Liszt là người sáng tạo ra thể loại sonate 1 chương. Nghĩa là trong một tác phẩm chứa đựng những đường nét điển hình của 4 chương trong liên khúc sonate giao hưởng. Sonate số 2 B minor là một thí dụ về thể loại này. Qua phân tích, chúng ta có thể thấy đặc điểm của từng chương trong sonate cổ điển được thể hiện ở từng phần của tác phẩm.
Tác phẩm có cấu trúc chung như sau:
Phần mở đầu - Phần trình bày - Phần phát triển - Phần tái hiện - Coda(kết)
A -
PHẦN MỞ ĐẦU có âm hưởng trang nghiêm như một lời báo trước, chuẩn bị cho sự xuất hiện của chủ đề chính. Nhịp độ chậm, thủ pháp diễn tấu đồng nhất về tiết tấu ở cả hai bè, hướng chuyển động đi xuống liền bậc ở âm khu trầm với loại nhịp phân 2. Phần mở đầu không viết ở giọng chủ B minor mà viết ở giọng bậc IV G minor.
B -
PHẦN TRÌNH BÀY mang những đặc điểm như chương I ở liên khúc sonate bởi: tốc độ nhanh (allegre energico); sự trình bày các chủ đề tương phản trong mối tương quan về điệu tính và chất liệu, bao gồm:
Chủ đề chính - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề phụ thứ hai.
I. Chủ đề chính: gồm 2 yếu tố tương phản. Ngắn ngủi và cô đọng, nhưng hai yếu tố này mang ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển sau này của tác phẩm. Những đường nét cơ bản của giai điệu cũng như những âm hình tiết tấu chính đều được giới thiệu thông qua hai yếu tố này.
- Yếu tố thứ nhất mang tính mạnh mẽ, rắn rỏi thể hiện ý chí, khát vọng vươn tới của con người.
- Yếu tố thứ hai tương phản với yếu tố thứ nhất, biểu lộ sự giễu cợt, mai mỉa và mất niềm tin vào cuộc sống.
Sau đó là sự phát triển từ hai yếu tố này. Đường nét giai điệu phát triển và từ từ được đẩy lên một cao trào chuẩn bị cho các bước phát triển tiếp theo.
II: Chủ đề phụ thứ nhất: Tạo sự tương phản với chủ đề chính trước hết ở điệu tính - mang giọng Trưởng D Majeur là giọng song song của chủ đề chính. Bề dày của hợp âm đệm được bổ trợ bởi sắc thái mạnh và loại nhịp phân ba, tạo nên tính trang trọng uy nghiêm, tượng trưng cho quyết tâm vươn tới lý tưởng cao đẹp của nhân vật.
Hạt nhân của chủ đề được phát triển bằng phương pháp mô tiến, âm hình tiết tấu được đặc biệt nhấn mạnh đi lên dần, kết thúc sự trình bày chủ đề phụ.
Đến đây xuất hiện lại chất liệu của chủ đề chính với âm sắc mới mẻ, không còn rắn rỏi mạnh mẽ như trước mà trở nên mềm mại trữ tình, gần gũi với tính chất của chủ đề phụ.
III. Chủ đề phụ thứ hai:/b] được xây dựng trên cơ sở tiết tấu và tính chất của chủ đề phụ thứ nhất, nhưng biểu hiện sự êm ả trữ tình hơn. Bước đi đều đặn ít chuyển động của giai điệu và bè đệm với tiết tấu chùm 3 hợp âm được rải ra trong âm vực rộng tạo nên tính chất mềm mại, thể hiện hình tượng cô gái xinh đẹp dịu dàng Margarita. Rồi một lần nữa chất liệu của chủ đề chính xuất hiện ở bè trầm, nhưng bị ảnh hưởng bởi chủ đề phụ thứ hai, nó không còn mạnh mẽ kịch tính mà trở nên nhẹ nhàng, linh hoạt. Những ý chí khát vọng của nhân vật đã bị mờ nhạt trong tình yêu.
Ngay sau đó, chủ đề phụ thứ hai lại nổi lên mạnh mẽ như khẳng định điều này.
C - PHẦN PHÁT TRIỂN: có quy mô lớn và chức năng phức tạp. Có thể chia phần này làm hai giai đoạn phát triển.
I. Giai đoạn thứ nhất: xây dựng trên cơ sở biến đổi những chủ đề tương phản đã giới thiệu trong phần trình bày.
Đầu tiên là yếu tố thứ nhất của chủ đề chính với sắc thái mạnh và hợp âm dày nốt, thể hiện quyết tâm tranh đấu của nhân vật để đạt được lý tưởng. Nhưng trong sự phát triển sau đó, chủ đề chính mất dần tính mạnh mẽ sôi sục biểu hiện ở sự giảm dần cường độ, nét kịch tính đã mất đi, âm nhạc trở nên mềm mại nhẹ nhàng hơn với đương nét giai điệu ẩn giữa tiết tấu linh hoạt của bè cao, bè đệm dàn trải ở sắc thái nhỏ.
Sau đó, chủ đề phụ thứ hai (chủ đề tình yêu) xuất hiện với sắc thái nhỏ, như một niềm an ủi nhẹ nhàng. Về sau, âm hình tiết tấu của hạt nhân chủ đề được lặp lại nhiều lần với cường độ tăng dần và cao độ cũng chuyển dần lên âm khu trên, rồi chỉ âm hình tiết tấu của chủ đề được nhấn mạnh, đẩy giai điệu lên cao trào thể hiện niềm an ủi ngày càng lớn, lấn át cả nỗi thất vọng.
