kết quả từ 1 tới 8 trên 8

Chủ đề thảo luận: Nhóm tác giả - về Frédéric Chopin

  1. #1
    thành viên trẻ crazy_piano's Avatar
    Nhập quốc tịch
    08-2006
    Đến từ
    hp
    Bài gửi
    83
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 0 lần do gửi 0 bài có ích

    Default Nhóm tác giả - về Frédéric Chopin

    Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một người Pháp gốc Ba Lan, mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng. Ông cũng đã tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc viện Warsawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ.

    Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này.

    Mùa thu năm 1826, Chopin bắt đầu học lí thuyết âm nhạc và sáng tác âm nhạc tại trường trung học phổ thông về âm nhạc tại Warsawa, một bộ phận của Nhạc viện Warsawa và Đại học Warsawa. Tuy nhiên, Chopin đã không theo học lớp piano. Nhận thấy tài năng xuất chúng của Chopin, Józef Elsner - nhà soạn nhạc và hiệu trưởng của trường - đã cho phép Chopin tập trung vào piano nhưng vẫn buộc ông học các môn lí thuyết. Chopin, vốn có khả năng trời phú về sáng tác âm nhạc, đã học được ở trường sự kỉ luật và chính xác trong kết cấu tác phẩm, cũng như hiểu được ý nghĩa và logic của từng nốt nhạc. Đây là thời gian ra đời của những tác phẩm có tầm cỡ đầu tiên của Chopin, ví dụ như bản Sonata cung Đô thứ, những khúc biến tấu opus số 2 dựa trên một chủ đề trong vở Don Giovanni của Mozart, bản Rondo á la Krakowiak op. 14 và bản tam tấu cung Sol thứ, opus 8 cho piano, violin và cello. Chopin kết thúc quá trình học tập của mình tại trường phổ thông vào năm 1829 và sau 3 năm học tại trường, Elsner đã viết trong một bản báo cáo: "Chopin, Fryderyk, học sinh năm thứ 3, một tài năng lớn, thiên tài âm nhạc".

    Khi trở về Warsawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Bản concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi 2 bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đã đóng vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Italy.

    Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, ông có sức khoẻ không tốt và có mối quan hệ thân yêu gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.

    [sửa]
    Sự nghiệp sáng tác
    [sửa]
    Polonaise
    18 bản polonaise:

    1.Polonaise cung Si giáng trưởng Op. posth.
    2.Polonaise cung Sol thứ Op. posth.
    3.Polonaise cung La giáng trưởng Op. posth.
    4.Polonaise cung Sol thăng thứ Op. posth.
    5.Polonaise cung Re thứ Op. 71 số 1
    6.Polonaise cung Si giáng trưởng Op. 71 số 2
    7.Polonaise cung Fa thứ Op. 71 số 3
    8.Polonaise cung Si giáng thứ Op. posth. Les Adieux
    9.Polonaise cung Sol giáng trưởng Op. posth.
    10.Polonaise cung Đô thăng thứ Op. 26 số 1
    11.Polonaise cung Mi giáng thứ Op. 26 số 2
    12.Polonaise cung La trưởng Op. 40 số 1
    13.Polonaise cung Đô thứ Op. 40 số 2
    14.Polonaise cung Fa thăng thứ Op. 44
    15.Polonaise cung La giáng trưởng Op. 53
    16.Polonaise-fantasy cung la giáng trưởng op 61
    Andante spianato and Grand Polonaise cung Mi giáng trưởng Op. 22
    Introduction and Polonaise cung Đô trưởng cho piano và cello Op. 3
    [sửa]
    Mazurka
    4 Mazurka Op. 6, các cung: fa thăng thứ, đô thăng thứ, mi trưởng, mi giáng thứ
    5 Mazurka Op. 7, các cung: si giáng trưởng, la thứ, fa thứ, la giáng trưởng, đô trưởng
    4 Mazurka Op. 17, các cung: si giáng trưởng, mi thứ, la giáng trưởng, la thứ
    4 Mazurka Op. 24, các cung: sol thứ, đô trưởng, la giáng trưởn, si thứ
    4 Mazurka Op. 30, các cung: đô thứ, si thứ, re giáng trưởng, đô thăng thứ
    4 Mazurka Op. 33, các cung: sol thăng thứ, đô trưởng, re trưởng, si thứ
    4 Mazurka Op. 41, các cung: mi thứ, si trưởng, la giáng trưởng, đô thăng thứ
    3 Mazurka Op. 50, các cung: sol trưởng, la giáng trưởng, đô thăng thứ
    3 Mazurka op. 56, các cung: si trưởng, đô trưởng, đô thứ
    3 Mazurka op. 59, các cung: la thứ, la giáng trưởng, fa thăng thứ
    3 Mazurka op. 63, các cung: si trưởng, fa thứ, đô thăng thứ
    4 Mazurka op. 67, các cung: sol trưởng, sol thứ, đô trưởng, la thứ
    4 Mazurka op. 68, các cung: đô trưởng, la thứ, fa trưởng, fa thứ
    Mazurka cung Si giáng trưởng
    Mazurka cung Sol trưởng
    Mazurka cung Re trưởng
    Mazurka cung Đô trưởng
    Mazurka cung Si giáng trưởng
    Mazurka cung La giáng trưởng
    [sửa]
    Waltz
    19 bản waltz:

