹp như giọng con gái...chẹp chẹp;;) ...
http://www.allelectricproductions.co.uk/opera/opera_images/pearl_fishers.jpg
-Bizet: Những người mò ngọc trai
1, Duo "Au fond du temple saint"
Alain Vanzo (Nadir); Gabriel Bacquier (Zurga); Manuel Rosenthal, dàn nhạc đài phát thanh truyền hình Pháp.
http://www.4shared.com/file/4621496/f42a7a8c/07_au_fond_du_temple_saint.html
Henri Legay (Nadir), Michel Dens (Zurga), Andre Cluytens, dàn nhạc nhà hát Opera-Comique.
http://www.4shared.com/file/4621583/9c99d575/06_les_pecheurs_de_perles-_au_fond_du_temple_saint.html

2, Air: "Je crois encore entendre"
Alain Vanzo:
http://www.4shared.com/file/4621485/74381a77/13_je_crois_entendre_encore.html
Henri Legay:
http://www.4shared.com/file/4621479/fa164a93/11_les_pecheurs_de_perles-_je_crois_encore_entendre.html

-Massenet: Manon
1, Cảnh gặp mặt của Manon và Des Grieux:
Alain Vanzo (Des Grieux), Renee Doria (Manon), Jesus Etcheverry
http://www.4shared.com/file/4621834/e9d10a4e/18_manon-_jai_marque_lheure_de_depart.html

2, Air "Je suis seul...Ah, fuyez, douce image" và cảnh nhà thờ Saint-Sulpice:
Henri Legay (Des Grieux), Victoria de Los Angeles (Manon), Pierre Monteux, dàn nhạc nhà hát Opera-Comique.
http://www.4shared.com/file/4621759/ca669648/14_je_suis_seulah_fuyez_douce_image.html
http://www.4shared.com/file/4621738/eb3b0158/15_pardonnez_moi_dieux_puissants.html
http://www.4shared.com/file/4621758/bd61a6de/16_oui_je_fus_cruelle_et_coupable.html
http://www.4shared.com/file/4621876/63b3ae66/17_nest_ce_plus_ma_main.html

-Gounod: Faust
Recit et Air: "Quel trouble...salut, demeure"
Alain Vanzo (Faust), Gustave Cloez
http://www.4shared.com/file/4621695/6ea7ff58/12_faust-_salut_demeure_chaste_et_pur.html

-Gounod: Romeo và Juliette
1, Recit et air "L'amour...Ah, leve-toi, soleil"
Alain Vanzo (Romeo), Roger Albin
http://www.4shared.com/file/4621699/6711b373/13_romeo_et_juliette-_ah_leve-toi_soleil.html

2, Cảnh hầm mộ:
Alain Vanzo (Romeo), Andre Esposito (Juliette), Roger Albin
http://www.4shared.com/file/4621737/7b841cc9/14_romeo_et_juliette-_cinquieme_acte.html

-Rabaud: Maraouf, người đánh giầy thành Cairo
1, Air: "Il est des musulmans dans la ville de Caire"
Henri Legay (Maraouf), Pierre-Michel LeConte, dàn nhạc đài phát thanh truyền hình Pháp.
http://www.4shared.com/file/4621602/2101d1b2/01_marouf-_il_est_des_musulmans_dans_la_ville_du_caire.html

2, Couplets: "A travers le desert..Ma caravane"
http://www.4shared.com/file/4621589/7c4c3c6b/17_marouf-_le_salam_sur_toia_travers_le_desert.html

phucphan
16-10-2006, 06:29
Thais, Athanael và Nicias - Renee Doria, Robert Massard, Michel Senechal
http://i10.photobucket.com/albums/a142/maldaen/eyeofhorus.jpg
Âm nhạc của Jules Massenet (1842-1912) ngày nay là một trọng tâm của danh mục opera Pháp, với một loạt những aria đã trở thành những concert piece ưa thích của hầu hết mọi giọng ca trên thế giới. Thế nhưng đã có một thời âm nhạc của Massenet bị thoái trào một cách trầm trọng trước những đột biến trong bút pháp sáng tác của Faure, Debussy, Ravel trên đất Pháp và một loạt các nhạc sĩ khác khắp châu Âu, đến mức một cuốn từ điển bách khoa danh tiếng đã từng viết "chỉ cần nghe Manon là không cần phải nghe gì thêm ở Massenet nữa". Âm nhạc của Massenet có một sự "hồi sinh" đáng kể trong những năm từ 60 đến 80 của thế kỉ trước. Đến nay, Massenet là một trong những nhạc sĩ đầu tiên phải nhắc đến mỗi khi nhắc đến opera Pháp. Werther, Le Cid, Esclarmonde, Cendrillon, Cleopatre, Thais, Le Roi de Lahore...lần lượt bước ra khỏi quên lãng và liên tục đạt được những thành công trên sân khấu.
Một người không thông thạo lắm về opera cũng chắc chắn đã ít nhất một lần biết đến "Thais" (phát âm: Ta-ít-xơ) qua bản "méditation violon" nổi tiếng. Đó là entr'acte giữa 2 cảnh của màn 2 của Thais. Thais là một vở opera 3 màn, livret của Louis Gallet dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Anatole France. Giai điệu đẹp, phối khí cầu kì, đầy chất "exotisme" (tạm dịch: đặc sản/:) ), lời hát được phổ nhạc tự nhiên như nói - đó là những đặc điểm quan trọng của Thais. Thais là một vai rất khó, 3 lần lên đến nốt rê thường (D3#) trên high C; Massenet viết nó tặng cho giọng soprano người Mỹ Sybil Anderson. Thais đã được thể hiện qua 1 số giọng hát nổi tiếng nhưng không lần nào thành công hoàn chỉnh : Anna Moffo (hát nói chung bình thường), Beverly Sills (khá hơn, nhưng diễn hơi quá và hay bị chói), gần đây nhất là Renee Fleming (không phải chê gì về giọng hát, nhưng không hề nắm bắt được phong cách hát Pháp).
3 nghệ sĩ trong số này là 3 vai chính trong một bản thu Thais đội hình đặc Pháp vào năm 1961. Tuy không hoàn chỉnh trên nhiều phương diện nhưng bản thu này được nhiều người yêu thích đặc biệt.
http://www.colba.net/~prousso/musique/sopranos/doria/doria.jpg
Renée Doria sinh năm 1921, một giọng hát màu sắc thường xuyên biểu diễn trong những năm 50-60 của thế kỉ 20 ở Pháp. Tên thật là Renee Dumazert, Doria học hát ở nhạc viện thành phố Marseilles, miền nam Pháp. Lần ra mắt đầu tiên là vào năm 1942 ở Marseilles trong vai Rosina (Barbiere di Siviglia-Rossini). Bà ra mắt ở Paris năm 1943 vai Lakme (Delibes) và cũng trong vai đó ra mắt lần đầu ở nhà hát nổi tiếng Opera Comique. Năm 1947 Doria đóng vai Nữ hoàng bóng đêm (Mozart). Renee Doria biểu diễn nhiều vai màu sắc, trữ tình, sau khi đạt được danh tiếng tập trung vào danh mục Pháp và biểu diễn ở Pháp và các nước láng giềng.
Năm 1948 bà hát cả 4 vai nữ trong "contes d'hoffmann" (Offenbach) và là một trong những người đầu tiên ghi âm vai Olympia dưới baton của Andre Cluytens. Từ năm 1949 đến năm 1952, Doria ghi âm cho EMI France. Năm 1959 Doria kí hợp đồng với Decca France. Bà là một người có công lớn trong việc phục hồi nhiều vở opera "bị lãng quên" như Sapho (Massenet), Mireille (Gounod). Renee Doria hát rất ít ở nước ngoài (từng lưu diễn ở Met) và hát rất ít vai tiếng nước ngoài (chỉ có 1 vài vai tiếng Ý như Violetta, Lucia và đã hát cả 2 vai này bằng tiếng Pháp). Renee Doria có một danh mục khổng lồ gồm 75 vai lưu diễn và 125 vai ghi âm/phát thanh;;). Trong số đó: Thais, Manon, Mireille, Lakme, Hanna (Veuve Joyeuse-Lehar)...Renee Doria là một học trò của giọng soprano kịch tính Pháp Ninon Vallin. Giọng hát của Renee Doria lên đến G3, tuy em chắc chắn là em sẽ không muốn nghe G3 của bà#:-S.
Thais là một trong những vai yêu thích của Renee Doria và bà thú nhận cách luyện giọng của bà như sau: "Mở đầu bằng "aria gương soi" của Thais, hát kĩ lựa chọn thấp (đến Si), sau đó đến lựa chọn chuẩn (đến rế 3) sau đó là một lựa chọn riêng (fá 3)".
Giọng hát và vai Thais của Doria: Giọng hát của Renee Doria với những tai nghe nhạc ngày nay cần một quá trình "warm-up" đáng kể. Chất giọng của Doria là điển hình cho các giọng hát màu sắc Pháp cũ: nhẹ, ngả mũi, âm sắc rất chua, mỏng, trung âm và âm trầm yếu. Doria nhả chữ rõ nhưng đôi khi nhả chữ hơi thái quá. Bù lại, những đặc điểm thế mạnh: legato đẹp, trong trẻo ở quãng trung và quãng cao, pianissimo tốt, điều khiển hơi tuyệt vời, nhập vai tốt, lồng lộng chất Pháp, chỉ nghe qua biết ngay là một giọng hát Pháp.
Vai Thais của Doria: Trong màn 1, giọng hát của Doria thiếu sức nặng và kịch tính để hát được "ra" vai kỹ nữ Thais. Aria mở đầu màn 2: "Aria gương soi" cũng vậy, rất thiếu sự gợi cảm cần cho vai diễn, 2 nốt cao trào Si thường và rê thường chói, rát, chua loét dù bà nhập vai rất đạt và không phải chê gì về chất Pháp hoàn hảo. Với những phần viết nặng cho giọng hát như vậy, bản của Fleming đạt hơn nhiều: trung âm dầy cồm cộp, âm cao êm, không hề chói, giọng hát lớn nên thực sự gây chú ý. Nhưng Fleming không hề để ý một chút nào đến chất Pháp của Thais: phát âm không tồi nhưng nhả chữ kém, Fleming cũng portamento rất thô bạo và có thói quen thở rất mạnh vào đầu mỗi câu làm legato bị đứt quãng, dù không phải là Fleming legato không tốt. Bản của Sills khá hơn, giọng hát của Sills hơi chói nhưng khá hơn Doria, bà hơi quá điệu đà với Thais nhưng trong nửa đầu đó là sự lựa chọn đúng và Sills phát âm tiếng Pháp rất chuẩn (học nhạc ở Paris mà).
Từ cảnh 2 màn 2 trở đi (sau đoạn meditation), Doria hát hay hơn hẳn Fleming và Sills. Trong khi 2 soprano người Mĩ vẫn còn bận điệu đà, trải chuốt thì cách hát trực tiếp, trong trẻo đến lạ thường của Doria tạo ra một chân dung mới của Thais thuyết phục hơn nhiều. Toàn bộ phần viết cho Thais từ đoạn này trở đi đòi hỏi ít hơn hẳn nửa đầu và lối hát đơn giản của Doria tuyệt hơn nhiều so với sự tính toán quá cầu kì của Fleming và Sills. Cuối màn 3 cảnh 1, Doria hát một nốt La, giữ nó qua suốt phần của Thais, qua 1 đoạn "Amen" ngắn của hợp xướng và qua suốt câu mở đầu của đoạn "meditation" với một âm lượng pianissimo hoàn hảo. Chị béo học tập nghe!

16
Không phải giới thiệu nhiều về giọng bass-baritone Pháp Robert Massard. Tất cả mọi người hãy lấy bản thu Carmen của dàn Callas-Gedda-Pretre. Robert Massard là người hát Escamillo trong bản thu này. Tuy nhiên em cho rằng Escamillo không phải là một vai thật tốt của Massard (và em cũng không thích vai Escamillo).
Robert Massard sinh năm 1925. Ông học ở nhạc viện Paris và biểu diễn ra mắt vào năm 1952 ở nhà hát opera Garnier, vai giáo chủ trong "Samson et Dalila" và cũng trong năm đó hát vai Thoas trong một lần hồi phục "Iphigenie en Tauride" của Gluck ở lễ hội Aix-en-Provence. Robert Massard tiếp tục hát ở nhà hát Opera Garnier trong vòng 24 năm đến năm 1976 và sau đó lưu diễn một loạt đến những nhà hát như Convent Garden, Bolshoi, Edinburgh và La Scala. Ông hát trong một vài lần công diễn ra mắt như trong vở Numance của Henry Barraud vào năm 1955 ở Opera Garnier. Các vai diễn nổi tiếng của ông: Escamillo (Carmen-Bizet), Enrico Ashton (Lucia-Donizetti), Bá tước trong Capriccio (Strauss), Ramiro (trong Giờ Tây Ban Nha-Ravel), Valentin (trong Faust-Gounod), Chorebe (Les troyens-Berlioz). Robert Massard, với sự giúp đỡ của Regine Crespin, chủ yếu được biết đến với vai trò phục hồi những vở opera tiếng Pháp của Gluck và Berlioz trong những năm 60 của thế kỉ 20.
Giọng hát và vai Athanael của Robert Massard: Người Pháp có khá nhiều giọng baritone trong opera: Michel Dens, Gabriel Bacquier, Robert Massard. Ernest Blanc...Trong số đó, Robert Massard có thể coi là người có giọng hát đẹp nhất: giọng hát dày, sâu thăm thẳm, tối, đều. Massard không diễn xuất nhiều lắm nhưng có thể nhào nặn giọng hát của mình vào những vai rất trữ tình (như Valentin, Boniface) hay dùng sức nặng của nó trong những vai kịch tính (Athanael, Chorebe).
Robert Massard hát vai Athanael đầy trăn trở, dằn vặt, hoàn thành xuất sắc từ thái cực trữ tình (màn 1) đến kịch tính (scene final và nửa đầu "màn ốc đảo'). Đôi khi hơi "lười" một chút nhưng Massard thể hiện Athanael gần hoàn hảo và là điểm mạnh nhất của ghi âm Thais này.

http://www.cs.princeton.edu/~san/senechal.jpg
Hãy tưởng tượng Nicolai Gedda ngậm một củ khoai nóng trong mồm, lấy tay bịt mũi và "nhờ" một người thứ 2 bóp cổ. Trong trạng thái này, cu cậu cố gắng hát thật dõng dạc. Đại khái lúc đó sẽ ra một âm thanh gần giống với giọng hát của Michel Senechal.
Nếu mọi người nghĩ rằng em đang miêu tả giọng hát tồi tệ nhất thế giới thì cũng...không hẳn. Michel Senechal, giọng tenor buffo người Pháp, cùng với Alain Vanzo và Gabriel Bacquier, là một trong những giọng hát Pháp được đòi hỏi nhiều nhất trong những lần lưu diễn nước ngoài. Michel Senechal sinh ngày 11-2-1927, mở đầu sự nghiệp với một số vai tenor trữ tình hoàn chỉnh và hát baroque rất nhiều nhưng từ năm 1957, sau Les Indes Galantes, Michel Senechal chuyển sang các vai tenor buffo (character tenor) và được đánh giá rất cao. Ông bắt đầu biểu diễn, chủ yếu ở nhà hát Opera-Comique, sau đó danh tiếng của ông lan rộng khắp thế giới và lưu diễn ở Vienna, Glyndbourne, Metropolitan-New York, Salzbourg, đa số đều với những vai tenor bufo, có một số ít những vai hài kịch trữ tình như bá tước Ory (Rossini) hay các vai tenor của Britten trong những bản dịch tiếng Pháp, vai Montsegur trong lần ra mắt vở opera cùng tên của Marcel Landowski...
Âm sắc của Senechal, như đã nói ở trên, rất "khó tả", nó hơi bẹt bẹt, nhẹ, ngả mũi rất nặng nhưng lại có những thế mạnh làm ông vượt qua hầu hết các giọng tenor buffo khác: legato tốt, nhả chữ hoàn hảo (RẤT rõ), âm thanh rất "mở" và đầy đặn, dõng dạc chứ không méo mó như cách nhiều người nghĩ về các vai buffo. Tất nhiên, khả năng nắm bắt sân khấu của Senechal là hoàn hảo, và óc hài hước của ông tạo ra những lần nhập vai tuyệt vời khiến người nghe có thể bò lăn ra cười. Senechal có kĩ thuật điều khiển giọng xuất sắc, không bao giờ hụt hơi, cao độ nốt rất hoàn chỉnh nên dù âm thanh của ông hơi kì lạ, ông vẫn thường xuyên được mời giảng dạy hay tổ chức masterclass ở những địa điểm danh tiếng như đại học Columbia và Mannes, New York; các lớp masterclass ở nhà hát Met và San Francisco. Ông được phong danh hiệu giáo sư ở trường âm nhạc sân khấu của nhà hát opera Paris, có một sự nghiệp suốt 32 năm ở lễ hội Aix-en-Provence. Một ca sĩ có sự nghiệp dài đáng kinh ngạc, đến những năm hơn 70 tuổi, Michel Senechal vẫn giữ được giọng hát trong sáng, trẻ trung và rất đặc trưng của mình. Những vai diễn Ory (Rossini), Guillot de Morfontaine (Massenet, ông biểu diễn vai này khi đã 74 tuổi, phải chống gậy khi lên sân khấu), monsieur Triquet (Tchaikovsky), Orphee, Menelas (Offenbach), thần số học (Ravel) vẫn được coi là những chuẩn mực. Michel Senechal cho toàn thế giới âm nhạc biết rằng bằng sức lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi, một giọng hát có thể nổi tiếng chỉ bằng những vai tenor buffo. Michel Senechal tự gọi mình là "le petit chanteur de l'opera francais" (ca sĩ nhỏ bé của opera Pháp).
Vai Nicias của Senechal: Tuy công nhận rằng Senechal là một niềm vinh quang của tiếng hát Pháp, em thấy vai Nicias của Senechal khá, nhưng không thành công hoàn chỉnh và những vai tenor chính không thích hợp với ông lắm. Ông nhập vai rất hoàn hảo vai 1 công tử ăn chơi (playboy), chất Pháp hoàn chỉnh nhưng Nicias là một vai hơi quá tầm so với tính chất giọng hát của ông. Nicias có thể xếp hẳn vào hạng mục lirico-spinto, tốt nhất vẫn là 1 giọng tenor hoàn chỉnh có sức nặng để có thể tạo ra kịch tính cho đoạn finale của màn 2. Đôi khi Senechal hơi quá "ngọt" và nhẹ kí với vai Nicias, nhưng nói chung âm thanh khỏe mạnh, bay bổng của Senechal vẫn ghi dấu ấn với vai này.