Trong quá trình phát triển về sau, chủ đề chính cũng được nhắc lại theo xu hướng giảm dần kịch tích và tăng cường tính chất trữ tình mềm mại bởi các chủ đề phụ. Nhân vật đã mất dần lòng tin vào sức mạnh bản thân và chìm đắm trong những suy nghĩ yếu mềm.
Giai đoạn thứ hai: mở đầu bằng đường nét giai điệu trữ tình sâu lắng, mềm mại với tiết tấu đều đặn tiến hành liền bậc như muốn diễn tả một nỗi hoài niệm quá khứ xa xôi để trốn chạy thực tế trong chốc lát. Đây là chủ đề mới ở phần phát triển, mang tính sử thi trữ tình, nhịp độ chậm (Andante sostenuto).
Một lần nữa lại nổi lên âm hưởng các chủ đề từ phần trình bày, theo trình tự chủ đề phụ thứ hai - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề chính. Ban đầu còn gần gũi về tính chất với chủ đề mới của phần phát triển, về sau tăng dần kịch tính dẫn đến đỉnh điểm. Sau đó, một lần nữa đường nét giai điệu của chủ đề mới lại xuất hiện. Với cao độ được nâng lên một quãng 8 và bè đệm dàn trải càng làm chủ đề trở nên trữ tình sâu sắc: Nhân vật của tác phẩm muốn trốn chạy thực tại cuộc sống và ẩn mình vào những suy nghĩ trừu tượng.
D - PHẦN TÁI HIỆN: nhắc lại các chủ đề từ phần trình bày theo trình tự: chủ đề chính - chủ đề phụ thứ nhất - chủ đề phụ thứ hai. Ở đây, tính chất của các chủ đề không được giữ nguyên mà thể hiện những hình tượng âm nhạc mới mẻ. Có thể nói, đây là phần tái hiện có biến dạng.
Đầu tiên, nét giai điệu mở đầu vẫn với tính chất trang nghiêm ảm đạm, chỉ có điệu tính là thay đổi (Fa# minor) so với phần mở đầu của tác phẩm (G minor). Sau đó, chủ đề chính được tái hiện ở giọng B minor với hai yếu tố chính đã được lược bớt, chỉ còn riêng bè tay trái diễn tấu.
Chủ đề chính ở phần tái hiện không còn thể hiện nỗi khát vọng và ý chí vươn tới lý tưởng, mà là tâm trạng do dự thất vọng của nhân vật, biểu hiện qua những hình tượng kỳ ảo mang tính châm biếm ảm đạm được tạo nên bởi sự phát triển chủ đề với những thủ pháp mang tính phức điệu, được nhận biết ở sự đối vị trong từng đường nét giai điệu, cách xé lẻ chất liệu mô tiến đi lên ở cả hai bè và thủ pháp phản gương chủ đề.
Chủ đề phụ thứ nhất được nhắc lại ở giọng B Major với nguyên vẹn đường nét giai điệu như ở phần trình bày, nhưng các hợp âm dày bè ở phần đệm chỉ còn là những hợp âm rải trong âm vực rộng. Với sắc thái mạnh, chủ đề phụ thứ nhất đã phần nào mất đi sự uy nghiêm trang trọng ban đầu, như muốn diễn tả nỗi thất vọng của nhân vật với lý tưởng mình đã theo đuổi.
Chủ đề phụ thứ hai được nhắc lại ở cùng điệu tính với chủ đề phụ thứ nhất. Nó vẫn mang những đường nét dịu dàng và chất trữ tình sâu lắng.
E - CODA: Phần kết của tác phẩm đã thâu tóm những đường nét của các chủ đề trong sự thống nhất về điệu tính và diễn giải chúng ở một nhịp độ mới, nhanh sôi nổi (Presto)
Đầu tiên, vang lên nét nhạc mở đầu ở một âm khu khá cao. Sau đó chủ đề chính (yếu tố thứ nhất) xuất hiện lại với những đường nét cơ bản của cách tiến hành giai điệu. Âm hình tiết tấu đặc trưng ban đầu đã mất đi: những khát vọng ý chí của nhân vật đã mờ nhạt và để sự chán nản buông xuôi lấn át.
Ngay sau đó, chủ đề phụ thứ nhất lại vang lên mạnh mẽ như một lời khuyến khích cuối cùng, nhưng đường nét chủ đề mờ nhạt dần bởi sự giảm dần cường độ và âm hình tiết tấu cũng bị xoá nhoà

Xuất hiện chủ đề trữ tình, chậm rãi - chủ đề mới của phần phát triển, với tính sử thi ban đầu. Nhân vật muốn quên đi những vật lộn đấu tranh của đời thường và tìm quên trong hồi tưởng. Lòng tin của nhân vật về những lý tưởng cao cả không còn nữa (xuất hiện đường nét rất mờ nhạt của chủ đề chính) và chịu khuất phục trước Định Mệnh.
Tác phẩm khép lại bằng chủ đề định mệnh trang nghiêm ảm đạm (chủ đề mở đầu) với sắc thái ngày càng nhỏ và dần tắt.[/SIZE]
Bookmarks