    Grande Valse Brillante cung Mi giáng trưởng Op. 18
    Grande Valse Brillante cung La giáng trưởng Op. 34 số 1
    Grande Valse Brillante cung La thứ Op. 34 số 2
    Grande Valse Brillante cung Fa trưởng Op. 34 số 3
    Grande Valse cung La giáng trưởng Op. 42
    Waltz cung Re giáng trưởng Op. 64 số 1
    Waltz cung Đô thăng thứ Op. 64 số 2
    Waltz cung La giáng trưởng Op. 64 số 3
    Waltz cung La giáng trưởng Op. 69 số 1
    Waltz cung Si thứ Op. 69 số 2
    Waltz cung Sol giáng trưởng Op. 70 số 1
    Waltz cung La giáng trưởng Op. 70 số 2
    Waltz cung Re giáng trưởng Op. 70 số 3
    Waltz cung Mi thứ Op. posth.
    Waltz cung Mi trưởng Op. posth.
    Waltz cung La giáng trưởng Op. posth.
    Waltz cung Mi giáng trưởng Op. posth.
    [sửa]
    Rondo
    Rondo cung Đô thứ Op. 1
    Rondo a la Mazur cung Fa trưởng Op. 5
    Rondo cung Mi giáng trưởng Op. 16
    Rondo cung Đô trưởng cho song piano Op. 73
    Rondo cung Đô trưởng Op. posth.
    [sửa]
    Những khúc biến tấu
    Những khúc biến tấu cung Mi trưởng trên chủ đề bài dân ca Đức Der Schweitzerbub Op. posth.
    Những khúc biến tấu cung Re trưởng trên chủ đề các bài hát của T. Moore Op. posth (bốn tay)
    Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng dựa trên bản La ci darem la mano từ vở Don Juan của Mozart
    Op. 2 (cho piano và dàn nhạc)