phucphan
16-10-2006, 11:02
Thais _ Opera 3 màn, 7 cảnh
Livret: Louis Gallet, dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Anatole France
http://www.orakelimweb.de/isis.jpg
Thais...Renee Doria, soprano
Athanael...Robert Massard, baryton
Nicias...Michel Senechal, tenor
Albine...Janine Collard, mezzo-soprano

Palemon...Gerard Serkoyan, basse
Myrtale/Crobyle...Janine Collard (mezzo-soprano)/Francoise Louvay (soprano)

Chỉ huy: Jesus Etcheverry
Dàn nhạc nhà hát Opera-Comique
Solo Violon đoạn Meditation: Lionel Gali

MÀN 1:
Prelude...(đoạn này mở đầu nghe như dàn nhạc lên dây hehe)
http://www.4shared.com/file/4636649/7208dc37/01_acte_i-_prelude.html

Cảnh 1: Sa mạc Thebaid, ngôi đền của những tu sĩ giáo phái Cenobite bên bờ sông Nile. Palemon là giáo sĩ đứng đầu. Các tu sĩ chuẩn bị về nghỉ và đang ăn bữa tối. Mọi người đều đợi Athanael, một tu sĩ có triển vọng sẽ theo bước Palemon làm người lãnh đạo giáo phái.

Athanael quay về, mệt mỏi và buồn bã. Ông nói rằng Alexandria, thành phố quê hương của ông đang chìm trong một lối sống sa đọa và đồi trụy, tất cả do Thais, một kỹ nữ, đứng đầu giáo phái Venus gây ra. Athanael công nhận thời trẻ từng bị Thais quyến rũ nhưng đã tìm đến niềm tin nơi tôn giáo, và nay muốn tìm cách chinh phục Thais bằng tôn giáo. Palemon chỉ khuyên Athanael hãy tránh xa những "người trần thế".
http://www.4shared.com/file/4636654/15a291cb/03_acte_i-_non_mon_coeur_est_plein_damertume.html

Đêm tối buông xuống. Các giáo sĩ về phòng ngủ. Athanael có một giấc mơ: Đó là nhà hát thành Alexandria. Thais đang diễn những hình ảnh về những cuộc tình của Venus. Đến đoạn cao trào, Thais trút bỏ hết quần áo trên sân khấu. Athanael choàng tỉnh, quyết tâm sẽ trở lại Alexandria để tìm cách chinh phục Thais bằng tôn giáo. Palemon nhắc lại lời khuyên của mình cho Athanael nhưng Athanael kiên quyết ra đi.
http://www.4shared.com/file/4636652/fcc134fe/04_acte_i-_vision_dathanael.html
http://www.4shared.com/file/4636691/c97d2a48/05_acte_i-_horreur_tenebres_eternelles.html

Cảnh 2: Một biệt thự lộng lẫy bên bờ biển Alexandria. Đó là nhà của Nicias, bạn học cũ của Athanael, nay đã trở thành một quí tộc trẻ tuổi. Một người gác cổng, nhìn thấy Athanael, định đuổi ông đi, nhưng trước sắc mặt và cử chỉ của Athanael, anh ta bước vào để báo cho Nicias.

Aria của Athanael: Athanael nhìn lên bầu trời Alexandria và đau buồn khi thấy quê hương của mình đang bị phủ một bóng đen do Thais.
http://www.4shared.com/file/4636686/4e028eaa/07_acte_i-_air_dathanael-_voila_donc_la_terrible_cite.html

Nicias xuất hiện cùng Crobyle và Myrtale, 2 người hầu gái rất hotB-). Nicias vui mừng được gặp lại Athanael. Athanael hỏi Nicias về Thais, và câu trả lời của Nicias nhiều hơn nhiều so với những gì Athanael cần: Nicias vừa tiêu một khoản tiền rất lớn chỉ để "mua" Thais trong 1 tuần, và hôm nay là ngày cuối cùng của "cuộc tình" này. Athanael xin Nicias cải trang cho mình để mình có thể dự buổi tiệc của Nicias và Thais.

Quartet: Crobyle và Myrtale mặc một bộ trang phục lễ hội cho Athanael. Athanael nhắm mắt trước 2 người hầu gái xinh đẹp, Nicias mỉa mai ông, khuyên Athanael nên biết chiêm ngưỡng những cô gái đẹp khi tuổi già còn chưa đến.
http://www.4shared.com/file/4636688/a9baa3ad/09_acte_i-_je_vais_donc_te_revoir_brillant_comme_autrefois.h tml

Thais đến cùng đoàn tùy tùng và ngồi xuống với Nicias.

Duo và Scene: Đó là ngày cuối cùng của "cuộc tình" giữa Thais và Athanael. 2 người hát một duo với câu "Ngày mai, tôi sẽ chỉ còn là một cái tên với anh/cô". Thais để ý ngay đến Athanael (cải trang), một người thị chưa từng nhìn thấy và có vẻ không để ý gì đến thị.
http://www.4shared.com/file/4636702/8074aa8c/11_acte_i-_cest_thais_lidole_fragile.html

Finale: Thais chuẩn bị biểu diễn, trêu chọc Athanael. Thais bắt đầu thoát y, giống hệt những hình ảnh Athanael nhìn thấy trong giấc mơ của mình. Quá ghê tởm, Athanael nói với Thais rằng ông sẽ nói chuyện với thị sau buổi diễn rồi chạy trốn trong tiếng cười mỉa mai của mọi người.
http://www.4shared.com/file/4636705/1e103f2f/12_acte_i-_qui_te_fait_si_severe.html

MÀN 2:
Cảnh 1: Sau buổi biểu diễn, Thais quay về phòng riêng, trong một gian phòng Nicias đã thu xếp cho cô ta. Thais bộc lộ một sự chán chường với những "khán giả" của mình, nhìn vào gương và cầu xin thần vệ nữ đừng bao giờ làm cho cô phải già đi.
http://www.4shared.com/file/4636712/996f9bcd/13_act_ii-_ah_je_suis_seuledis_moi_que_je_suis_belle.html

Athanael xuất hiện, đối mặt với Thais. Một loạt kỉ niệm cũ tràn đầy trong Athanael và ông cầu nguyện mình sẽ không bị sắc đẹp của Thais lôi cuốn. Athanael thuyết trình với Thais một hồi về "thứ tình yêu thiêng liêng" của tôn giáo nhưng Thais không hề rung động. Đến khi Athanael nói rằng thứ tình yêu đó sẽ đem đến cuộc sống vĩnh cửu, Thais bỗng thay đổi và xúc động mãnh liệt.

Athanael xé bỏ xiêm y và hiện nguyên hình là một giáo sĩ Cenobite. Ông nguyền rủa Thais vì những tội lỗi của cô. Thais run sợ, xin Athanael hãy tha thứ cho mình và không còn để ý đến giọng của Nicias đang gọi mình nữa. Nhưng đến khi Athanael yêu cầu cô đi theo mình và từ bỏ cuộc sống tội lỗi, Thais tìm cách chống đối và cười nhạo Athanael. Những tiếng cười của Thais nhanh chóng biến thành tiếng khóc và cô ngã gục. Athanael chỉ nói sẽ đợi cô ở ngoài cổng.
http://www.4shared.com/file/4636937/d1ad20ca/15_act_ii-_un_tumulte_effrayant_seleve_en_ma_pensee.html

Entr'acte: Giai điệu tuyệt đẹp, đầy chất tôn giáo (Andante religioso) của bản Meditation Violon vang lên, miêu tả những diễn biến diễn ra trong tâm hồn Thais. Những âm thanh của buổi dạ hội vẫn vang lên bên ngoài.
http://www.4shared.com/file/4636925/26b870a7/01_acte_ii_scene_2-_meditation_religieuse.html

Thais bước ra, quỳ gối trước Athanael, đôi mắt cô đỏ rực như vừa khóc rất nhiều. Thais nhận lỗi trước Athanael và xin ông hãy giúp cô từ bỏ cuộc sống tội lỗi. Athanael mừng vì đã chinh phục được Thais và nói sẽ đưa nàng đến tu viện của Albine, một nữ giáo sĩ đứng đầu một dòng thiên chúa. Athanael bắt Thais phải đốt bỏ tất cả những gì thuộc về cuộc sống quá khứ của nàng.

Thais xin Athanael cho nàng giữ một kỉ vật duy nhất: một bức tượng của thần tình yêu: "nhờ nó mà con người mới có lòng vị tha...con đã mắc phải tội lỗi không phải vì nó mà đã chống lại nó...". Athanael đồng ý, nhưng khi Thais cho ông biết đó là một quà tặng của Nicias thì Athanael đập vỡ nó và bắt Thais phải đốt cháy gian phòng của mình ngay.
http://www.4shared.com/file/4636743/931f5f1e/03_acte_ii_scene_2-_je_ne_veux_garder_rien_de_mon_passe.html

Những âm thanh của buổi dạ hội càng vang lên mãnh liệt hơn. Trong một canh bạc, Nicias vừa thắng rất lớn, gấp 30 lần những gì anh ta đã phải trả cho Thais. Nicias quyết định tổ chức một bữa tiệc lớn. Một màn ballet theo phong cách Grand Opera Pháp.

Athanael và Thais xuất hiện. Mọi người cười nhạo Athanael đã đầu hàng trước Thais nhưng sự thật là ngược lại. Trong trang phục kín đáo và giản dị, Thais tuyên bố sẽ đi theo Athanael và rời khỏi Alexandria. Dân chúng rất giận dữ, tìm cách bắt lấy Thais và Athanael. Nicias ném vàng xuống đất làm tất cả mọi người đổ xô xuống để nhặt. Nicias giục 2 người hãy chạy trốn thật nhanh rồi tiếp tục tung vàng để đánh lạc hướng dân chúng.
http://www.4shared.com/file/4636852/f65f19f4/06_acte_ii_scene_2-_finale-_cest_lui_athanael.html

MÀN 3:
Cảnh 1: Sa mạc Sahara. Một buổi trưa nóng bức. Thais và Athanael xuất hiện, Thais mệt mỏi vì đã phải đi quá xa. Athanael bắt nàng phải tiếp tục hành xác để trả giá cho những tội lỗi quá khứ của mình; Thais ngoan ngoãn tuân theo nhưng nhanh chóng ngã gục.
http://www.4shared.com/file/4636826/be734b2a/07_acte_iii-_scene_1-_lardent_soleil_mecrase.html

Nhìn thấy Thais như vậy, Athanael bỗng chuyển từ cứng rắn sang mềm mỏng và bế Thais đến một ốc đảo. Giờ đây Thais đã suy nghĩ bằng tôn giáo và cảm thấy hạnh phúc khi được hành xác như Athanael đã chỉ bảo. Athanael đem hoa quả và nước uống cho Thais. Duo: Baigne d'eau tes mains et tes levres.
http://www.4shared.com/file/4636962/dcb02000/08_acte_iii-_scene_1-_ah_des_gouttes_de_sang.html

Những âm thanh của tu viện, nữ giáo sĩ Albine và các bà sơ xuất hiện. Athanael giao phó Thais cho họ. Thais nói lời vĩnh biệt và hẹn sẽ gặp lại Athanael trên thiên đàng. Athanael bỗng buồn vô tận khi nhận thấy sẽ không bao giờ được gặp lại Thais nữa.
http://www.4shared.com/file/4636876/c304bf6f/09_acte_iii-_scene_1-_pater_noster_qui_es_in_coelis.html

Cảnh 2 (bị cắt trong ghi âm này): Athanael đã gần 2 tuần không ăn không uống và làm các giáo sĩ Cenobite khác lo lắng. Athanael thú thật với Palemon giờ đây ông bị ám ảnh vì hình ảnh của Thais. Palemon không biết làm gì, chỉ biết nhắc lại lời khuyên xưa kia dành cho Athanael. Athanael nằm mơ, đầu tiên thấy hình ảnh Thais khỏa thân trên sân khấu. Lúc này thay vì một cảm giác ghê sợ là một dục vọng ghê gớm. Trong một giấc mơ thứ 2, Athanael nhìn thấy Thais hấp hối trong tu viện. Athanael choàng tỉnh và chạy đi trong đêm tối.

Cảnh 3: Tu viện của Albine, Thais nằm lịm, thở gấp. Nàng đã hành xác, cầu nguyện và khóc than trong 3 tháng trời. Albine: "Thân thể em nó đã tàn tạ, nhưng những tội lỗi của nó đã được gột rửa".

Athanael chạy đến, xanh xao và hốt hoảng. Albine thông báo Thais sắp từ trần và xin Athanael hãy cầu nguyện cho nàng.
http://www.4shared.com/file/4636905/148e1225/11_acte_iii-_scene_2-_soyez_le_bienvenu_dans_nos_tabernacles.html

Duo final: Thais và Athanael. Thais kể lại cho Athanael về chuyến đi của 2 người qua sa mạc và cảm ơn Athanael đã cho nàng biết thế nào là tình yêu thiêng liêng. Ngược lại, Athanael lúc này khuyên Thais chỉ nên nghĩ về tình yêu trần thế. Giữa 2 người có một sự hoán đổi, và Thais tắt thở sau khi "nhìn thấy thiên đường và chúa" (Ah, le ciel! Je vois Dieu!). Athanael gục ngã. Một duo tuyệt đẹp trên nền nhạc của bản Meditation và với 2 nốt D3 cho Thais.
http://www.4shared.com/file/4637005/a3e34ecf/12_acte_iii-_scene_2-_cest_toi_mon_pere.html