    Những khúc biến tấu cung La trưởng
    Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng dựa trên bản rondo Je vends des scapulaires từ vở opera Ludovic của Hérold và Halévy
    Những khúc biến tấu cung Mi trưởng từ tập Hexameron trên chủ đề hành khúc từ vở opera Puritans của Bellini
    [sửa]
    Étude
    12 Etude Op. 10 các cung : đô trưởng, la thứ, mi trưởng, đô thăng thứ, sol giáng trưởng, mi giáng thứ, đô trưởng, fa trưởng, fa thứ, la giáng trưởng, mi giáng trưởng, đô thứ
    12 Etude Op. 25 các cung: la giáng trưởng, fa thứ, fa trưởng, la thứ, mi thứ, sol thăng thứ, đô thăng thứ, re giáng trưởng, sol giáng trưởng, si thứ, la thứ, đô thứ
    Trois Nouvelles Etudes các cung : fa thứ, la giáng trưởng, re giáng trưởng
    [sửa]
    Prelude
    24 Prelude Op. 28 các cung : đô trưởng, la thứ, sol trưởng, mi thứ, re trưởng, si thứ, la trưởng, fa thăng thứ, mi trưởng, đô thăng thứ, si trưởng, sol thăng thứ, fa thăng trưởng, mi giáng thứ, re giáng trưởng, si giáng thứ, la giáng trưởng, fa thứ, mi giáng trưởng, đô thứ, si giáng trưởng, sol thứ, fa trưởng, re thứ.
    Prelude cung Đô thăng thứ Op. 45
    Prelude cung La giáng trưởng Op. posth
    [sửa]
    Impromptu
    Impromptu cung La giáng trưởng Op. 29
    Impromptu cung Fa thăng trưởng Op. 36
    Impromptu cung Sol giáng trưởng Op. 51
    Impromptu-Fantasie cung Đô thăng thứ Op. posth. 66
    [sửa]
    Nocturne (dạ khúc)
    3 Nocturne Op. 9 các cung: si giáng thứ, mi giáng trưởng, si trưởng
    3 Nocturne Op.15 các cung: fa trưởng, fa thăng trưởng, son thứ
    2 Nocturne Op.27 các cung: đô thăng thứ, re giáng trưởng
    2 Nocturne Op.32 các cung: si trưởng, la giáng trưởng
    2 Nocturne Op.37 các cung: sonl thứ, sol trưởng
    2 Nocturne Op.48 các cung: đô thứ, fa thăng thứ
    2 Nocturne Op.55 các cung: fa thứ, mi giáng trưởng
    2 Nocturne Op.62 các cung: si trưởng, mi trưởng
    Nocturne cung Mi thứ Op.72 số 1
    Nocturne cung Đô thăng thứ Op.posth.
    Nocturne cung Đô thứ Op.posth.
    [sửa]
    Ballade
    Ballade cung Sol thứ Op. 23
    Ballade cung Fa trưởng Op. 38
    Ballade cung La giáng trưởng Op. 47
    Ballade cung Fa thứ Op. 52
    [sửa]
    Scherzo
    Scherzo cung Si thứ Op. 20
    Scherzo cung Si giáng thứ Op. 21
    Scherzo cung Đô thăng thứ Op. 39
    Scherzo cung Mi trưởng Op. 54
    [sửa]
    Sonata
    Sonata cung Đô thứ Op. 4
    Sonata cung Si giáng thứ Op. 35
    Sonata cung Si thứ Op. 58
    Sonata cung Sol thứ Op. 65 cho piano và cello
    [sửa]
    Các nhạc phẩm cho piano và dàn nhạc
    Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng Op. 2 trên chủ điểm La ci darem la mano từ vở opera Don Juan của Mozart

    Concerto số 1 cung Mi thứ Op. 11
    Fantasy on Polish Airs cung La trưởng Op. 13
    Rondo a la krakowiak cung Fa thứ Op. 14
    Concertoôsố 2 cung fa thứ Op. 21
    Andante spianato và Grand Polonaise cung Mi giáng trưởng Op. 22
    [sửa]
    Các bài hát
    Jakież kwiaty, jakie wianki Op. posth.
    Życzenie (A Young Girl's Wish) Op. 74 số 1
    Gdzie lubi (A Girl's Desire) Op. 74 số 5
    Czary (Witchcraft) Op. posth.
    Hulanka (A Drinking Song) Op. 74 số 4
    Precz z moich oczu (Out of My Sight) Op. 74 số 6
    Poseł (The Messenger) Op. 74 số 7
    Wojak (The Warrior) Op. 74 số 10
    Piosnka litewska (A Lithuanian Song) Op. 74 số 16
    Smutna rzeka (Sad River) Op. 74 số 3
    Narzeczony (The Betrothed) Op. 74 số 15
    Leci liście z drzewa (Leaves are Falling) Op.74 số 17
    Pierścień (The Ring) Op.74 số 14
    Moja pieszczotka (My Sweetheart) Op. 74 số 12
    Wiosna (Spring Song) Op. 74 số 2
    Śliczny chłopiec (The Handsome Lad) Op. 74 số 8
    Dwojaki koniec (Death's Divisions) Op. 74 số 11
    Nie ma, czego trzeba (Faded and Vanished) Op. 74 số 13
    Z gór, gdzie dźwigali Op. 74 số 9
    [sửa]
    Các tác phẩm khác
    Trio cung Sol thứ Op. 8 cho piano, violon và cello
    Bolero cung La thứ Op. 19
    Tarantella cung La giáng trưởng Op. 43
    Allegro de Concert cung La trưởng Op. 46
    Fantasy cung Fa thứ Op. 49
    Berceuse cung Re giáng trưởng Op. 57
    Barcarolle cung Fa thăng trưởng Op. 60
    Funeral March cung Đô thứ Op. posth.
    Trois Ecossaises Op. 72 các cung: Re trưởng, Sol trưởng, Re giáng trưởng
    Allegretto Op. posth.
    Grand duo concertant cung Mi trưởng Op. posth. trên chủ đề Meyerbeer's Robert Le Diable cung Mi trưởng cho piano và cello
    Cantabile cung Si giáng trưởng Op. posth.
    Presto con leggierezza cung La giáng trưởng Op. posth.
    Andantino cung Sol thứ Op. posth.
    Sostenuto cung Mi giáng trưởng Op. posth.
    Moderato cung Mi trưởng Op. posth.
    Largo cung Mi giáng trưởng Op. posth

  2. #2
    thành viên trẻ crazy_piano's Avatar
    Nhập quốc tịch
    08-2006
    Đến từ
    hp
    Bài gửi
    83
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 0 lần do gửi 0 bài có ích

    Default Ðề: CHOPIN-tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm

    Trích Nguyên văn Apomethe đã viết Xem bài gửi
    Sao không vào bài viết của web đọc nhiều thông tin hơn không:

    http://www.classicalvietnam.info/mod...etail&catid=50
    nói thật với cậu tớ không để ý 4rum có bài viết, mà nếu có biết đi nữa thì tớ gửi thêm chẳng có gì là sai thậm chí bài viết của tớ có một số thông tin mà bài viết của 4run không có!!!
    trích :sinh ra ở Zelazowa Wola tại Ba Lan ngày 22/2 /1810 và mất ngày 17/10/1849 tại Paris. Tính cách của Chopin đã sớm được thường xuyên rèn đúc bởi văn hoá và bởi phong cách sống của gia đình ông. Bố Chopin đã sớm nhận ra rằng Chopin được định sẵn để trở thành một nhạc sỹ. Làm quen với piano từ lúc 4 tuổi, Chopin viết bản Polonaise in G minor được viết năm ông tuổi 7 tuổi. Năm 1825, Chopin được chiêu sinh vào nhạc viện Warsaw, kỹ thuật chơi piano bậc thầy của Chopin đã được định hình. Chưa được công nhận tại Ba Lan, nhưng người nhạc sỹ trẻ tuổi văn hoá và thanh lịch, người mang vẻ mặt xanh xao và một bầu không khí sầu muộn đã ngay lập tức được chấp nhận bởi phong cách Pháp. Ông đã chọn ở lại đây để rồi đạt được những thành công ngoài sức tưởng tượng với sự giàu có lạ thường và khả năng khuấy động cuộc sống âm nhạc ở thủ đô của Pháp. Tháng 12 năm 1836, ông gặp George Sand, người phụ nữ đã làm thay đổi cuộc đời ông. Và mười năm sau đó là thời gian Chopin đã đạt đến đỉnh cao của sáng tạo với tư cách một nhạc sỹ.

    Ông đã để lại những kiệt tác nghệ thuật như như bản Ballade số 3 và số 4 (1841 và 1842), bản Nocture, Op.48 (1841 – 1842), ba bản Polonaise Op.44, 53 và 61 (1840 – 1846), bản Scherzo, Op.54 (1843 – 1844), bản Fantasia in F minor, Op.49 (1841) và bản Berceuse, Op.57 (1843) cùng các bản Ballade số 2, Op.38 đề tặng Schumann năm 1840, bản Mazurka, Op.33 và Op.41, bản Nocturne, Op.37, bản Polonaise, Op. 40, và hơn hết là tuyển chọn của 24 Préludes, Op.28. Những Etudes Op.10 là đặc biệt quan trọng vì trong các gam được chia nhỏ, Chopin đã mở rộng kỹ thuật và nguồn tài nguyên đáng quý của piano ở thời điểm mà nhạc cụ này đã trải qua một số thay đổi quan trọng. Nhạc sĩ người Đức Mendelssohn từng thốt lên: "Chopin là cả một lò lửa. Ông nung chảy tất cả những gì mà cuộc sống ban cho. Và ông ấy rút ra từ đó kho báu hết sức quý giá". Những vũ khúc thôn dã của quê hương mẹ Ba Lan, đã thấm vào Chopin làm nên một thiên tài âm nhạc thuần khiết, đôn hậu, mãnh liệt mà da diết. Ông được coi là nhà thơ của cây đàn piano với những bản polonaise, marzuka và etude bất hủ.

    -mình có lòng với 4rum thì mới gửi thêm thông tin , admin nói như vầy là không hay đâu,

  3. #3
    bút nhóm nhaccodien.info fredericchopin's Avatar
    Nhập quốc tịch
    10-2006
    Bài gửi
    28
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 0 lần do gửi 0 bài có ích