Số tiếp theo: Georges Thill - Ninon Vallin

phucphan
25-10-2006, 06:48
@};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};-
Chuyên mục "Những bông hoa nhỏ"
Giới thiệu bé Patricia Petibon
http://site.operadatabase.com.site.hmt-pro.com/imagesdossiers/Petibon/papillon.jpg
Theo như lịch, hôm nay là ngày ra mắt của cặp Werther-Charlotte huyền thoại Georges Thill-Ninon Vallin. Nhưng trước khi tiếp tục tìm hiểu những giọng hát "an-bom cũ" nay đã mốc xanh mốc đỏ, hôm nay pháp sư Phucphan xin thay đổi không khí của topic này và giới thiệu một cô bé dạo này Phucphan rất ưng. Đó là một cô bé gần đây được các nhà phê bình âm nhạc khó tính phát cho khá nhiều phiếu bé khỏe bé đẹp. Giọng colorature trữ tình trẻ người Pháp-bé Patricia Petibon.
Bé Patricia Petibon sinh ngày 27-2-1970 ở Montargis, một thành phố nhỏ phía nam thủ đô Paris. Những năm trong nhà trường bé rất thích học họa và dự định sẽ học mỹ thuật khi lên đại học. Nhưng âm nhạc nhanh chóng trở thành một niềm đam mê của bé và bé được nhận vào học nhạc lí ở đại học Tours, đạt nhiều danh hiệu học sinh tiên tiến xuất sắc. Thế rồi sau đó, bé tìm thấy niềm đam mê ca hát và nhập học ở nhạc viện Paris dưới sự hướng dẫn của giọng soprano Pháp nổi tiếng Rachel Yakar. Bé tập trung học rất nhiều tác phẩm thanh nhạc Pháp và tốt nghiệp xuất sắc, đoạt giải nhất của nhạc viện vào năm 1995, được tuyên duơng và phát phiếu bé ngoan trước toàn trường. Sau khi tốt nghiệp, bé gặp nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Baroque William Christie cùng nhóm nhạc biểu diễn của bác Christie là các anh chị trong nhóm Les Arts Florissants. Bé bắt đầu biểu diễn ở lễ hội âm nhạc Aix-en-Provence và được nhiều nhà hát danh tiếng mời biểu diễn: La Scala, Colon de Buenos Aires...
Bé Petibon biểu diễn xuất sắc trong lần ra mắt của mình ở nhà hát Opera Paris mùa công diễn 1996-1997 trong vở Hippolyte et Aricie của Rameau. Bé bắt đầu đoạt các giải nhất học sinh giỏi thành phố môn thanh nhạc và được tạp chí Victoires de la Musique Classique tuyên dương vào năm 1998. Bé bắt đầu biểu diễn khá rộng rãi quanh nhiều nước với các bác nhạc trưởng danh tiếng. Danh mục của bé Petibon khá rộng: Amour trong Orphee et Euridice (Gluck) vào năm 1999 ở nhà hát Chatelet Paris, Ophelie trong Hamlet (Thomas) vào năm 2000 ở Toulouse, Zerbinette trong Ariane a Naxos (Strauss) ở Vienna năm 2002. Bé cũng thường xuyên biểu diễn các tác phẩm thanh nhạc bằng tiếng Pháp của các nhạc sĩ người Mỹ như Barber, Bernstein và được đánh giá cao với phần soprano trong Carmina Burana (Orff). Các vai bé đã biểu diễn hoặc ghi âm thành công: Sophie trong Werther (Massenet) cạnh anh chị nhà Alagna, Olympia trong Contes d'Hoffmann và Cupidon trong Orphee aux enfers (Offenbach), Ellen và Lakme trong Lakme (Delibes), Blondchen trong Serail (Mozart), Soeur Constance trong Dialogues des Carmelites (Poulenc), La Folie trong Platee (Rameau) hay thậm chí là Manon (Massenet) hay Melisande (Debussy). Bé được đánh giá rất cao trong các recital Baroque của bé.

http://www.emiclassics.de/de_images/artists/3250493.jpg
Rõ ghét, mấy cái hình rõ đẹp của bé Petibon sao chưa gì đã linh đai cả, lấy tạm cái này.
Nhưng đấy, các bé xem, tóc tai phải để như thế này mới gọi là lừa mị<:-P

Về giọng hát của bé Petibon: Giọng hát của bé Petibon, tuy khá "hiện đại" vẫn mang những đặc điểm rất là cơ bản của một giọng coloratura Pháp: trung âm không dày nhưng êm, càng lên cao càng sáng, càng chắc chắn và đẹp, hơi ngả mũi, giọng nhẹ nhõm, không dày. Bé Petibon có một chất giọng khá đẹp, sáng choang, trong vắt, kĩ thuật điều khiển giọng hát của bé Petibon rất đáng nể, nhiều khi nghe như vận động viên nhào lộn. Khả năng điều khiển hơi của bé Petibon thì phải nói là khá hoàn hảo, không bao giờ hụt hơi, giữ một âm được rất lâu mà vẫn thay đổi được màu sắc, tính chất của âm đó. Một lí do nổi bật làm bé Petibon hợp với thể loại Baroque là bé rất ít dùng vibrato, các âm cao đến mấy nói chung được giữ rất chắc chắn chứ không "rung". Vì vậy đôi khi nghe có cảm giác là hơi chói dù thực chất bé điều khiển âm vực cao rất khá. Bé Petibon lên đến E3, thậm chí cao hơn. Thực chất, vào thời Baroque, do âm la chuẩn tần số thường nhỏ hơn 440 Hz nên trên ghi âm bé hát nghe giống Rê thường (D3#) dù trên giấy tờ thì vẫn là E3. Bé Petibon được coi là coloratura vì kĩ thuật rất đáng sợ, lên cao đẹp. Kĩ thuật chạy của bé khá, rõ nốt nhưng không sắc nét lắm, bé trill được nhưng không giữ được trill lâu. Bé là một ví dụ điển hình về coloratura trữ tình, tùy tác phẩm mà luôn tìm được một màu âm phù hợp. Bé Petibon được đánh giá rất cao về khả năng thay đổi màu sắc của giọng hát một cách gần như kì diệu để có thể đáp ứng từ những vai trong trẻo sáng sủa nhất đến một số vai cần âm sắc rất tối như Armide (Lully).
Tất nhiên, không thể nói đến bé Petibon mà không nhắc đến phong cách biểu diễn của bé. Patricia Petibon được đánh giá rất cao về phong cách biểu diễn khá là "tưng tửng" đến mức bạo lực của bé. Bé rất thích trọc cho người nghe cười ra nước mắt. Một thời học về họa, Petibon cũng rất đáng yêu với phong cách trẻ con, hồn nhiên và lòe loẹt của bé, với một mái tóc đỏ và cứng không thể lẫn với ai. Vì sự hồn nhiên, vui tươi của bé, bé thường xuyên được mời vào các vai soubrette và diễn chúng rất thành công. Nhưng nhờ khả năng thay đổi màu âm mà bé cũng có thể hát các vai trữ tình tương đối khá (dù giọng bé hơi nhẹ kí và đôi khi người nghe không khỏi cảm thấy một hội chứng "buồn cười" khi xem bé diễn). Tất nhiên, cái tên của bé Petibon luôn gắn liền với âm nhạc Baroque. Chất giọng bóng mượt, vở sạch chữ đẹp của bé cộng với những đường legato tốt và khả năng nhập vai của bé cho phép bé thể hiện các thể thanh nhạc Baroque (cả những đoạn recit và air) một cách xuất sắc.
http://www.resmusica.com/images/patricia_petibon.jpg
Bé Petibon hát Doll Song Olympia trong Contes d'Hoffmann của Offenbach bắng nha bắng nhắng, không quên lên G3 và nũng na nũng nịu, cộng thêm một vài đoạn nhạc điện tử nghe như Bjork và bé cũng tranh thủ đóng luôn cả nữ hoàng bóng đêm nữa chứB-) .

http://www.4shared.com/file/4938650/3469034/24_contes_dhoffmann-_doll_song.html

Aria của Cupidon trong Orphee aux enfers của Offenbach, một arietta nhí nhảnh với những tiếng hôn chùn chụt:-* .

Marc Minkowski, Orchestre de Chambre de Grenoble
http://www.4shared.com/file/4938375/47d1c4d2/22_orphee_aux_enfers-_air_de_cupidon.html

Các bé chú ý theo dõi bé Petibon làm 4 món Thạch mận nho khô, súp đuôi bò, thịt gà Tavouk Gueunksis và lẩu thịt thỏ qua tổ khúc "La bonne Cuisine" của Leonard Berstein nhé3:-O .
Susan Manoff, piano
http://www.4shared.com/file/4938358/b56daed/01_la_bonne_cuisine-_plum_pudding.html
http://www.4shared.com/file/4938352/eb8333f3/02_la_bonne_cuisine-_queues_de_boeuf.html
http://www.4shared.com/file/4938353/9c840365/03_la_bonne_cuisine-_tavouk_gueunksis.html
http://www.4shared.com/file/4938369/577cb9b8/04_la_bonne_cuisine-_civet_a_toute_vitesse.html

Nói đến thể loại recital ngày nay người ta hay nghĩ đến những người kiểu như cô chú Dietrich Fischer-Dieskau với Elisabeth Schwarzkopf, đứng ngay ngắn, cột sống duỗi thẳng, khủyu tay chống đàn, mắt nhìn xa xăm. Thỉnh thoảng có mấy người vừa diễn recital vừa pha trò như bé Petibon kể cũng vui cửa vui nhà một chút.
http://youtube.com/watch?v=fTw2wCc-oXs (http://youtube.com/watch?v=fTw2wCc-oXs)

Không nói chuyện lăng nhăng nữaL-) . Bé Petibon chắc chắn sẽ không được nhiều giấy khen với phiếu bé ngoan như thế nếu bé không hát Baroque hay như thế. Các bé nghe xem bé Petibon nhà ta hát "nghiêm túc" có kém ai không nhé:-B.

-Jean-Philippe Rameau: Platee-Air de la Folie
Patrick Cohen-Akenine, Folies Francaises
http://www.4shared.com/file/4938380/b0232c92/23_platee-_air_de_la_folie.html

-Antonio Caldara: La Passione di Gesu Cristo Signor Nostro
Laura Polverelli, contralto
Fabio Biondi, Europa Galante
http://www.4shared.com/file/4938447/87bde0b8/17_la_passione_di_gesu_cristo_signor_nostro-_vorrei_dirti_il_mio_dolore.html
http://www.4shared.com/file/4938448/1702fd29/18_la_passione_di_gesu_cristo_signor_nostro-_potea_quel_pianto.html
http://www.4shared.com/file/4938476/db9783ed/19_la_passione_di_gesu_cristo_signor_nostro-_vi_sento_oh_dio_vi_sento.html
http://www.4shared.com/file/4938466/c28cb2ac/20_la_passione_di_gesu_cristo_signor_nostro-_giovanni_anchio_lo_so.html
http://www.4shared.com/file/4938472/dcfa47f4/21_la_passione_di_gesu_cristo_signor_nostro-_apassi_erranti.html

-George Frideric Handel-Caro autor di mia doglia
Paul Agnew, tenor

Emmanuelle Haim, Le Concert d'Astree
http://www.4shared.com/file/4938397/375c8870/14_caro_autor_di_mia_doglia-_caro_autor_di_mia_doglia.html
http://www.4shared.com/file/4938398/a7e395e1/15_caro_autor_di_mia_doglia-_no_che_daltrui_che_di_te.html
http://www.4shared.com/file/4938428/41585aaf/16_caro_autor_di_mia_doglia-_dagli_amori_flagellata.html

Các bé cho bé Petibon một tràng pháo tay nào<:-P

Tykva
25-10-2006, 08:04
Hay thật, dù nếu có hiểu tí tẹo nào thì tớ die ngay tức thì...

yes_Iam_here
25-10-2006, 19:56
Em petibon với em Dessay là điển hình cho những nghệ sỹ Pháp : tài năng thông minh, hài hước và lập dị. kekee. Giá đc xem em Petibon này đóng mấy vai soubrette của em ấy nhờ, chắc cười vỡ bụng mất. Nghe mấy em này hát có cảm giác như xem 1 đồ mĩ nghệ nhìn qua thì rất thô kệch, nhưng ngắm kĩ mới thấy rất tỉ mỉ kì công. :D

phucphan
06-11-2006, 05:07
Werther và Charlotte - Georges Thill và Ninon Vallin
http://www.ndl-medien.uni-kiel.de/mitarbeiter/meier/lehrveranstaltungen/2001/vl/vl-materialien/Bilder/ArmandLolotteWerther-gross.JPG
Vở opera nào là vở opera lâm li nhất? Hình như cứ có 1 đôi yêu nhau, có 1 vấn đề gì đó rồi kết thúc không có hậu là ngay lập tức chúng ta có 1 vở opera có nội dung lâm li, bi đát. Những ai chọn vở opera "Werther" (phát âm: Véc-te) của nhạc sĩ Massenet có một chứng cớ lịch sử khá thuyết phục: Câu truyện "Những nỗi đau của Werther trẻ tuổi" của Goethe, xuất bản năm 1774, đã đạt được một "thành công" ngoài sức mong đợi: Ngoài việc trở thành bestseller, tiểu thuyết của Goethe đã gây ra một hiệu ứng crazy fan khá đáng sợ: Hàng trăm thanh niên trẻ, "học tập" Werther, đã tự tử vì thất tình, đến mức một thời tiểu thuyết của Goethe đã tạm thời bị cấm. Người ta nói đùa, nếu vào thời của Goethe, người ta có kĩ thuật in áo phông thì hẳn đã không có nhiều thanh niên phải chết oan như thế.
"Werther" của Massenet là một ví dụ điển hình về 1 vở opera Pháp thành công trên nước Đức. Nếu như trước đây, "Faust" của Gounod, dựa theo vở kịch "Faust" của Goethe, bị la ó trên sân khấu Đức thì "Werther" của Massenet đã thành công vang dội. Nếu như một thời, Manon được xem là kiệt tác duy nhất của Massenet thì ngày nay, Werther đã thay thế Manon, trở thành vở opera phổ biến nhất của Massenet. Các tenor trữ tình hoặc spinto/trữ tình liên tục vào vai Werther. Các soprano và mezzo-soprano cũng thi nhau hát Charlotte. 2 vai soprano màu sắc/soubrette Sophie và baritone Albert cũng chưa gây khó khăn cho bất cứ production hay ghi âm nào. Ngày nay, Werther gắn với những cái tên của Carreras, Kraus, Gedda, von Stade, de Los Angeles hay gần đây là Alagna và Gheorghiu.
2 nghệ sĩ giới thiệu trong số này là Werther và Charlotte trong bản thu đầy đủ đầu tiên của vở opera "Werther" vào năm 1931: Georges Thill và Ninon Vallin. 2 người cũng là 2 đại diện quan trọng bậc nhất của sân khấu Pháp những năm giữa và sau 2 cuộc đại chiến thế giới.
http://www.jules-massenet.com/thill.jpg
Georges Thill trong vai Werther