    Default Chopin - tài liệu liên quan

    “Barcarolle”, tạm dịch là khúc nhạc đưa đò, được sáng tác bởi khá nhiều nhạc sĩ vào thế kỷ thứ 19 như Mendelssohn, Chopin, Tchaikovsky, Faure, Rachmaninoff… Đề tựa “Barcarolle” hầu như đã thể hiện rõ nội dung chính của tác phẩm là những khúc hát, những bản tình ca trên các dòng sông thành Venice. Mendelssohn sáng tác một vài bản barcarolle cho đàn piano và xếp các tác phẩm này vào tập nhạc “Những bài ca không lời”. Khác với Mendelssohn, Chopin chỉ sang tác duy nhất một bản barcarolle vào lúc gần cuối cuộc đời, nhưng là một bản nhạc vô giá. Bản barcarolle của Chopin cũng mang những đặc tính chung về các chiếc thuyền thành Venice, tiếng mái chèo khua nước cùng với những bản tình ca, nhưng barcarolle của Chopin nổi lên như một tác phẩm lớn độc lập và đạt những tiêu chuẩn mẫu mực nhất về cấu trúc và hòa âm. Sau khi Chopin mất, nhiều nhạc sĩ cũng sáng tác các bản barcarolle khác cho piano nhưng ít thành công hơn. Rất nhiều nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng ưa thích bản barcarolle op.60 nhưng ít người thể hiện thành công chất thơ và chất hát trong những giai điệu tuyệt vời này.





    Chopin sáng tác bản barcarolle vào năm 1846 và đề tặng cho Madame Stockhausen. Cũng như các bản nocturne, cấu trúc bản barcarolle có dạng A-B-A. Phần dẫn nhập bắt đầu bởi một nốt trầm Đô# và loạt chuyển âm giảm dần theo từng nốt của khóa chính Fa# trưởng, tạo nên một cảm giác lâng lâng mờ ảo. Sau một khoảng lặng, giai điệu chính bắt đầu với tiếng mái chèo ở bè đệm với cùng một nhịp điệu xuyên suốt phần thứ nhất của tác phẩm. Giai điệu chính bắt nhịp vào tiếng mái chèo và cất tiếng hát thật trong trẻo tươi đẹp như những bản dạ khúc tình yêu. Giai điệu chính được lặp lại bằng những hơp âm quãng ba và quãng sáu, những khúc trill quyến rũ, và kết thúc phần thứ nhất với loạt hợp âm bổng và nhạt dần trong nốt chuyển âm từ Fa# trưởng sang Fa# thứ.

    Một khúc độc thoại chuyển điệu Fa# thứ sang ở điệu La trưởng ở phần thứ hai. Nhịp điệu của tiếng mái chèo trở nên rõ hơn và đều đặn hơn với giai điệu chuyển từ Sol# sang Fa#. Không gì đẹp hơn những hợp âm rải trên các nốt Sol# và Fa# như những giọt nước lìa khỏi mái chèo bay vào khoảng không và cất lên tiếng hát trong trẻo. Nhịp chèo trở nên hối hả, dồn dập hơn với nhưng hợp âm quãng tám mạnh mẽ. Cao trào dâng lên cao nhất cũng với hai hợp âm Sol# và Fa#. Kịch tính tan dần đi cùng với sự chuyển sang hợp âm Fa# thứ nhẹ nhàng, ẩn chứa đâu đây một niềm tiếc nuối. Tiếp theo đó là giai điệu ở giọng La trưởng thanh bình và cũng không kém phần êm đẹp, như một lời đáp lại chủ đề chính ở phần thứ nhất và giai đoạn kịch tính ở phần thứ hai. Một khúc trầm lắng với những hợp âm giảm, chậm rãi, mái chèo dường như dừng hẳn để mặc chiếc thuyền nhẹ trôi theo dòng nước, con người như chìm vào những giấc mơ. Những cơn gió cùng làn sóng nhẹ nhàng lan tỏa vào mạn thuyền và vạn vật dường như thức tỉnh để trở về với giai điệu chính ở giọng Fa# trưởng.

    Phần thứ ba bắt đầu với những khúc trill ngân dài, giai điệu chính ở đây được lặp lại mạnh mẽ hơn, dồn dập hơn phần thứ nhất. Những hợp âm dâng lên đến đỉnh điểm và chuyển sang khúc lặp của phần thứ hai, nhưng vẫn ở giọng Fa# trưởng thay vì La trưởng, cao hơn một quãng tám, dữ dội hơn, kịch tính hơn để giải quyết những uẩn khúc xuyên suốt tác phẩm. Khúc coda sử dụng hàng loạt những kỹ thuật hòa âm phức tạp, bay bổng, dường như mái chèo không còn khua trên dòng nước nữa mà là trên những tầng mây. Chính những tầng mây này đưa chiếc thuyền trở về với dòng sông quen thuộc bằng nốt trầm Fa# và con người cũng trở về với thực tại, kết thúc bản tình ca với hai quãng tám ngân vang, mạnh mẽ.


    Biên soạn: fredericchopin



    CHOPIN: THE POET OF THE PIANO
    http://www.ourchopin.com

  4. #4
    thành viên trẻ Tuong Tien Tuu's Avatar
    Nhập quốc tịch
    12-2006
    Đến từ
    Tuyệt Tình Cốc
    Bài gửi
    29
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 0 lần do gửi 0 bài có ích

    Default Chopin - tài liệu liên quan

    Đọc bài này của Nguyễn Thuỵ Kha thấy nhẹ nhàng, đầy chất thơ, copy vào đây cho mọi người đọc.

    Có một thế giới tên là Chopin

    (Ns. Nguyễn Thuỵ Kha)
    Nếu cha tôi sinh sau F.Chopin một thế kỷ thì tôi lại sinh sau ngày mất của "Nhà thơ bằng âm nhạc" này cũng tròn 100 năm. Một con người sinh năm 1810 và mất năm 1849 tức là ông sống thọ 39 tuổi mà để lại một thế giới bất tử những bài thơ làm bằng âm nhạc quả là hiếm có.

    Năm 10 tuổi, tôi đã thuộc lòng "Nỗi buồn Chopin" hay còn gọi là "Nhạc buồn". Năm 20 tuổi, tôi đã chơi thành thạo nỗi buồn này trên một bản chuyển soạn cho guitare khá ấn tượng. Tên của F.Chopin lọt vào trong danh sách các nhạc sĩ vĩ đại mà tôi ngưỡng mộ như J.S.Bach, W.A.Mozart, L.V. Beethoven, F.Schubert, F.List…