Georges Thill được mệnh danh là "vua tenor Pháp" và cùng với Alain Vanzo được xem là một trong những tenor Pháp quan trọng nhất của thế kỉ 20. Ông sinh ngày 14-12-1897 ở Paris. Xét theo dòng họ ông bà thì Georges Thill là người gốc Luxembourg và Đức, vùng cửa sông Rhin. Gabriel Thill, bố của Georges Thill, là một thành viên của liên đoàn biểu diễn Opera Paris và sau đó là của nhà hát Capitole de Toulouse, qua đó gia đình của ông được làm quen với khá nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ. Sau khi từ Toulouse trở về Paris với cha vào năm 1910, Georges Thill tham gia quân đội trong chiến tranh thế giới thứ nhất từ tháng 1-1916 đến tháng 10-1918, suýt chết trong chiến tranh.
Sau chiến tranh, sau một thời gian làm việc trong một ngân hàng, ông thi vào học ở nhạc viện Paris. Gây ấn tượng với ban giám khảo, ông được nhận vào học vào tháng 4-1921. Sau một thời gian học ở nhạc biện Paris, Thill chuyển đến Nice học với Fernando de Lucio, người đã hướng dẫn cho Thill học tập theo hình mẫu của những giọng tenor Pháp của thế kỉ 19. Tháng 8-1921, Thill được đến lễ tang của Enrico Caruso ở Nice. Năm 1922, Thill trở về Paris sau khi de Lucio đổ bệnh nặng.
Trong một chuyến đi đến Nice cùng gia đình, Georges Thill gặp một người bạn của bố mẹ ông. Sau khi nghe Thill hát, ông đã thu xếp cho Thill hát trong một recital cùng một pianist mà ông quen biết. Sau một lần thử giọng thành công vang dội cùng pianist này vào ngày 15-1-1924, ông được nhà hát Opera Paris kí hợp đồng và ông biểu diễn ra mắt vào ngày 24-2-1924 trong vai Nicias (Thais-Massenet). Sau một số vai phụ, vào tháng 15-1-1924, ông được mời hát vai bá tước Mantua lừa mị (Rigoletto-Verdi). Thành công rực rỡ, ông lần lượt được mời vào các vai tenor chính trong các vở Faust (Gounod), Herodiade (Massenet), Aida (Verdi)...Vai tủ của ông, Werther, được biểu diễn lần đầu tiên vào ngày 15/10/1925 ở thành phố Nimes, miền nam nước Pháp.
Ông bắt đầu lưu diễn trên đất Pháp, kí hợp đồng với hãng đĩa Colombia France vào năm 1925. Những vai diễn của ông trong giai đoạn này: Faust (trong cả 2 bản tiếng Pháp của Gounod và Berlioz), Romeo, Des Grieux (Massenet), Lohengrin, Maraouf (1 vai baryton!), Alfred, Calaf, Cavaradossi, Pinkerton, Rodolphe, Don Jose, Enee, Andre Chenier, Samson và rất nhiều vai trong những lần ra mắt các vở opera đương đại của Pháp và một số lần hồi phục các vở Opera Baroque Pháp. Trên đất Pháp, tất cả các vai tiếng Đức, tiếng Ý của ông đều được hát bằng những bản dịch tiếng Pháp, một truyền thống phổ biến của Châu Âu vào thời bấy giờ. Lần công diễn quốc tế thành công đáng kể đầu tiên của ông là với vai Samson trong vở opera của Camille Saint-Saens ở nhà hát Convent Garden, London.
Sự nghiệp lưu diễn quốc tế của ông tiếp tục trong những năm 20 và 30, đến những nhà hát La Scala (Milan), Verone, Monte Carlo, Buenos Aires (Colon), New York (Metropolitan), Anvers (Bỉ), Vienna, Barcelona (Liceo), Copenhagen với một danh mục rất rộng, từ operetta Offenbach (La belle helene) đến một số vai Wagner (Tanhaussser, Parsifal...) và trải qua hầu hết các vai tenor chính quan trọng của opera Pháp và Ý. Ông biểu diễn cả bằng nguyên bản hoặc bằng những bản dịch tiếng Pháp. Ông liên tục luân phiên lưu diễn giữa các nhà hát nước ngoài và các nhà hát Pháp, vừa biểu diễn những vai "xôi thịt" của danh mục chính hay những vai trong lần ra mắt của những vở opera hiện đại, một số vở chỉ công diễn có một vài tuần rồi bỏ xó!
Những năm 30, Georges Thill còn tham gia đóng phim và diễn trên sân khấu của Pháp, chủ yếu vào năm 1934. Tháng 1/1935, Thill hát vai Faust của Gounod ở nhà hát Opera Paris (Palais Garnier) trong lần công diễn thứ 2000 trên đất Pháp của vở opera này. Ông cũng hát vai Samson ở Nice trong năm kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Camille Saint-Saens. Ông tiếp tục lưu diễn ở Pháp và nước ngoài những năm 1930 và đóng vai Julien trong vở Louise (Charpentier) trong bộ phim nổi tiếng dựa trên vở opera này vào năm 1938.
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bắt đầu. Trong năm này, Georges Thill đôi khi biểu diễn trên mặt trận và còn tổ chức các lớp học hát cho các chiến sĩ. Vào tháng 1/1940, khi nước Pháp chính thức trở thành bù nhìn của cuộc đại chiến, Georges Thill tiếp tục quay lại biểu diễn và thậm chí là lưu diễn, dù thường xuyên bị gián đoạn. Ngày 30/12/1940, Georges Thill biểu diễn ở nhà hát Opera Paris nhân dịp tưởng niệm giọng bass Armand Narcon. Năm 1941, Georges Thill lưu diễn ở Bắc Phi. Sau khi chiến tranh kết thúc, Georges Thill bắt đầu lưu diễn trở lại đúng phong độ và thành công rực rỡ ở Châu Úc, tại các nhà hát của Australia và New Zealand, chủ yếu trong khoảng những năm 1946 và 1947.
Trong những năm 40 và 50, Thill bắt đầu gặp một chút khủng hoảng về giọng hát và bắt đầu đi du lịch, dù ông vẫn có khá nhiều hợp đồng lưu diễn, chủ yếu đến những nước châu Phi. Năm 1951, Georges Thill bị các bác sĩ cấm hát do bị viêm dây thanh quản. Ông phải luyện tập lại các bài tập học cùng Fernando de Lucio 30 năm trước đó. Ngày 12/6/1952, ông xuất hiện lại ở Paris vào ngày 12/6/1952 trong một recital và ở Bordeaux sau đó trong một vai tủ của ông: Canio trong vở "Paillasse" (bản dịch tiếng Pháp của Pagliacci!) với một buổi diễn thành công vang dội. Ngày 3/3/1953, Thill tìm lại được phong độ của mình một cách hoàn chỉnh trong một recital Wagner, Verdi và Massenet ở Paris. Một buổi biểu diễn thành công đến mức sau đó khán giả đồng loạt hô to: "À l'Opera!" (Opera muôn năm), được Georges encore bằng 2 aria La Fleur và Grand Air của Canio. Tuy nhiên, ông cũng cảm thấy ông muốn chấm dứt sự nghiệp biểu diễn của mình. Ông biểu diễn từ biệt trong Paillasse vào ngày 11/10/1953 và thành lập một cuộc thi thanh nhạc mang tên ông vào tháng 10-11 năm 1953. Vẫn luyến tiếc sân khấu, Georges Thill hát trong một vài concert ở Pháp nhưng đưa ra quyết định từ biệt chính thức vào ngày 25/3/1956. Ông từ giã sân khấu từ đỉnh cao vào năm 58 tuổi. Ông lui về nghỉ hưu ở ngôi làng Lorgues, đông nam nước Pháp. Ở đây, đôi khi ông giảng dạy hay hát trong những hội làng. Ông thường xuyên được tuyên dương và nhắc đến trên truyền hình và phát thanh và nhận được huân chương danh dự của mọi thành phố của Pháp. Ngày 19/5/1979, nhà hát Opera Marseilles tổ chức mừng sinh nhật thứ 82 của ông và ông được trao huân chương của thành phố Marseille. Tuy đã nghỉ hưu, Thill vẫn có một số hoạt động với nhà hát. Ngày 26/12/1980, tác giả Bernard Pivot xuất bản một cuốn sách về Georges Thill.
Georges Thill qua đời ngày 16/10/1984, hưởng thọ 87 tuổi.

Giọng hát của Georges Thill: Học tập với một giọng tenor lừng danh người Ý-Fernando de Lucia, Georges Thill kết hợp được những đặc điểm quan trọng của một giọng tenor Pháp với chất kĩ thuật bel canto, kĩ thuật mezza di voce cũng như lối hát mở, sáng choang của người Ý. Chất pháp xuất hiện ở khả năng legato, ít portamento và vibrato, nhả chữ hoàn hảo, uốn câu chuẩn mực và hát tự nhiên như nói, hơi ngả mũi. Một giọng hát đẹp, dầy, sâu, màu âm hơi tối, có khả năng mezza voce và pianissimo tuyệt vời, đều một cách hoàn hảo suốt hơn 2 quãng tám dù Thill không thoải mái lắm khi lên cao, khả năng điều chỉnh âm lượng tuyệt vời từ pp đến ff. Điều làm Georges Thill nổi bật hơn hẳn so với mọi tenor Pháp khác là sức nặng đáng kể của giọng hát, và Thill là một người thể hiện Wagner khá tốt, dù chưa thực sự đủ để tấn công phần "high-gear" của Wagner. Thill có giữ một số melodies trong danh mục, nhưng Thill hát melodies hơi bị trâu, không ra chất lắm. Thill có danh mục đa dạng và rộng hơn nhiều đa số các tenor Pháp khác nhưng ít ghi âm. Những bản thu để lại của ông chủ yếu là các tập hợp các aria, melodies và highlights của vở "Louise"-Charpentier và nhất là bản thu "Werther" lịch sử, bản thu hoàn chỉnh đầu tiên của vở opera của Massenet. Georges Thill là Werther xuất sắc và ấn tượng nhất theo tai em, vừa đủ mọi màu sắc (nếu không nói là nhiều hơn) mà rất nhiều tenor khác đem đến, vừa có chất Pháp hoàn hảo. Nghe nói, bản thu này được ghi âm trong khoản thời gian rất nhanh, do Georges Thill và soprano hát Charlotte, Ninon Vallin, có cãi lộn trong phòng thu và ngoài những lần ghi âm, không thèm nhìn mặt nhau! Trên sân khấu, diễn xuất của Georges Thill hạn chế và hơi cứng nhưng nhờ giọng hát nhiều màu sắc, quãng âm lượng đáng kể mà ông luôn nhập vai một cách xuất sắc.

phucphan
06-11-2006, 09:00
http://www.cantabile-subito.de/Sopranos/Vallin__Ninon/vallinportrait2.jpg
Soprano Pháp Ninon Vallin sinh ngày 8-12-1886 ở làng Montalieu-Vercieu, gần thành phố Cremieu, phía Đông Nam nước Pháp, giáp Đức. Bà là con gái thứ 3 trong gia đình Vallin, tên khai sinh là Eugenie Vallin. Cha bà là công chứng viên. Thời nhỏ, gia đình bà liên tục chuyển nhà quanh những thành phố miền đông nam nước Pháp do công việc của cha bà. Cha bà rất để ý về việc học hành của các cô con gái. Khi bà chưa đầy 10 tuổi, cha mẹ bà đưa bà vào học ở 1 trường bán trú. Môn nhạc được đặc biệt chú trọng ở trường của bà và bà nhanh chóng học xong chương trình nhạc của trường, thường xuyên biểu diễn và được hát đơn ca trong 1 lần biểu diễn mass cầu nguyện Noel vào năm 1896.
Càng lớn, Vallin càng chú tâm vào việc học nhạc. 16 tuổi, bà quyết tâm theo đuổi sự nghiệp âm nhạc và đăng kí thi vào nhạc viện Lyon. Một cô chị của Ninon cũng muốn thi vào học ở nhạc viện Lyon. Tuần nào 2 chị em cũng cùng mẹ đi xe khách từ nhà đến Lyon để học. Cả 2 chị em được nhận vào học, 2 người cùng thuê một căn hộ ở phố Sainte-Marie-des-Terreaux. Giáo viên của Ninon, bà Mauvernay, nhận thấy tài năng của Ninon, giới thiệu bà với một số nghệ sĩ thời bấy giờ mà bà quen biết, trong đó có nhạc trưởng Witkowski. Sau 3 năm học tập, Ninon Vallin giành giải nhất cuộc thi của nhạc viện vào năm 1906. Bà biểu diễn ra mắt trong những vai opera nhỏ ở nhà hát Rameau hoặc tổ chức các buổi recital những aria opera ở một phòng nhạc nhỏ ở Lyon. Trong một buổi biểu diễn của bà ở Annonay, Ardeche, miền đông nam Pháp, bà gặp nhạc sĩ Vincent d'Indy và nhận được nhạc sĩ đánh giá rất cao.
Đầu năm 1907, được sự giúp đỡ của d'Indy và nhạc trưởng Witkowski, Ninon Vallin quyết định theo đuổi sự nghiệp biểu diễn ở Paris, mở đầu bằng việc học tập ở nhạc viện Paris dưới sự hướng dẫn của Meyriane Heglon . Năm 1909, bà hát trong oratorio "Ruiz et Booz" và được Gabriel Pierne kí hợp đồng ở nhà hát Colonne, Paris. Ở đây danh mục biểu diễn của bà bắt đầu mở rộng ra với những tác phẩm của Weber, Schubert và Schumann. Ngày 2-4-1911, Ninon Vallin được nhạc sĩ Claude Debussy mời hát vai soprano trong scène lyrique "La demoiselle élue" của ông. Ninon cũng được mời đến nhà hát Chatelet (Opera-comique) để đóng thế cho Rose Feart trong lần ra mắt "Martyre de Saint Sebastien" cũng của Debussy. Feart, diva lúc bấy giờ của nhà hát, trong thời gian diễn tập, đã tỏ ra phật ý và từ chối biểu diễn. Ninon đã thay thế cho Feart vào phút cuối và lần ra mắt vẫn diễn ra vào ngày 22-5-1911, và sau đêm biểu diễn đó Debussy đã đề tặng tác phẩm này cho Vallin.
Các thành công bắt đầu đến với Vallin. Giám đốc nhà hát Opera comique Albert Carre kí hợp đồng với bà. Ông khuyên bà nên tập trung sự nghiệp vào biểu diễn opera thay vì melodie hay oratorio. Bà ra mắt ở nhà hát Opera Comique vào ngày 14-10-1912 trong vai Micaela (Carmen). Các vai tiêp theo gồm Mignon, Mimi, Manon, Melisande...Bà nhận được sự đánh giá cao của giới phê bình và khán giả. Sau đó nhạc sĩ Gustave Charpentier cho bà hát vai Louise trong lần ra mắt vở opera cùng tên của ông. Kĩ thuật hát xuất sắc, Ninon Vallin thể hiện được rất nhiều vai diễn trong các âm cữ khác nhau. Tháng 7/1913, bà cưới một nhạc sĩ, kiêm chỉ huy sân khấu người Ý và thường xuyên đi biểu diễn ở Ý cùng chồng. Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, vợ chồng Vallin cùng đi lưu diễn ở nước ngoài và Vallin tập trung vào biểu diễn các tác phẩm của danh mục Pháp. Bà lưu diễn ở Tây Ban Nha, ở Nam Mỹ vào năm 1916. Trong các chuyến lưu diễn bà làm quen với Camille Saint-Saens. Trong lần ra mắt ở nhà hát Colon danh tiếng ở Buenos Aires, Argentina, bà hát vai Marguerite trong Faust (Gounod) trước tổng thống Argentina và được báo chí nước này chăm chút ca ngợi và đánh bóng.
Quay trở về châu Âu, sau một số vấn đề trong gia đình, 2 vợ chồng nhà Vallin ly thân. Năm 1917, bà biểu diễn ở nhà hát La Scala Milan, trong lần ra mắt ở ý vở opera Marouf của Henri Rabaud và thành công rực rỡ. Thành công vang dội này đem đến cho bà 1 hợp đồng với nhà hát này và bà hát cùng nhiều giọng hát nổi tiếng của Ý, trong đó có Benjamin Gigli. Chiến tranh kết thúc, bà mở rộng sự nghiệp lưu diễn của mình và bắt đầu hát ở Oslo, Budapest, Vienna, Cairo, New York...Năm 1920, bà biểu diễn chủ yếu ở các nhà hát của Paris, đặc biệt thành công vào ngày 27-3 ở Opera paris trong vai Thais (Massenet). Các chuyến lưu diễn tiếp tục đến Buenos Aires, San Francisco, Chicago, Milan, Roma, London và Vienna, trong thời gian này bà gặp nhạc sĩ người Tây ban nha Manuel de Falla. Ông đặc biệt ấn tượng trước "chất Tây ban nha" trong tính cách của Vallin và cho bà biểu diễn trong vở opera La Vida Breve của ông.
Năm 1921, bà đến biểu diễn ở Roumanie và biểu diễn trước nữ hoàng, sau đó đến Liên Xô và biểu diễn ở Moscow, Kiev và Leningrad...Năm 1925, Albert Carre từ chức giám đốc nhà hát opera comique và Vallin không mấy ưa giám đốc mới của nhà hát. Cũng trong năm đó, bà hầu như không biểu diễn ở Pháp và trở nên nổi tiếng ở nước ngoài nhiều hơn cả trên đất Pháp. Ở Nam Mỹ, bà thường xuyên biểu diễn ở Buenos Aires và Rio de Janeiro. Ở Buenos Aires, bà được biểu diễn cùng Caruso, Schipa và Muzio và tham gia biểu diễn ra mắt một số tác phẩm đương đại. Năm 1938, bà biểu diễn ở Palais d'Elysee trước vua George VI của nước Anh. Bà ghi âm rất nhiều, nhất là từ năm 1913 đến năm 1956, chủ yếu cho các hãng Pathe-Marconi và Odeon. Trong phòng thu và các hợp đồng ghi âm, Ninon Vallin nổi tiếng là một người phụ nữ đanh đá, thường xuyên lấy hãng đĩa này dọa hãng đĩa kia nếu không được ghi âm những trích đoạn mà bà muốn, bà cũng đòi bảo vệ bản quyền các bản ghi âm của bà một cách ghê gớm, hix#:-S. Tháng 2-3 năm 1931, bà ghi âm cho Colombia France bản thu Werther với Georges Thill, trong quá trình ghi âm mối quan hệ giữa 2 người trở nên căng thẳng đến đáng sợ. Năm 1935, Colombia định lập kế hoạch một hợp đồng ghi âm mới giữa 2 người nhưng phải tìm một soprano khác để chữa cháy vì mối quan hệ như lửa với nước với 2 người.
Vì chiến tranh thế giới thứ 2, Vallin ít được lưu diễn và biểu diễn chủ yếu trong nước với các vai soprano chính, thậm chí là cả Carmen. Năm 1945, chiến tranh kết thúc, bà tiếp tục lưu diễn, trước khi lưu diễn bà biểu diễn ở Champs-elysees, nơi bà gặp nhạc sĩ Reynaldo Hahn. Năm 1949 bà biểu diễn Damnation de Faust (Berlioz) ở nhà hát Opera-comique và thành lập một nhà hát ở Lyon, quê hương bà. Năm 1953, bà tham gia giảng dạy và biểu diễn ở nhạc viện Montevideo, Uruguay. Đến gần 70 tuổi, Vallin vẫn tiếp tục biểu diễn ở Nam Mỹ.
Sự nghiệp biểu diễn và lưu diễn của bà kết thúc vào tháng 8-1957 ở nhà hát mà bà thành lập ở Lyon. Những năm cuối đời, bà tập trung giảng dạy ở nhạc viện Lyon. Bà qua đời ngày 22-12-1961 sau một cơn xuất huyết não, hưởng thọ 75 tuổi.
Một thời, tuy có tư tưởng quay lưng lại với nước Pháp và chỉ biểu diễn ở nước ngoài và gặp nhiều tai tiếng do mối quan hệ căng thẳng của bà với "vua tenor Pháp" Georges Thill, Ninon Vallin vẫn được người Pháp yêu quí vì bà là một sứ giả của danh mục biểu diễn Pháp, hầu như chỉ tập trung vào biểu diễn danh mục Pháp trong những năm ở nước ngoài. Giống như Georges Thill, Vallin có một danh mục biểu diễn rất rộng, cả các vai trữ tình đến những vai kịch tính, một số vai opera Ý, Đức được hát bằng cả tiếng nguyên tác và trong các bản dịch tiếng Pháp. Bà cũng có một sự gắn bó đặc biệt với những tác phẩm bằng tiếng Tây Ban Nha của các nhạc sĩ cả của Tây ban nha và của Nam Mỹ. Nhiều nhạc sĩ nổi tiếng của Pháp rất thích giọng hát của vallin như Hahn, Saint-saens, debussy và mời bà hát trong những lần ra mắt một số tác phẩm của họ, ví dụ 3 bài thơ Malllarme (debussy).