    (Ns. Nguyễn Thuỵ Kha)
    Nếu cha tôi sinh sau F.Chopin một thế kỷ thì tôi lại sinh sau ngày mất của "Nhà thơ bằng âm nhạc" này cũng tròn 100 năm. Một con người sinh năm 1810 và mất năm 1849 tức là ông sống thọ 39 tuổi mà để lại một thế giới bất tử những bài thơ làm bằng âm nhạc quả là hiếm có.
    Năm 10 tuổi, tôi đã thuộc lòng "Nỗi buồn Chopin" hay còn gọi là "Nhạc buồn". Năm 20 tuổi, tôi đã chơi thành thạo nỗi buồn này trên một bản chuyển soạn cho guitare khá ấn tượng. Tên của F.Chopin lọt vào trong danh sách các nhạc sĩ vĩ đại mà tôi ngưỡng mộ như J.S.Bach, W.A.Mozart, L.V. Beethoven, F.Schubert, F.List…Năm 1980, có một nghệ sĩ dương cầm Việt Nam đã đoạt giải nhất cuộc thi mang tên F.Chopin lần thứ 10. Đó là Đặng Thái Sơn. Năm 2004, cô cháu ngoại bậc tài danh Văn Cao tên là Lê thanh Thảo cũng vừa đoạt giải trong cuộc thi concours toàn Ba Lan (quê hương F.Chopin). Nhưng điều quan trọng nhất để tôi cảm thấy những lý do nói trên cho tôi gắn bó với ông chính là khi tình cờ, tôi được đi trong thế giới mang tên ông vào mùa thu vàng năm 2004.
    Tôi đến biệt thự F.Chopin ở Zelazwa Wola cách Warsawa chừng 30 cây số vào một sớm thu vàng. Một màu vàng ươm của biệt thự đã cuốn tôi ngược về thời gian sống của F.Chopin.
    Nơi đây, nơi tôi đang đứng, F.Chopin đã sinh ra vào ngày 22 tháng 2 năm 1810. Ông là kết quả tình yêu của ông bà giáo sư Mikolaj Chopin và Justyna Krzyano Waska của lâu đài bá tước Skarbek. Khu lâu dài này giờ đây là biệt thự F.Chopin. Có tới đây nhìn màu vàng ươm của lá rụng trên thảm cỏ xanh, nghe tiếng suối róc rách đâu đó mới thấy rằng không chỉ được kế thừa những tinh túy từ cha mẹ mà cả 4 năm đầu đời F.Chopin chìm ngập trong không gian này đã tạo nên một thiên tài âm nhạc sau này. Việc F.Chopin có một đêm xuất thần ra một ứng tác trên dương cầm vào năm 6 tuổi ở căn nhà tại Warsaw khi chưa hề học nhạc cũng là kết quả dinh dưỡng từ Zelazowa Wola quyến rũ lạ thường. Nơi đây, từ trong nhà đến ngoài vườn, sự tái hiện một không gian F.Chopin khiến ta có cảm giác như F.Chopin đang lớn dần bên ta với những bước chân tung tăng thơ nhỏ, rồi trầm tư thở dài bên ta trong bàn tay của tuổi 20 trĩu nặng nắm đất tổ quốc Ba Lan trước khi quyết định sang Paris - kinh thành ánh sáng.
    Sau sự xuất thần trên của con, cha mẹ F.Chopin đã gửi gắm cậu bé cho thày dạy dương cầm Wojriech Zywny - một tín đồ từ xa của J.S.Bach. Học thầy được một năm, 7 tuổi, F.Chopin đã viết bản "Polonaise cung Sol thứ" - một sáng tạo đầu tiên của một sự nghiệp thiên tài. Bản nhạc đã được in trên báo Warsaw ngay lập tức và giờ đây còn được lưu giữ tại bảo tàng F.Chopin tại Ostrogski Castle tại Warsaw. Cũng năm đó, hưng phấn sáng tạo đầu tiên, F.Chopin còn viết tiếp bản "Polonaise cung si giáng trưởng" và "Hành khúc quân đội", 11 tuổi, F.Chopin đã viết bản "Polonaise cung la giáng trưởng" còn gọi là bản "Polonaise trong phòng lớn" tặng cho thầy học với lời đề tặng kính trọng. Bản Polonaise này cũng được lưu giữ tại bảng tàng F.Chopin ở Warsaw. Đó là món quà tạm biệt thầy trò. Biết khả năng mình, thầy Wojciech Zywyny đã giới thiệu F.Chopin cho nhạc sĩ Józef Elsner - giám dốc trường âm nhạc Warsaw rất nổi tiếng, chính ông tiếp tục dinh dưỡng trong F.Chopin ý thức dân tộc qua việc tìm hiểu các bản dân ca, dân vũ để những giai điệu đó trở thành nguồn sáng tạo vô tận trong sự nghiệp của F.Chopin. Lúc ấy, đã qua thời Phục Hưng đến hai thế kỷ rưỡi. Hoạt động âm nhạc trong thời gian dài chỉ xoay quanh ba trung tâm lớn là Ý, Pháp và vương quốc Áo - Phổ. Sự độc quyền này đã đè nặng suốt thời gian trên. Nhưng đến giữa thế kỷ XIX, F.Chopin cùng F.List và Glinka được hình thành từ văn hóa dân tộc đã dân tộc hóa âm nhạc Tây Ây. F.Chopin trở thành nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái lãng mạn với sự độc đáo, đặc sắc kiểu F.Chopin.