Giọng hát của Ninon Vallin: Điển hình một giọng hát cũ, hơi chua, hơi có màu sắc "mốc xanh mốc đỏ" một chút. Một giọng hát rất giống một giọng hát Pháp cũ ở chất ngọt sắc (ít vibrato, ít portamento, lên nốt rất chính xác), ngả mũi, legato và nhả chữ chuẩn mực, trong trẻo, rõ ràng. Nhưng nó đủ độ ấm và dày để phân biệt với nhiều giọng hát khác. Vallin có kỹ thuật điều khiển giọng rất tốt, vẫn tiếp tục biểu diễn những năm bà đã 60, 70 tuổi. Giọng hát đều, sáng, rõ ràng và chắc chắn ở mọi âm vực, Debussy miêu tả giọng hát của bà là một giọng hát "lóng lánh như bạc". Vallin có danh mục cả trong lĩnh vực opera và melodie, thính phòng, những thể loại bà tập trung học trong những năm ở nhạc viện Lyon.
Thật khó tưởng tượng là lại có một sự mâu thuẫn đến như vậy giữa Vallin và Thill, Ninon Vallin gọi Thill là "a big baby and a bad colleague'. Giọng hát của 2 người hòa vào nhau 1 cách hoàn hảo: 2 giọng hát rõ ràng, khỏe mạnh, đều đặn suốt âm vực. Georges Thill màu sắc âm hơi tối, Vallin màu sắc sáng sủa, trong trẻo. Cả 2 người diễn xuất hơi cứng nhưng đều có một khoảng âm lượng rất ấn tượng, rõ ràng, từ pp đến ff. Thật may mắn là ít nhất 2 người đã ghi âm xong Werther, bản ghi của 2 người là 1 trong những bản hát hay nhất, có sự phối hợp ăn ý nhất (về giọng hát) và lồng lộng chất Pháp.

Số tiếp theo: Jacques Jansen - Irene Joachim - Camille Maurane/Erna Spoorenberg

phucphan
08-11-2006, 13:19
Pelleas và Melisande - Jacques Jansen, Irene Joachim
http://ec1.images-amazon.com/images/P/B000026GCZ.01._SS500_SCLZZZZZZZ_V1118262152_.jpg
Người Pháp có 4 vở opera được xem là những kiệt tác thực sự: Carmen (Bizet), Les Troyens (Berlioz), Manon (Massenet) và cuối cùng là Pelleas và Melisande (Debussy). Trong 4 vở opera này, Pelleas và Melisande nổi bật vì bút pháp sáng tác đặc biệt điêu luyện, lời hát phổ tự nhiên như nói, có những biến đổi quả cảm về hòa thanh và cách nhìn nhận về opera. Một vở opera không aria, không hợp xướng, thậm chí với những người đến với nó lần đầu tiên, còn chẳng có lấy một giai điệu nào có thể ghi nhớ trong đầu sau lần nghe đầu tiên. Nhưng những ai yêu thích Pelleas và Melisande đều phải công nhận một điều: Vở opera này có một thứ gần như bùa mê, nó gây nghiện thực sự, cái không khí huyền bí, cái chất thơ mơ mộng của nó khác với bất cứ vở opera nào khác. Mọi người có thể đọc lại về hoàn cảnh ra đời và tóm tắt cốt truyện của vở opera này tại đây (http://nhaccodien.info/forum/showthread.php?t=196).
Pelleas và Melisande là một vở opera may mắn trên ghi âm, và bản thu âm nào ít nhiều gì cũng nắm bắt được cái tinh thần huyền bí của phần dàn nhạc và những diễn biến sâu sắc trong những lời hát của các nhân vật chính. Lần đầu tiên Pelleas và Melisande được ghi âm đầy đủ là vào tháng 4-1941, giữa cuộc đại chiến thế giới thứ 2, trong những hoàn cảnh ghi âm khắc nghiệt. Nhiều người coi bản thu này là những gì còn sót lại của một truyền thống biểu diễn của người Pháp ngày nay đã không còn.
Jacques Jansen, baryton-martin lừng danh, người hát vai Pelleas trong bản thu này, từng nói: "Tôi có lợi thế khi hát Pelleas. Tôi không phải đóng Pelleas, tôi là Pelleas". Nghe những gì Jansen thể hiện trên bản ghi âm này, có thể nói Jansen cũng chẳng hề kiêu căng một chút nào. Irene Joachim, soprano Pháp, vai Melisande, cũng xứng đáng với Jacques Jansen trong vai diễn Melisande của mình. Nhạc trưởng Pháp Roger Desormiere, chỉ huy trong ghi âm này, dẫn dắt một lực lượng dàn nhạc Pháp với đúng những màu sắc Pháp thuần chủng: dây violon bằng ruột, sáo gỗ...
Một loạt các bản thu khác, với âm thanh tốt hơn, lần lượt ra đời. Camille Maurane, Richard Stilwell, Francois le Roux lần lượt trở thành những Pelleas có tiếng. Melisande cũng trở thành một vai yêu thích của một loạt thế hệ các soprano trữ tình Pháp và trên thế giới. Nhưng những gì được ghi lại từ bản thu Pelleas và Melisande đầu tiên vẫn được đánh giá rất cao trong giới yêu âm nhạc.
http://www.acceder.buenosaires.gov.ar/acceder/images/do/11/df40ab02a2010048a272a6422924d634.jpg
Trong hơn 40 năm, bắt đầu từ năm 1941, baryton-martin Pháp Jacques Jansen đã thể hiện vai Pelleas và là Pelleas nổi tiếng nhất ở nhà hát Opera-Comique, nơi công diễn lần đầu vở opera "Pelleas et Melisande". Jansen hát Pelleas dưới sự chỉ huy của nhiều nhạc trưởng nổi tiếng: Desormiere, Ansermet, Munch, Cluytens và Inghelbrecht. Giọng hát mượt mà tuyệt đẹp, đều từ thấp đến cao, thời trẻ lên đến những nốt trong những tầm âm cữ mà có lẽ 1 tenor cũng có thể gặp khó khăn, ngoại hình mỹ miều, đậm chất cổ điển. Jacques Jansen vừa là một giọng hát danh tiếng ở Opera-Comique, vừa nổi tiếng với diễn xuất tuyệt vời và thực chất ông đã từng nghĩ đến việc đi theo sự nghiệp điện ảnh. Tạp chí Le Figaro ngày 2-5-1952, nhân kỉ niệm lần biểu diễn đánh dấu 50 năm Pelleas được sáng tác, đã nhận xét về vai diễn Pelleas của Jacques Jansen: "Chắc chắn khi nghe và nhìn Jacques Jansen, Debussy sẽ nhận ra đứa con của mình. Jansen không đóng Pelleas, Jansen là Pelleas, từ đầu đến chân, từ giọng hát đến trái tim..." Cùng với Irene Joachim (Melisande), Henri Etcheverry (Golaud), Germaine Cernay (Genevieve), Jacques Jansen đã để lại những dấu ấn không thể quên được trong vai Pelleas trong bản thu hoàn chỉnh đầu tiên của vở opera này.
Jacques Jansen tên thật là Jacques Toupin, sinh ngày 22-11-1913 ở Paris. Ông học ở nhạc viện Paris, mở đầu bằng việc học violon và violoncelle. Ông học vào 1 thời kì mà tại nhạc viện Paris thanh nhạc và sân khấu chưa tách rời, và thường xuyên học hát với thể loại operette đặc trưng của Pháp. Ông học thanh nhạc với giọng baritone Pháp thể hiện melodies huyền thoại Charles Panzera và mezzo-soprano Claire Croiza, sau này cũng là người dẫn dắt cho Gerard Souzay. Ông học sân khấu và diễn xuất cùng Raymond Rouleau và Louis Jouvet. Ông được kí hợp đồng biểu diễn với nhà hát Opera-Comique vào năm 1939, khi còn là học sinh tại nhạc viện và trong năm sau sẽ tốt nghiệp nhạc viện với một giải nhất về thanh nhạc.
Những vai ra mắt trong sự nghiệp ca hát của ông chủ yếu là trong những vai operette nhẹ kí và cùng nhà hát Opera-Comique biểu diễn những vai chủ đề trong những lần ra mắt các vở operette "Fragonard" của Gabriel Pernie vào năm 1934 và Malvina của Reynaldo Hahn vào năm 1935. Tuy sau này sẽ đạt danh tiếng lẫy lừng với vai Pelleas, hợp đồng nhỏ của ông tại nhà hát Mogador cũng đem đến hàng trăm đêm diễn của Jansen trong vai Danilo trong vở "La Veuve Joyeuse" (Lehar) cùng Jeanne Aubert (Hanna). Đến những năm hơn 50 tuổi Jansen vẫn tiếp tục biểu diễn trên sân khấu opera. Melodies của Pháp cũng có một chỗ đứng đáng kể trong sự nghiệp của Jansen, ông được đánh giá cao với những melodie của Reynaldo Hahn, Maurice Ravel, Antoine Chabrier.
Học ở nhạc viện Paris cùng Panzera và Jouvet, Jansen nắm vững cả 2 kĩ năng về thanh nhạc và diễn xuất và được tham gia giảng dạy ở nhạc viện Paris từ năm 1969 đến năm 1982, được nhiều học trò tìm đến để học hỏi về truyền thống biểu diễn thanh nhạc của Pháp. Trong những năm tuổi trẻ, Jansen một vài lần thử sức với điện ảnh và được đóng vai chính trong một số bộ phim âm nhạc.
Tất nhiên, vai Pelleas là trung tâm trong danh mục biểu diễn của Jacques Jansen, ông học nó với Jean Perier, người đầu tiên hát Pelleas trong lần công diễn ra mắt. Jansen từng tuyên bố: "Ngoài Pelleas ra, tôi chưa hát cái gì". Ông đã hát nó tại rất nhiều nhà hát lớn của thế giới: La Scala Milan, Convent Garden London, Metropolitan New York, Colon Buenos Aires và tất nhiên là Opera Garnier Paris và Palais de Chatelet-Opera-Comique, nơi ông là Pelleas được yêu quý nhất, cùng với người "kế vị" sau này của ông là Camille Maurane. Vai Pelleas cũng là vai ghi âm nổi tiếng nhất của ông. Trên ghi âm, ông còn có những ghi âm các melodies của Reynaldo Hahn, Nikhalantha trong Lakme, Platee của Rameau và một vài operette. Bản thu Pelleas nổi tiếng nhất của ông là dưới baton của Roger Desormiere vào năm 1941, nhiều năm sau đó ông ghi âm với Inghelbrecht và với Cluytens, cùng Victoria de Los Angeles (Melisande) và Gerard Souzay (Golaud).
Ngày 30-4-2002, theo kế hoạch, ông được mời đến lần biểu diễn nhân kỉ niêm 100 năm ngày ra mắt của Pelleas và Melisande dưới sự chỉ huy của Marc Minkowski nhưng ông đã không thể tham dự. Jacques Jansen qua đời ngày 13-3-2002 ở Paris, hưởng thọ 89 tuổi. Ông được chôn cất ở nghĩa trang Montmartre.
Giọng hát của Jacques Jansen: Một ví dụ điển hình về một giọng baryton-martin hoàn chỉnh. Một giọng hát đều hoàn chỉnh từ thấp lên cao, thời trẻ, quãng cao của Jansen đặc biệt thoải mái, lên đến những sol, la một cách chắc nịch mà một tenor cũng có thể ghen tị. Trong cảnh tòa tháp (màn 3 cảnh 1) của vở opera, trong những trường đoạn cao (mais donnez moi ta main d'abord), nhiều khi người ta không thể xác định được đó là một giọng baryton hay tenor. Trong những câu xuống thấp (tu est ma prisonniere cette nuit, toute la nuit), ông đạt đến độ ấm gần bằng bass. Một giọng hát nhẹ, bay bổng nhưng ấm áp, rất trữ tình, nhả chữ một cách đủ rõ để người nghe có thể nghe ra từng từ, một đặc điểm đặc trưng của trường phái Pháp cũ. Jansen ghi âm vai Pelleas lại nhiều lần, nhưng những lần sau kém xa lần đầu tiên, âm cao bị với, âm trung bị mỏng và vụn hơn. Tiếng hát của Jacques Jansen trong bản Pelleas 1941 thật sự đẹp và trữ tình gần như ngoài sức tưởng tượng.
"Lần đầu tiên tôi gặp Pelleas, tôi cảm thấy như đó là khoảnh khắc đáng nhớ nhất của cuộc đời tôi. Tôi bước khỏi buổi diễn tập như một người say rượu. Chưa từng một tác phẩm nào tràn ngập tôi đến vậy...Bất ngờ Pelleas trở thành vũ trụ và là trọng tâm của sự nghiệp của tôi". Thực sự vai Pelleas của Jansen thật hoàn hảo, vừa say đắm, vừa nông cạn, thậm chí hơi trẻ con. Sau này Camille Maurane gần như đạt đến tầm cao của Jansen nhưng giọng hát mỏng hơn, không ấn tượng bằng.
http://www.musimem.com/images/joachim01b.jpg
Giọng hát trong trẻo, bay bổng, gương mặt đẹp, đầy chất mơ mộng...Irene Joachim dường như cũng là hình ảnh về Melisande mà chính Debussy đã nghĩ đến. Cha mẹ của Irene là Hermann Joachim và Suzanne Chaigneau, một gia đình có truyền thống âm nhạc bắt đầu từ Julius Joachim (1790-1867). Ông nội của Irene Joachim không ai khác ngoài nghệ sĩ violon lừng danh Joseph Joachim (1831-1867), người biểu diễn đầu tiên bản concerto violon của Brahms và là người đã gợi cảm hứng cho Brahms viết những Danses hongroises nổi tiếng. Chị họ của Joachim, Jelly Aranyi, là người được đề tặng các bản sonate violon số 1,2 của Bartok và Tzigane của Ravel..một dòng họ toàn thú dữ#:-S.
Irene Joachim sinh ngày 13-3-1913 ở Paris, 44 phố Bac. Bà mở đầu học nhạc với mẹ, sau đó vào học ở nhạc viện Paris, lớp học hát của Suzanna Cesbron-Viseur, từ những năm 1936 đến 1939 đạt được nhiều giải thưởng của trường, đoạt giải nhất cả về opera-comique, opera và bi kịch cổ điển. Năm 1939, bà kí hợp đồng với opera-comique và biểu diễn ra mắt trong Le Bon Roi Dagobert vào ngày 2-2. Sau đó bà vào vai Melisande, Sophie và Micaela và phần soprano trong một số tác phẩm thanh nhạc trình tấu của Pháp. Bà biểu diễn cả danh mục tiếng Pháp và tiếng Đức của các tác giả Schubert, Schumann và Brahms và biểu diễn rất nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ đương đại cùng thời như Wissmer, Le Flem, Delannoy, Boulez...Bà học vai Melisande với Mary Garden, người hát vai Melisande trong lần ra mắt của Pelleas et Melisande. Joachim nhớ lại: "Mary Garden dặn tôi: Anh ta (Golaud) chưa cần chạm vào vai cô thì cô đã phải chuẩn bị sẵn sàng để chạy đi rồi".
Ghi âm thành công trong ghi âm Pelleas và Melisande lịch sử, Irene Joachim được mời đến các sân khấu của London, Vienna, Venise, Geneva, Amsterdam, Bordeaux, Strasbourg...Tại các nhà hát của Paris, bà hát trong các vở Ariane, Barbe-Bleu (Offenbach), Le Roi d'Ys (Lalo)...Bà đã biểu diễn với nhiều dàn nhạc nổi tiếng của Pháp: Concert Lamoureux, Radio-telediffusion Francaise, Societes de la Conservatoire...Bà tham gia giảng dạy ở trường hát Cantorum từ 1954 đến 1962, ở nhạc viện Paris từ 1953 đến 1982, nhạc viện Fontainebleau từ năm 1983...Irene Joachim ghi âm không nhiều, nổi tiếng nhất là ghi âm Melisande lịch sử, ngoài ra ghi âm nhiều Lieder và melodies. Cũng giống Jacques Jansen, nhờ lợi thế ngoại hình mà Joachim cũng từng thử sức với điện ảnh, chủ yếu trong những bộ phim âm nhạc. Joachim có 3 đời chồng và 1 người con trai trong ngành điện ảnh. Từ năm 1950, Joachim tham gia đảng cộng sản Pháp, thường xuyên tham gia các hoạt động vì quyền con người.
Irene Joachim qua đời ngày 20-4-2001, 1 năm trước Jacques Jansen, sau một thời gian chiến đấu với căn bệnh não Alzheimer, hưởng thọ 88 tuổi.
Giọng hát của Irene Joachim: Thêm một giọng hát mang màu sắc của một giọng hát Pháp cũ, đã mốc xanh mốc đỏ: nhẹ, mỏng tang, ngả mũi, âm sắc trong trẻo, sáng, khá đẹp, càng lên cao càng đẹp, trung âm không thật dày, nhả chữ rõ mồn một, legato khá tốt và hầu như không bao giờ dùng đến vibrato hay portamento, trữ tình.
Irene Joachim được biết đến là "Melisande de tous les coeurs" (Melisande của mọi trái tim). Vai diễn Melisande của bà đặc biệt chuẩn mực: hoàn hảo về cao độ, giọng hát mỏng, tính hiện diện rất ít, vai Melisande của bà gần như là một người phụ nữ không tồn tại, như một người bước từ một giấc mơ ra. Âm sắc trong veo gợi cảm giác về tuổi trẻ của Melisande một cách xuất sắc. Trong câu "Je t'aime" cuối màn 4, Joachim gần như biến mất. Một Melisande thực sự bí hiểm và mơ mộng, chất Pháp hoàn hảo, vẫn có sức cuốn hút đặc biệt dù sau này rất nhiều giọng soprano đầy đặn hơn đã ghi dầu ấn với vai Melisande.

Ghi âm "Pelleas et Melisande" của Jacques Jansen và Irene Joachim là ghi âm hoàn thiện đầu tiên của vở opera của Debussy, hoàn thành vào năm 1941, giữa chiến tranh thế giới thứ 2, trên đĩa nhựa 78 vòng/phút. Khi được hoàn thành, bản thu tốn tổng cộng 20 đĩa, do sáp rất thiếu thốn trong điều kiện chiến tranh, bản thu gần như được ghi âm trong 1 lần thu duy nhất.

phucphan
17-11-2006, 12:05
http://homepage.mac.com/tomoyukif/pict13/mauranephot.jpg
Baryton-martin Camille Maurane từ lâu vẫn được coi là người kế vị Jacques Jansen trong vai Pelleas. Camille Maurane sinh ngày 29-11-1911 ở Rouen, miền bắc nước Pháp. Cha ông là giáo viên dạy nhạc và ông học hát từ nhỏ ở thị trấn Maitrise Saint-Evode, Rouen với một cha sứ. Không được khuyến khích theo học nhạc, nhưng ông học vào học ở nhạc viện Paris vào năm 1936 dưới sự dẫn dắt của giáo viên và mezzo-soprano nổi tiếng Claire Croiza, người cũng đã hướng dẫn Jacques Jansen và Gerard Souzay. Ông tốt nghiệp năm 1939, giải nhất về thanh nhạc và opera-comique. Ông ra mắt ở nhà hát Opera-Comique, Paris vào năm 1940 dưới tên biểu diễn là Camille Moreau. Maurane nổi tiếng là một người thể hiện xuất sắc Melodie Pháp của Faure, Duparc, Gounod...và một số tác phẩm thanh nhạc tôn giáo như Requiem của Faure hay Cantate de Noel của Honegger. Ông có công lớn trong việc phục hồi âm nhạc baroque của Jean-Philippe Rameau, nhất là trong các vở opera Castor et Pollux, Les Indes galantes... Trên sân khấu opera Pelleas là vai diễn nổi tiếng nhất của ông. Ngoài ra có các vai Nikhalantha và Frederic trong Lakme (Delibes), Albert (Werther-Massenet), các vai phản diện trong Contes d'Hoffmann (Offenbach), đồng hồ và mèo đen (l'Enfant et les sortileges - Ravel)... Ông tham gia giảng dạy ở nhạc viện Paris trong suốt 30 năm đến năm 1981 và là ban giám khảo thường xuyên của các cuộc thi do nhạc viện này tổ chức. Camille Maurane là một trong những người đồng thành lập tổ chức Jeunesses Musicales của Pháp. Camille Maurane ghi âm chủ yếu cho Erato và Decca. Ông ghi âm Pelleas 3 lần, nổi tiếng nhất là cùng Ernest Ansermet.
Một giọng hát baryton-martin điển hình: mỏng, nhẹ bỗng, lên cao (sol, la...) thoải mái, trung âm và âm trầm của Maurane mỏng, hơi khô nhưng vẫn có độ vang. Một người thể hiện mélodie xuất sắc, đặc điểm đầu tiên một người nhận thấy là khả năng nhả chữ rất rõ của Maurane. Một giọng hát trẻ trung suốt sự nghiệp. Với vai Pelleas, Camille Maurane nhấn mạnh sự bị động và yếu đuối gần như nữ tính của nhân vật.
http://www.dutchdivas.net/sopranos/images/erna03.jpg
Soprano người Hà Lan Erna Spoorenberg là Melisande của Camille Maurane trong bản thu nổi tiếng cùng Georges London (Golaud) và Ernest Ansermet chỉ huy. Bà sinh ngày 11-4-1926 ở Indonesia, bố mẹ người Hà Lan. Bà học nhạc (violon và thanh nhạc) ở Amsterdam và Hilversum, biểu diễn ra mắt năm 1947 trên đài phát thanh, tham gia nhà hát Opera Amsterdam năm 1958, chủ yếu biểu diễn trong nước, đôi khi lưu diễn sang một số nước châu Âu khác, chủ yếu ở Vienna và Berlin sau khi thi thử giọng thành công cho Karl Bohm. Đầu những năm 1970, bị gãy xương sườn sau một tai nạn ôtô, Spoorenberg chuyển sang giảng dạy từ năm 1970 đến 1978 ở Brussels và Amsterdam, sau đó chuyển sang dạy riêng. Bà thành lập một cuộc thi thanh nhạc về oratorio mang tên bà và nhận được nhiều danh hiệu của vương quốc Hà Lan. Bà qua đời ngày 18-3-2004.
Danh mục của bà chủ yếu gồm Mozart, một số tác phẩm của Bach. Các vai diễn opera chủ yếu là các vai trữ tình và màu sắc: Norina, Konstanze, Pamina, Olympia, Adele, Violetta, Gilda...Melisande là một vai diễn nổi tiếng của bà.
Giọng hát của Spoorenberg có âm sắc rất trong trẻo, sạch sẽ như nước lọc, vibrato nhanh, nhả chữ rất rõ, hơi giống một người đồng hương nổi tiếng là Elly Ameling nhưng lên cao thoải mái hơn. Vai Melisande của Spoorenberg nhấn mạnh sự nhút nhát, sợ hãi của Melisande, bà cũng là một trong những Melisande duy nhất khóc thành tiếng trên ghi âm. Nếu như Joachim nhấn mạnh tính "vô vật chất" như không tồn tại của Melisande thì Spoorenberg là một Melisande yếu đuối nhưng có phần láu cá, tinh quái.

phucphan
17-11-2006, 13:26
http://www.goethezeitportal.de/fileadmin/Images/db/wiss/dossiers/goethe_werther/werther.jpg
Werther - Actes III & IV
Werther...Georges Thill, tenor
Charlotte...Ninon Vallin, soprano
Sophie...Germaine Feraldy, soprano
Albert...Marcel Rocque, baryton
Elie Cohen, Orchestre et Choeurs de Paris

Acte III:
Prelude (http://www.4shared.com/file/6036977/f40717fa/01_Werther-_Act_III-_Prelude.html)
Werther! Qui m'aurait dit... (http://www.4shared.com/file/6037042/182dec5c/02_Werther-_Act_III-_Werther_Qui_maurait_dit.html)
Air de la lettre: Ces lettres! Ces lettres! (http://www.4shared.com/file/6037053/7631ed8b/03_Werther-_Act_III-_Ces_lettres_Ces_lettres.html)
Bonjour, grande soeur (http://www.4shared.com/file/6037058/e1e33403/04_Werther-_Act_III-_Bonjour_grande_soeurMais_souffres-tu-.html)
Ah! Le rire est béni (http://www.4shared.com/file/6037061/b312df64/05_Werther-_Act_III-_Ah_Le_rire_est_beni.html)
Air des larmes: Les larmes qu'on ne pleure pas (http://www.4shared.com/file/6037106/7aee8776/06_Werther-_Act_III-_Les_larmes_quon_ne_pleure_pas.html)
Ah! Mon courage m'abandonne (http://www.4shared.com/file/6037104/94e0e65a/07_Werther-_Act_III-_Ah_Mon_courage_mabandonne.html)
Oui, c'est moi (http://www.4shared.com/file/6037143/6ee8b6fd/08_Werther-_Act_III-_Oui_cest_moi.html)
Tout mon âme est là...Pourquoi me réveiller? (http://www.4shared.com/file/6037110/8a961302/09_Werther-_Act_III-_Tout_mon_ame_est_laPourquoi_me_reveiller.html)
Ciel, ai-je compris? (http://www.4shared.com/file/6037141/80e6d7d1/10_Werther-_Act_III-_Ciel_ai-je_compris.html)
Ah! Moi, dans ses bras? (http://www.4shared.com/file/6037138/b67bf9b2/11_Werther-_Act_III-_Ah_Moi_Dans_ses_bras.html)
Soit, adieu donc! (http://www.4shared.com/file/6037147/698572e4/12_Werther-_Act_III-_Soit_Adieu_donc.html)
Werther est de retour (http://www.4shared.com/file/6037150/eefad606/13_Werther-_Act_III-_Werther_est_de_retour.html)
Acte IV:
La nuit de Noel: Interlude symphonique (http://www.4shared.com/file/6037154/e997121f/14_Werther-_Act_IV-_Symphonie.html)
Werther! Rien! (http://www.4shared.com/file/6037183/c25df9f1/15_Werther-_Act_IV-_Werther_Rien.html)
Et moi, Werther, je t'aime! (http://www.4shared.com/file/6037190/424f990a/16_Werther-_Act_IV-_Et_moi_Werther_Je_taime.html)
Ecoute-bien...La bas, au fond du cimetiere (http://www.4shared.com/file/6037181/2c5398dd/17_Werther-_Act_IV-_Ecoute_bien_La-bas_au_fond_du_cimetiere.html)
Jesus vient de naitre (http://www.4shared.com/file/6037189/228810ef/18_Werther-_Act_IV-_Jesus_vient_de_naitre.html)

http://www.andreemarliere.com/images/Image-40_S400.jpg
Pelleas et Melisande
Pelleas...Jacques Jansen, baryton-martin
Melisande...Irene Joachim, soprano
Golaud...Henri Etcheverry, baryton-basse
Genevieve...Germaine Cernay, mezzo-soprano
Roger Desormiere, Orchestre du Conservatoire

Cảnh trong vườn (màn 1 cảnh 3)
Il fait sombre dans ces jardins (http://www.4shared.com/file/5094111/947c8e46/06_pelleas_et_melisande-_acte_i-scene_3-_il_fait_sombre_dans_les_jardins.html)
Hisse! Hoé! Hoé! (http://www.4shared.com/file/5094131/a64aecc4/07_pelleas_et_melisande-_acte_i-scene_3-_hoe_hisse_hoe_hoe_hoe.html)
Cảnh giếng nước (màn 2 cảnh 1)
Vous ne savez pas ou je vous ai menée? (http://www.4shared.com/file/5094128/c68d6521/08_pelleas_et_melisande-_acte_ii-scene_1-_vous_ne_savez_pas_ou_je_vous_ai_menee-.html)
C'est au bord d'une fontaine (http://www.4shared.com/file/5094365/dfd408f6/09_pelleas_et_melisande-_acte_ii-scene_1-_cest_au_bord_dune_fontaine.html)
Cảnh hang động (màn 2 cảnh 3)
C'est ici, nous y sommes... (http://www.4shared.com/file/5094612/83ac979/13_pelleas_et_melisande-_acte_ii-scene_3-_oui_cest_ici_nous_y_sommes.html)
Cảnh tòa tháp (màn 3 cảnh 1)
Mes longs cheveux descendent (http://www.4shared.com/file/5094619/9fe810f1/01_pelleas_et_melisande-_acte_iii-scene_1-_mes_longs_cheveux_descendent_de_la_tour.html)
Oh! Mes cheveux descendent de la tour (http://www.4shared.com/file/5094616/f570d60/02_pelleas_et_melisande-_acte_iii-scene_1-_oh_oh_mes_cheveux_descendent_de_la_tour.html)
Love Scene (màn 4 cảnh 4)
C'est le dernier soir (http://www.4shared.com/file/5094812/2a4e473/13_pelleas_et_melisande-_acte_iv-scene_4-_cest_le_dernier_soir.html)
On dirait que ta voix a passé (http://www.4shared.com/file/5094806/1cd2112b/14_pelleas_et_melisande-_acte_iv-scene_4-_on_dirait_que_ta_voix_a_passe.html)
Quel est ce bruit? (http://www.4shared.com/file/5094809/8c6d0cba/15_pelleas_et_melisande-_acte_iv-scene_4-_quel_est_ce_bruit-_on_ferme_les_portes-.html)
http://www.oneposter.com/UserData/Poster/Poster_8558.jpg
Pelleas et Melisande
Pelleas...Camille Maurane, baryton-martin
Melisande...Erna Spoorenberg, soprano
Ernest Ansermet, Orchestre de la Suisse Romande

Cảnh giếng nước (màn 2 cảnh 1)
Vous savez ou je vous ai menée? (http://www.4shared.com/file/6037241/82a06988/07_Pellas_et_Mlisande_Acte_2_Scene_1-_Vous_ne_savez_pas_ou_je_vous_ai_mene-.html)
Interlude (http://www.4shared.com/file/6037227/3d996b3b/08_Pellas_et_Mlisande_Acte_2_Scene_1-_Interlude.html)
Cảnh lâu đài (màn 4 cảnh 1)
Ou vas-tu? Il faut que je te parle ce soir... (http://www.4shared.com/file/6037235/ca8c3b56/05_Pelleas_et_Melisande_acte_IV_scene_I-_Ou_vas-tu-_Il_faut_que_je_te_parle_ce_soir.html)
Love Scene (màn 4 cảnh 4)
C'est le dernier soir (http://www.4shared.com/file/6037310/8912c76c/11_Pelleas_et_Melisande_acte_IV_scene_IV-_Cest_le_dernier_soir.html)
Nous sommes venus ici il y a bien longtemps (http://www.4shared.com/file/6037306/796a5318/12_Pelleas_et_Melisande_acte_IV_scene_IV-_Nous_sommes_venus_ici_il_y_a_bien_longtemps.html)
On dirait que ta voix a passé (http://www.4shared.com/file/6037320/a23f94af/13_Pelleas_et_Melisande_acte_IV_scene_IV-_On_dirait_que_ta_voix_a_passe_sur_la_mer_au_print emps.html)
Quel est ce bruit? (http://www.4shared.com/file/6037344/f308f730/14_Pelleas_et_Melisande_acte_IV_scene_IV-_Quel_est_ce_bruit-.html)

phucphan
18-11-2006, 12:00
@};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};-
Chuyên mục "Những bông hoa nhỏ"
Phim hoạt hình: "Đứa trẻ và những lá bùa" - Tập 1
http://www.musicweb-international.com/SandH/2001/Nov01/ravel.jpg

Các diễn viên:
Đứa trẻ...Francoise Ogéas
Mẹ / Chén trà Tàu / Con chuồn chuồn...Jeanine Collard
Cô chăn cừu / Mèo trắng / Con sóc...Jane Berbié
Ngọn lửa / Công chúa / Chim họa mi...Sylvaine Gilma
Con dơi / Con cú mèo / Cô chăn cừu...Collette Herzog
Cái ghế / Cái cây...Heinz Rehfuss
Đồng hồ / Mèo đen...Camille Maurane
Ấm chè / Thần số học / Con nhái...Michel Senechal

Đạo diễn: Lorin Maazel
Dàn nhạc và hợp xướng đài phát thanh truyền hình TV5

"Đứa trẻ và những lá bùa", tên nguyên gốc là "L'enfant et les sortileges" là một bộ phim hoạt hình tiếng Pháp với phần nhạc của nhạc sĩ Maurice Ravel (1875-1937). Phim dựa trên câu truyện của nhà văn nữ người Pháp Colette (1873-1954) và là phim hoạt hình thứ 2 của Ravel, sau "Giờ tây ban nha" (L'heure espagnole). Ravel viết phần nhạc cho "Đứa trẻ và những lá bùa" trong khoảng thời gian 8 năm, từ 1917 đến 1925. Lần đầu tiên phim được trình chiếu là vào năm 1925 ở Monte Carlo, Monaco dưới phần dàn dựng của đạo diễn Victor de Sabata.
Câu truyện diễn ra trong một căn nhà nhỏ ở Normandy, "Đứa trẻ và những lá bùa" kể về một cậu bé hư, sau khi bị mé mắng vì tội không chịu làm bài tập, dỗi và đập phá mọi thứ trong phòng. Bỗng mọi đồ đạc trong nhà biến thành người thật và tiến đến dọa cậu bé. Cậu bé được một bài học nhớ đời. Các bé xem, từ nay các bé phải chăm chỉ, ngoan ngoãn và đõi xử tốt với mọi đồ đạc, mọi con thú, nếu không thì mẹ và cả các đồ vật, con thú ấy cũng sẽ giận các bé đấy;;) .
Phần nhạc của chú Ravel viết cho "Đứa trẻ và những lá bùa" đòi hỏi 1 dàn nhạc lớn, 1 hợp xướng trẻ em, 1 hợp xướng người lớn và 8 ca sĩ đơn ca trong những vai khác nhau. Đây là một bộ phim hoạt hình khó dàn dựng vì nó có nhiều yếu tố rất là fantasy và đòi hỏi một kíp làm phim rất lớn. Âm nhạc của "Đứa trẻ và những lá bùa" là điển hình cho lối viết của Ravel, âm nhạc tinh quái, sáng tạo và khô, khác hẳn với một người đồng hương của chú Ravel là Debussy. Chú Ravel viết phần nhạc cho "Đứa trẻ và những lá bùa" lấy cảm hứng từ các opera của Mỹ, đặc biệt của Gershwin và tuyên bố nó là một sự pha trộn của đủ các phong cách sáng tác "từ Bach đến...Ravel" và rất giàu giai điệu. Phần dàn nhạc sử dụng piano và nhiều yếu tố tạo âm thanh phụ như quạt điện, chày thớt...Lần chiếu phim đầu tiên, một số nhạc sĩ như Andre Messenger không thích, nhưng các nhạc sĩ nhóm Les Six thì rất ca ngợi tác phẩm của Ravel.
Về phần lời, nhà văn nữ Colette viết phần lời cho "Đứa trẻ và những lá bùa" từ sau thế chiến thứ nhất, khi nhà hát Opera Paris yêu cầu bà viết phần lời cho một bộ phim hoạt hình kèm ballet và lấy nhan đề là "Những cảnh giải trí cho con gái tôi". Colette đưa phần lời cho chú Ravel phổ nhạc, từ chối đưa nó cho bất cứ nhạc sĩ nào khác. Ravel nhận được vào năm 1917, sau khi đánh mất nó vào năm 1916 do tham gia chiến tranh. Gặp những khó khăn cá nhân, chú Ravel viết nó hơi chậm, Colette tưởng như chú Ravel sẽ không thể viết xong nó, nhưng rồi nó cũng được hoàn thành cuối năm 1924. Bộ phim hoạt hình kèm ballet được công diễn lần đầu năm 1925, ngày 21-3, với phần vũ đạo của George Balanchine, do các cô chú vũ công người Nga của nhà hát Opera Monte Carlo.

Bây giờ mời các bé xem phim...B-)

Tập 1
http://www.drammaturgia.it/recensioni/img/cat7/0206_piccinni_enfant_4.jpg
J'ai pas envie de faire ma page (http://www.4shared.com/file/6083692/51bc48e5/01_LEnfant_et_les_Sortileges-_Jai_pas_envie_de_faire_ma_page.html)
Một ngôi nhà nhỏ, cũ kĩ ở Normandy. Một cậu bé độ 6-7 tuổi đang ngồi làm bài nhưng đầu óc thì đang để trên mây, không muốn làm bài mà chỉ muốn đi dạo, ăn bánh, giật đuôi con mèo và bắt mẹ úp mặt vào tường.

Bébé a été sage? (http://www.4shared.com/file/6083720/5d849a35/02_LEnfant_et_les_Sortileges-_Bebe_a_ete_sage-.html)
Mẹ bé bước vào, hoặc đúng hơn, xét theo tỉ lệ các đồ vật thì mẹ của bé là một cái váy khổng lồ. Mẹ nhắc bé làm bài nhưng bé không nghe, dám lè lưỡi trước mặt mẹ. Mẹ rất giận, bắt bé ngồi chép phạt và chỉ cho bé một bữa trưa rất nhạt và khô.

Ca m'est égal! (http://www.4shared.com/file/6083722/b38afb19/03_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ca_mest_egal.html)
Mẹ vừa bước đi, bé nhảy chồm lên, đập phá căn phòng, giật đuôi con mèo, đấm thùm thụp vào cái đồng hồ, xé sách vở, gạt chén, tách trên bàn xuống đất làm vỡ loảng xoảng, quyết không làm bài nữa. Đập phá xong mệt, bé ngả lưng vào cái ghế bành.

Votre serviteur humble, Bergere (http://www.4shared.com/file/6083734/43f26f6d/04_LEnfant_et_les_Sortileges-_Votre_serviteur_humble_Bergere.html)
Bé giật thót tim và lùi lại, ngạc nhiên. Cái ghế bành bỗng biến thành người thật, đứng dậy vươn vai rồi bước đến chỗ con búp bê hình cô chăn cừu, tuyên bố sẽ không cho bé ngồi nghỉ nữa. Cậu bé sợ hãi, dựa lưng vào tường, chạm trúng cái đồng hồ.

Ding, ding, ding! (http://www.4shared.com/file/6083733/dd96face/05_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ding_ding_ding.html)
Cái đồng hồ bỗng giật thót, nhảy ra khỏi tường, chửi ầm lên vì bị cậu bé làm đau, xấu hổ vì bị cậu bé giật mất quả lắc.

http://www.operajaponica.org/graphics/photos/france/garnier/garnenfantsortil/garnenfantsortil1.jpg
How's your mug? (http://www.4shared.com/file/6083763/a0e10e8b/06_LEnfant_et_les_Sortileges-_Hows_your_mug-.html)
Ấm chè và tách trà Tàu trên bàn nhảy ra khỏi bàn và nói chuyện bằng tiếng anh. Ấm chè tiến đến cậu bé, hầm hầm khí thế như một võ sĩ quyền anh, dọa sẽ đấm vỡ mũi cậu bé.

Keng-ca-fou, Mah-jong? (http://www.4shared.com/file/6083768/3733d703/07_LEnfant_et_les_Sortileges-_Keng-ca-fou_Mah-jong.html)
Chén trà Tàu cùng ấm chè cùng hát một duet đầy những âm thanh nửa tây nửa tàu rồi biến mất.

Oh! Ma belle tasse chinoise (http://www.4shared.com/file/6083775/50999aff/08_LEnfant_et_les_Sortileges-_Oh_Ma_belle_tasse_chinoise.html)
Cậu bé tiếc cái chén trà Tàu đẹp của mình rồi tiến đến lò sưởi.

En arriere! Je rechauffe les bons (http://www.4shared.com/file/6083781/d06c4229/09_LEnfant_et_les_Sortileges-_Arriere_Je_rechauffe_les_bons.html)
Ngọn lửa nhảy bật ra khỏi lò sưởi, ra hiệu bắt bé lùi lại: "Tao sưởi ấm cho những đứa nào ngoan và sẽ làm những đứa hư bị bỏng". Ngọn lửa bước ra khỏi phòng, nghịch với những vết tro đen mà nó tạo ra.

Adieu, pastourelles (http://www.4shared.com/file/6083798/b0abcbcc/10_LEnfant_et_les_Sortileges-_Adieu_pastourelles.html)
Một quyển sách truyện bước ra. Đầu tiên một nhóm những người chăn cừu bước ra, chơi một bản nhạc đơn giản và hồn nhiên, tất cả đều mắng cậu bé đã xé sách truyện rồi bước ra khỏi phòng.
http://www.forumopera.com/concerts/photos2/ravel_3016.jpg
Ah! C'est elle! (http://www.4shared.com/file/6083793/27791244/11_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ah_cest_Elle.html)
Nàng công chúa xinh đẹp bước ra khỏi cuốn sách truyện. Cậu bé bước đến định ôm lấy nàng công chúa nhưng công chúa ra hiệu cho bé lùi lại, trách bé đã xé nát sách truyện. Nói rồi một bàn tay kì lạ từ dưới đất kéo nàng công chúa xuống lòng đất.

Toi, le coeur de la rose (http://www.4shared.com/file/6083795/ce1ab771/12_LEnfant_et_les_Sortileges-_Toi_le_coeur_de_la_rose.html)
Cậu bé cố tìm lại nàng công chúa trong những trang sách truyện nhưng không thấy gì. Chỉ còn lại những cuốn sách giáo khoa toán.

2 robinets coulent dans un réservoir (http://www.4shared.com/file/6083804/63837b93/13_LEnfant_et_les_Sortileges-_2_robinets_coulent_dans_un_reservoir.html)
Một ông già, thần số học và một loạt các con số nhảy ra khỏi cuốn sách. Ông già đọc những bài toán đố như những bài hát rồi cùng các con số nhảy múa trong một đoạn điệp khúc điên loạn: 4+4=18, 11+6=25, 7X9=33, milimetre, centimetre, decimetre...Cậu bé hoa cả mắt và ngất xỉu.

Oh! Ma tete! (http://www.4shared.com/file/6083803/fde7ee30/14_LEnfant_et_les_Sortileges-_Oh_Ma_tete.html)
Cậu bé tỉnh dậy, thấy con mèo đen, to khổng lồ, đang nghịch với cái đầu của cậu như với một cuộn len. Nghe thấy tiếng con mèo trắng, mèo đen không nghịch nữa và chạy ra chỗ mèo trắng.

http://ec3.images-amazon.com/images/P/B00000JLFX.01._AA240_SCLZZZZZZZ_.jpg
Duo miaulé: Miau! Miau! (http://www.4shared.com/file/6083807/fa8a2a29/15_LEnfant_et_les_Sortileges-_Miau_Miau.html)
2 con mèo cùng hát "meo, meo" trên một giai điệu của Wagner. Sau bài hát của 2 con mèo, cậu bé thấy mình đã ở ngoài khu vườn của căn nhà.

Để biết thêm về các cô chú trong kíp làm phim và biết những gì sẽ xảy ra trong khu vườn nhà bé, mời các bé đón xem tập 2 của bộ phim trên chuyên mục "Những bông hoa nhỏ":> .

kiki
18-11-2006, 16:02
Chuyên mục kể chuyện cổ tích & dạy hát dành cho thiếu nhi

Các bạn ơi ! Trong lúc chờ chú pháp sư phucphan tiếp tục câu chuyện về ê kíp làm phim và chiếu tập 2 bộ phim cho chúng ta xem, kiki sẽ cho các bạn nghe một đoạn băng ghi âm cuộc đối thoại giữa cô Colette (nữ nhà văn Pháp) và chú Édouard Herriot (một chính khách Pháp nhé) :

Colette : J’aime aimer (Tôi thích yêu)
Édouard Herriot : Et moi, J’aime être aimé (Còn tôi, tôi thích được yêu)

Người lớn khó hiểu nhỉ các bạn nhỉ ? kiki thấy cô Colette thật là hư, còn chú Édouard Herriot thì không hư bằng cô Colette. kiki nghe nói rằng trẻ con bắt đầu hư khi chúng hiểu người lớn. Sau này lớn lên nếu chúng ta phải chọn một trong hai kiểu hư trên thì các bạn sẽ chọn kiểu nào ?

Sau đây kiki sẽ đọc cho các bạn chép lời bài hát Những tiếng chim trong vườn của chú Châu Đức Khánh nhé. Các bạn cứ tập đọc trước đi rồi chú phù thủy ttdungquantum (hoặc bất cứ ai có file âm thanh bài hát này) sẽ dạy các bạn hát :

Kìa con chim gáy, cúc cu, són mi
Kìa chú vàng anh, líu lo, phá mí rê
Kìa cô chích chòe, chích chòe, phá mí đồ
Một dàn nhạc chim líu lo trong vườn.

Chích chích chích, son son son, là chú chim sâu
Cúc cu, phá mí rê, là chàng bồ câu
Và giữa trời xanh, mặt trời dang đôi cánh
Một dàn nhạc chim chúng tôi bắt đầu.

phucphan
12-12-2006, 09:28
@};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};- @};-
Chuyên mục "Những bông hoa nhỏ"
Phim hoạt hình: "Đứa trẻ và những lá bùa" - Tập 2

http://www.mvdaily.com/articles/2002/06/ravel4.jpg
Các diễn viên:
Đứa trẻ...Francoise Ogéas
Mẹ / Chén trà Tàu / Con chuồn chuồn...Jeanine Collard
Cô chăn cừu / Mèo trắng / Con sóc...Jane Berbié
Ngọn lửa / Công chúa / Chim họa mi...Sylvaine Gilma
Con dơi / Con cú mèo / Cô chăn cừu...Collette Herzog
Cái ghế / Cái cây...Heinz Rehfuss
Đồng hồ / Mèo đen...Camille Maurane
Ấm chè / Thần số học / Con nhái...Michel Senechal

Đạo diễn: Lorin Maazel
Dàn nhạc và hợp xướng đài phát thanh truyền hình TV5

Trong số các cô chú diễn viên, các bé hẳn đã quen với chú Camille Maurane và bác Michel Senechal. Cô Francoise Ogeas là một giọng soprano của nhà hát opera Paris, nổi tiếng với các vai diễn soubrette hoặc các vai trouser role những chú bé như Yniold và đứa trẻ trong "Đứa trẻ và những lá bùa". Cô Ogeas cũng biểu diễn một số phần soloist trong một số tác phẩm như Requiem của Faure. Cô Ogeas có một giọng hát mỏng, âm sắc trong trẻo, dễ chịu, có phần giống giọng của một boy soprano (giọng nam chưa vỡ).
Colette Herzog và Sylvaine Gilma là những giọng soprano Pháp biểu diễn chủ yếu trong nước sau thế chiến 2. Cô Sylvaine Gilma là một soprano colorature khá nổi tiếng ở Pháp, âm sắc mỏng, hơi chói tai và ngả mũi nhưng kĩ thuật hát thì khá khủng khiếp, staccato như máy, chạy nốt bật tanh tách và cao độ cực chính xác. Jeanine Collard và Jane Berbie là những mezzo soprano cũng biểu diễn rất nhiều sau thế chiến 2. Jeanine Collard ghi âm rất nhiều vai mezzo quan trọng của opera Pháp, giọng hát đẹp, thể hiện sân khấu rất đạt. Jane Berbie quê ở Toulouse, học ở nhạc viện Paris. Cô Berbie có danh mục rất rộng, từ Monteverdi đến Satie và Ravel, chủ yếu đóng các vai mezzo hoặc soubrette như Zerlina, Despina, Marcellina, Mercedes hay thậm chí cả Rosina. Heinz Rehfuss (1917-1988) là bass-baritone người Đức gốc Thụy Sĩ, sau này nhập quốc tịch Mỹ, là một giọng hát hát Bach nổi tiếng (có mặt trong ghi âm Mass si thứ Karajan chỉ huy)và cũng thể hiện cả một số vai bass-baritone kịch tính như Don Giovanni hay Boris Godunov. Rehfuss hát khá nhiều vai baritone của opera Pháp trong các vở như Romeo et Juliette (Gounod), cả 2 vở Faust của Gounod và Berlioz...

Tập 2
http://www.french-art.com/artistes/manen/images/sc_manen-03.jpg

Musique d'insectes (http://www.4shared.com/file/6083812/93fbefe7/16_LEnfant_et_les_Sortileges-_Musique_des_insectes_et_des_rainettes.html)
Duet của 2 con mèo đưa cậu bé lên khu vườn của căn nhà. Cậu bé nghe thấy tiếng nhạc, một bản hòa tấu của côn trùng, ếch nhái và tiếng cú mèo kêu.

Ah! Quel joie de te retrouver, jardin (http://www.4shared.com/file/6083814/7a984ad2/17_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ah_quelle_joie_de_te_retrouver_Jardin.html)
Bé vừa tựa lưng vào một cái cây thì cái cây bắt đầu rên rỉ. Nó kể tội cậu bé đã dùng dao chém vào thân cây. Tất cả các cây khác trong vườn đều bắt đầu một điệp khúc rên rỉ.

Òu es-tu? Je te cherche... (http://www.4shared.com/file/6083816/94962bfe/18_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ou_es-tu-_Je_te_cherche.html)
Một con chuồn chuồn đực bay đến, đòi bé trả lại con chuồn chuồn cái. Nhưng cậu bé không thể trả được, vì con chuồn chuồn cái đã bị bắt và ghim vào tường. Con chim họa mi hót trên nền cuộc trò chuyện.

Rends-la moi...tsk...tsk... (http://www.4shared.com/file/6083835/3fa918c6/19_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ronde_des_chauves-Souris-_Rends-la_moi.html)
Con dơi đực cũng bay đến, đòi cậu bé trả lại con dơi cái mà bé đã bắt và kể tội vì cậu bé mà cả đàn con của nó đang chết đói.

Danse des rainettes (http://www.4shared.com/file/6083838/4118647b/20_LEnfant_et_les_Sortileges-_Danse_des_rainettes.html)
Một lũ nhái nhảy lên bờ nhảy múa. Một con nhảy hẳn vào lòng bàn tay cậu bé.

Sauve-toi, sotte! Et la cage? (http://www.4shared.com/file/6083836/a6a0497c/21_LEnfant_et_les_Sortileges-_Sauve-toi_sotte.html)
Con sóc nhìn thấy con nhái, giục con nhái chạy trốn thật nhanh nếu không sẽ bị cậu bé nhốt vào chuồng. Con nhái vừa lắp ba lắp bắp vừa nhảy loạn xạ lên, thè lưỡi nuốt chửng một con ruồi trước mặt.

La cage, c'etait pour mieux voir ta prestesse (http://www.4shared.com/file/6083857/87fdde6c/22_LEnfant_et_les_Sortileges-_La_cage_cest_pour_mieux_voir_la_pretesse.html)
Cậu bé nói với con sóc rằng bé nhốt con sóc vào chuồng chỉ để được ngắm con sóc thoải mái ra. Bé vừa dứt lời, cả họ nhà sóc cùng nhảy ra, nhìn chằm chằm vào bé. Con sóc tuyên bố loài sóc chỉ thích tự do và sống cùng nhau. Cậu bé bỗng cảm thấy cô đơn và gọi mẹ.

Ah! C'est l'enfant au couteau! (http://www.4shared.com/file/6083852/f7972ae3/23_LEnfant_et_les_Sortileges-_Ah_Cest_lenfant_au_couteau.html)
Nghe thấy tiếng gọi mẹ của bé, tất cả các con vật trong vườn nhận ra cậu bé là người đã luôn hành hạ các loại cây và thú vật trong vườn. Tất cả các con vật quyết tâm trừng phạt bé. Con giơ vuốt, con nhe nanh tất cả nhảy bổ vào bé. Vì tất cả các con vật, không con nào chịu con nào đều muốn chính tay mình trừng trị đứa bé nên thay vì đánh đứa bé, tất cả các con vật quay ra đánh nhau. Cậu bé bị đẩy ra một góc vườn trong khi các con vật hỗn chiến. Một con sóc bị thương trong cuộc đại chiến này và bị ném ra gần đứa bé. Bé nhìn thấy, lập tức lấy một cái ruban và băng vết thương cho con sóc.

Il a pansé la plaie... (http://www.4shared.com/file/6083889/d5eb8d26/24_LEnfant_et_les_Sortileges-_Il_a_panse_la_plaie.html)
Các con vật nhìn thấy cảnh đó bỗng dừng lại và khâm phục khi thấy cậu bé đã làm lành vết thương cho con sóc và bỗng thấy thương cho cậu bé, lúc này đã nằm sóng soài ra vì mệt.

Il est bon, l'Enfant. (http://www.4shared.com/file/6083863/abbd49b6/25_LEnfant_et_les_Sortileges-_Il_est_bon_lenfant_il_est_sage.html)
Các con vật bế bé ra với mẹ bé.

Các bé thấy chưa. Từ nay các bé phải ngoan ngoãn, vâng lời mẹ, không được tra tấn động vật. Nếu không, các bé sẽ bị mọi người và cả các con thú phạt đấy, sợ lắmB-) .

elibron
12-12-2006, 12:43
các pác Pháp em thích nhất chị Dessay, nghe giọng sướng thật! chả bù cho cái bà j j ấy chả nhớ tên hôm lão cò mới lôi bên Sing vìa, nhìn thì rõ xinh tươi mà nghe chả có cảm hứng je! mà nghe nói "mỹ nhân" ca tụng bà này lắm!

yes_Iam_here
12-12-2006, 18:39
eli "bé bỏng" bị ép buộc nghe phải cái gì của em Dessay mà khen em ấy nức nở thế :p. Cái chị mỏng mày hay hạt, mồm miệng chúm chím ấy là chị Regine Crespin, chị ấy chụp hình trông lừa bịp thế thôi, chứ béo ị ấy, so với thời kì hoàng kim thon thả của chị béo thì chưa nhàm nhì gì đâu.

phucphan
13-12-2006, 02:22
Chết thật. Bây giờ mới biết captain thích Dessay. ui tưởng gì chứ về em Dessay thìB-)...Hôm qua dọn vali em thấy em đem về cũng khá nhiều đĩa em Dessay đấy, có gì em hối lộ captain nhé, captain xóa tội cho em:D. Ui, em Dessay thì em với bác YIH cũng thích. Uhm, giọng thì hay nhưng cũng tùy tác phẩm thôi, không phải cái nào hát cũng ổn. Nhưng lý do em kết em Dessay đến thế là vì...ui, bác YIH nhể;;).

elibron
16-12-2006, 17:07
cái đó thì rõ rồi còn j, lão Hét thì j chứ ...
ah mà Mỹ nhân gửi cái link về blog của Dvorak cho Eli nhá!

gblid100
28-01-2007, 23:23
Thank you sirs

phucphan
23-02-2007, 03:00
Em mời cả nhà nghe cái album này (http://www.box.net/public/o24qu04mpu)của bé Petibon, vừa nghe vừa cười vỡ bụng:D (nhất là 3 bài cuối và quả Olympia:P ):

*FRENCH*TOUCH*
Patricia Petibon, soprano
Karine Deshayes, mezzo-soprano (Offenbach, Delibes)
Orchestre et choeurs de L'Opera Lyon
Yves Abel, direction
http://www.forumopera.com/critiques/images/french_touch.jpg
1, Gounod - Romeo et Juliette: Je veux vivre (http://www.box.net/public/b9teypi647)
2, Messager - Fortunio: Lorsque je n'etais qu'une enfant (http://www.box.net/public/6rqkomrlge)
3, Messager - L'amour masqué: J'ai deux amants (http://www.box.net/public/qnekobgvyz)
4, Delibes: Les Filles de Cadix (http://www.box.net/public/dyt5d5aqkk)
5, Delibes - Lakmé: Duo de la fleur - Dôme épais (http://www.box.net/public/1qcc8nsp3k)
6, Delibes - Lakmé: Air des clochettes - Ou vas la jeune hindoue? (http://www.box.net/public/d8t666xvk9)
7, Massenet - Manon: Adieu, notre petite table (http://www.box.net/public/us31hkfgmz)
8, Massenet - Manon: Je marche sur tous les chemins (http://www.box.net/public/9yb7huv0lj)
9, Massenet - Cendrillon: Ah, douce enfant (http://www.box.net/public/vukd154kl3)
10, Offenbach - Les Contes d'Hoffmann: Air de la poupée Olympia (http://www.box.net/public/27x11xk3s5)
11, Offenbach - Les Contes d'Hoffmann: Barcarolle (http://www.box.net/public/zvdcea15be)
12, Chabrier - L'Étoile: Romance (http://www.box.net/public/3z70h9x04n)
13, Chabrier - L'Étoile: Couplets de Lazuli (http://www.box.net/public/uinb0nk4hd)
14, Hahn - Brummel: Couplets de Lady Eversharp (http://www.box.net/public/a2r5qnmcrj)
15, Isabelle Aboulker: Je t'aime (vocalise éperdue) (http://www.box.net/public/y3vd65som6)

GAUSS
09-03-2007, 19:38
mình rất ít nghe opera pháp,nhưng thỉnh thoảng có nghe dòng nhạc nhẹ của pháp.một hôm tình cờ biết bản la maritza của sylvie vartan,giai điệu đẹp và buồn như pavane của fauré làm mình bắt đầ chú ý đến opera pháp,nhưng mình chỉ có vài aria của saint seans và masennet thôi,phucphan giới thiêu cho mình một số khúc hay và buồn như la maritza với!(như của gounod ,fauré hay debussy chẳng hạn)

Tiffany
12-05-2007, 02:22
@Phucphan: bạn có thông tin gì về Yann Beuron, người hát hay và diễn rất hài trong vở opera bouffe "La belle Hélène" không?

Phucphan ơi, khi nào thi xong nếu có thể bạn up lại link "Je crois entendre encore" trong vở Les Pêcheurs de Perle của G Bizet do Alain Vanzo hát nhé? Cám ơn bạn nhiều.

Tiffany mới xem trên YouTube version của Franco Bonisolli, Miguel Fleta và David Gilmour (khó tin nhưng có thực, David của nhóm rock Pink Floyd) hát bài này.

Mà phucphan và YIH ơi, vì sao có tiếng hát của người Pháp, có những giọng ca nổi tiếng của Liên Xô mà chưa có giới thiệu tiếng hát của người Ý nhỉ? :-/

Apomethe
12-05-2007, 04:10
Forum mình có ai yêu Ý không nhỉ?
Hình như có chị Nina yêu mấy anh cầu thủ Ý đẹp giai.

phucphan
12-05-2007, 08:11
À, em thì vừa thi xong nhưng bao nhiêu đồ đạc đóng gói hết rồi, bây giờ đang cuống lên vì đang chuyển chỗ. Chị Tiffany đợi em ổn định một tí đã rồi em up lại cái Pecheurs và cái bio của Yann Beuron. Beuron cũng là 1 tenor hay, giọng mượt và ấm, kĩ thuật tốt, đều từ trên xuống dưới, hơi trơ để hát được mấy cái vai tenor lãng mạn Pháp kiểu Faust, Werther... nhưng với baroque, operette và đương đại thì rất khá.
Ý gần đây có mấy anh chị em trẻ cũng hay lắm, còn phái Ý thì web mình cũng có nhiều bài hay lắm. Vì nhiều bài viết sẵn quá rồi nên có khi cả nhóm ngại giới thiệu ấy mà. YIH hôm nào mở đầu đi.

na9
13-05-2007, 17:58
Phucphan ơi, khi nào thi xong nếu có thể bạn up lại link "Je crois entendre encore" trong vở Les Pêcheurs de Perle của G Bizet do Alain Vanzo hát nhé? Cám ơn bạn nhiều.


Bạn vào đây (http://ngocanh.triomphe.googlepages.com/mélodies5242) download nhé !

Tiffany
14-05-2007, 09:47
Cám ơn Triomphe rất nhiều. Chúc bạn một ngày tốt lành.:x

phucphan
15-05-2007, 00:32
Yann Beuron (theo booklet Iphigenie en Tauride)
http://odb-opera.com/imagesdossiers/Beuron/portrait.jpg[/URL]
Yann Beuron sinh ngày 18-2-1969, Eure et Loir, miền bắc Pháp. Sau khi học ngành xã hội học, Yann vào học lớp thanh nhạc của Anna Maria Bondi, nhạc viện Paris, đoạt giải nhất môn thanh nhạc năm 1996. Cũng trong năm đó Yann biểu diễn ra mắt với vai chính trong vở Hippolyte và Aricie của Jean-Philippe Rameau (Patricia Petibon cũng ra mắt trong production này) ở nhà hát Opera Garnier. Sau đó Yann tiếp tục với một số vai của Mozart (Ferrando, Don Curzio) và Rossini (Comte Almaviva) và opera Baroque. Yann cũng biểu diễn một số phần soloist trong Mattheus-Passion của Bach (Evangelist), Te Deum và L'Enfance du Christ của Berlioz (Narrateur). Năm 1997 hát vai Orphee trong Orphee aux enfers (Offenbach) cùng Natalie Dessay. Năm 1999 hát 2 vai Mercure và Thespis ở Opera Garnier trong buổi dàn dựng nổi tiếng vở Platée (Rameau). Năm 2000 hát vai Paris trong La Belle helene ở Opera-Comique (Chatelet) cùng Felicity Lott, chỉ huy Marc Minkowski. Cũng với Lott, Minkowski Beuron hát vai Fritz trong Grande Duchesse de Gerolstein (Offenbach) năm 2004. Yann cũng biểu diễn nhiều tác phẩm thế kỉ 20 của Pháp-melodie của Rousssel, vai Acis trong Polypheme (Jean Cras). Yann đoạt giải Revelation de la Musique Classique vào năm 1999.
Đọc thêm: Phỏng vấn Yann Beuron (http://odb-opera.com/imagesdossiers/Beuron/portrait.jpg)

Yann Beuron;
Air de Paris (D'abord, ville multitude) (http://youtube.com/watch?v=7trldSOwvoA)
Vai Fritz (trong Grande Duchesse) (http://youtube.com/watch?v=rBTsikKiIz0)

Tiện thể lăng xê thêm một số bé Pháp U-50 nữa nè>:D< :

http://www.natalie-dessay.com/medias/galeries/ville//200-dessay-simon-fowler.jpg
Natalie Dessay (http://youtube.com/results?search_query=natalie+dessay)

http://odb-opera.com/imagesdossiers/Naouri/portrait.jpg
Laurent Naouri (chồng Dessay)
Anacreon (Rameau) (http://youtube.com/watch?v=eFzC9HTI4p8)
Orphee aux enfers (Offenbach) (http://youtube.com/watch?v=QN-zyCPtXOE)

http://www.bach-cantatas.com/Pic-Bio/Gens-Veronique-9.jpg
Veronique Gens (soprano/mezzo-soprano)
Phỏng vấn Gens (http://odb-opera.com/modules.php?name=Content&pa=showpage&pid=127)
Mio ben teco il tormento piu dolce (Rossi) (http://youtube.com/watch?v=BYflGkDhg8A)
Arietta-Agrippina (Handel) (http://youtube.com/watch?v=oN19gUl2ZE8&mode=related&search=)

http://www.bach-cantatas.com/Pic-Bio/Piau-Sandrine.jpg
Sandrine Piau (soprano)
[URL="http://youtube.com/watch?v=Xi-0XYpoisU"]Ah, se in ciel (Mozart) (http://www.bach-cantatas.com/Pic-Bio/Piau-Sandrine.jpg)
Ruhe sanft (Mozart) (http://youtube.com/watch?v=1NEn8f-kzKk)
Diễn tập In Furore Justissimae Irae (Vivaldi) (http://youtube.com/watch?v=jdZDZEx-aE0)

http://www.altamusica.com/wpic/delunsch_2.jpg
Mireille Delunsch (soprano)
Romance de Mignon (Duparc) (http://youtube.com/watch?v=OwEEHAWBlKw)
La Folie (Rameau) (http://youtube.com/watch?v=coENn4UzHsY&mode=related&search=)

http://www.altamusica.com/wpic/jaroussky_couleur.jpg
Philippe Jaroussky (sopranista)
Lascia ch'io pinga (Handel) (http://youtube.com/watch?v=fghxdcyI44Q)
Đoạt giải Artiste Lyrique-Victoires de la musique 2007 (http://youtube.com/watch?v=9zQX2XqAE8c)

http://www.classiquenews.com/images/articles/marie_devellereau_lemag.jpg
Marie Devellereau (soprano)
Je te veux (Satie) (http://youtube.com/watch?v=Isx6LJChufE)

Tiffany
15-04-2008, 22:46
Cám ơn phucphan vì tiểu sử của Yann Beuron nhé.

Tiffany vừa mới mua được DVD "The Art of Gérard Souzay" nhân chuyến đi Hà Nội vừa rồi. Phim đen trắng.

Xem xong thì vẫn còn đang choáng váng vì giọng hát, vì giai điệu của aria "Voici des roses" trong vở La Damnation de Faust và cũng vì nét diễn xuất thần trên gương mặt của G Souzay trong vai quỷ Mephisto :x :x :x

SHAKE
26-05-2008, 04:44
Hehe, đang định vào nói về anh Jaroussky thì thấy bài trước đã có rồi, tiếc:( Theo em được biết, Jaroussky là 1 trong số những contre-ténor hiếm và có tài trên thế giới. Công nhận nghe anh zai hát hay thật:x

super_vịt
11-05-2009, 21:47
Ôi Dessay iêu quý, sao em chỉ muốn làm đống rơm, lại một con ruồi nhỏ tí xíu bên cạnh nàng thôi nhỉ ;))

Haizzzzzzzzzzzzzzzzz.... =))

yes_Iam_here
12-05-2009, 08:57
hehe, đấy mới chỉ là Dessay-buffa, Dessay level thấp thôi, ku Vịt nên tìm hiểu thêm về Dessay-tragic, trong Lucia di Lammermoor, Manon,Hamlet,...với những màn quằn quại, giật gân và ...nóng bỏng hơn rất rất nhiều (đã tai, đã mắt và đã...1 số thứ, hị hị). Chống chỉ định những bạn U18 - chưa kiểm soát đc năng lực hành vi, ;))

DaoBinh
16-11-2010, 21:34
ko biết các bạn có để ý đến tiếng hát của danh ca người Pháp Sebastien Izambard trong nhóm IL Divo ko? Đây là ca sĩ pop duy nhất trong nhóm và mình rất thích giọng anh này, có lẽ anh ta có chút j đó chất giọng Pháp.
http://i285.photobucket.com/albums/ll79/binhbrad/0c3205acf0d750a0fe7814175f36986c5.jpg

Ko biết mình nói đúng ko? các bạn thử nghe giọng Sebastien nhé! (là người hát ở đầu trong clip này)

http://www.youtube.com/watch?v=5gqyegKIr5E&feature=related