    Những năm sống ở Ba Lan, ngoài thời gian ở Warsaw, F.Chopin còn đi đến nhiều làng quê, để nghe những người nông dân hát và nhảy múa. Đó như một niềm vui của ông. Vào năm 1827, sau khi cô em gái út Emilia Chopin bị chết, F.Chopin theo gia đình về vùng kinh đô cổ Krakow. Đấy là những năm tháng ra đời những bản Waltz, Mazurka, Nocture, Polonaise và những concerto bất hủ. Ở Krakow, F.Chopin đã từng chui sâu xuống bảo tàng mỏ muối uống rượu và chơi dương cầm biểu diễn bên hồ nước tận cùng của mỏ muối. Tôi đã đi theo lối đi của ông và tần ngần ứa lệ bên hồ nước khi nghe bản nhạc buồn của ông do dàn nhạc tấu lên giữa tiếng rơi của những tảng muối khác lạ đến kinh ngạc.
    Tôi bước vào nhà thờ Holy Cross (tiếng Ba Lan là Kosciot 'sw Kryza) nơi lưu giữ trái tim F.Chopin khi dàn đồng ca nhà thờ đang vang lên những giai điệu thánh ca vang vọng và trầm ấm. Chợt gai buốt một tiếc thương gì không rõ rệt khi nhìn lên bức tường khắc tên ông thì bên kia khắc tên nhà thơ bạn ông Adam Mickiewiez. Bỗng nhớ câu thơ Tố Hữu trong bài Em ơi! Ba Lan: "Có phải Chopin tình chứa chan - Nâng đàn ca cô gái Ba Lan - Có phải Adam hồn vĩ đại - Bay trên đầu thế kỷ nhân gian".
    Tôi tới công viên Lazienki nơi luôn luôn tràn ngập âm nhạc F.Chopin và thấy như từng chú sóc bé của rừng công viên cũng lắng nghe thứ âm nhạc siêu phàm này. Âm nhạc F.Chopin như rộng ra ngoài giới hạn của công viên cổ kính và tràn trề thiên nhiên này.
    Theo dấu chân F.Chopin khi xưa, không tới được Vienna nhưng tôi đã tới Berlin để kịp nhận ra nơi vòm nhà hát Opera Royal những gặp gỡ mến thân của F.Chopin với nghệ sĩ opera Italia nổi tiếng Spontini, với Zelter và đặc biệt là với F.Mendelssonhn - tác giả bản giao hưởng "Italia" kỳ diệu.
    Cũng theo dấu chân ông, chưa tới được London nhưng tôi đã tới Paris để nghiêng mình trước nấm mộ thân thể ông có rắc bụi đất Ba Lan ông đựng trong chiếc cốc bạc mang theo những năm tháng tha hương ở Pháp tại nghĩa trang Chalathaise và có cảm giác như ông đang nằm mơ màng trong căn nhà ở Place Vedôme 12 nghe bà bá tước Delfina Potorka - người đã từng thanh thoát trong concerto cung phá thứ của ông - hát và chơi đàn cho ông thiếp đi trong phòng ngủ một giấc ngủ vĩnh hằng.
    Thế giới của ông đã cho tôi vụt thoát ra những con chữ ngưỡng mộ ông thành những vần thơ:
    "Những chiếc lá vàng rơi những nốt nhạc tổng phổ loang loanh cỏ xanh.
    Vườn nhà Chopin lặng im choán ra ngoài giới hạn
    Chỗ này như Chopin từng đứng tần ngần trước giờ ly hương lâu lắm
    Chỗ này hình như Chopin từng ngước mắt nhìn trời khi nảy sinh giai điệu lạ trong mình
    Thiên tài! Đời kỳ lạ vô chừng tôi như gặp được ông
    Khi nhón chân vặt một trái táo nhỏ
    Ăn ngon lành bên chiếc đàn xưa cũ
    Chiếc dàn còn rung ngân những dạ khúc xuất thần
    Thiên tài! Tôi đã đến công viên Lazienki chú sóc bé níu chân
    Trong bàng hoàng nhạc Chopin choáng ngợp
    Tôi đã đến thành kính vòm nhà thờ nơi trái tim ông như còn đang đập
    Đắm chìm trong âm vọng thánh ca
    Thiên tài! Tôi đã chui xuống lòng đất sâu 300 thước ẩm mờ
    Muối mỏ Krakow còn mặn dáng hình ông chơi đàn rồi uống rượu
    Và bất chợt thấy trái tim ông tan ra thành hồ nước tràn đầy giai điệu
    Biết nỗi buồn ly hương của ông còn buốt giá muôn đời
    Thiên tài! Tôi đã đi theo cô gái Ba Lan mà ông ngợi ca để đọc tên bạn tôi
    Đặng Thái Sơn - danh cầm Việt Nam nhờ ông mà nổi tiếng
    thấy ông đang hồi sinh nơi những ngón tay cháu gái
    Lê Thanh Thảo rắc mưa trên hàng phím
    Ngỡ bàn tay ông từ tượng cứng, mềm ra…"

  5. #5
    bút nhóm nhaccodien.info fredericchopin's Avatar
    Nhập quốc tịch
    10-2006
    Bài gửi
    28
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 0 lần do gửi 0 bài có ích

    Default Re: Chopin - Ballade Op.52

    Đề tựa “ballade” trong âm nhạc đựơc sử dụng chủ yếu để phổ nhạc cho thơ từ thế kỷ thứ 15, nhưng mãi đến thế kỷ thứ 19 dưới ngòi bút của Chopin, ballade mới trở nên một tác phẩm âm nhạc độc lập. Chopin sáng tác bốn bản ballade cho đàn piano, trải dài trong mười năm từ lúc rời Ba Lan đến sinh sống tại Paris. Có người bảo rằng các bản ballade của Chopin là phổ nhạc cho các bài thơ của nhà thơ người Ba Lan Adam Mickiewicz. Ngay cả nhà phê bình âm nhạc, nhạc sĩ Schumann lúc đầu còn lầm tưởng các bản ballade của Chopin cũng mang tính chất kể chuyện như nhạc của chính Schumann sáng tác. Thật sự Chopin không bao giờ có cảm hứng với loại âm nhạc có tiêu đề, cốt truyện và nhân vật như Schumann. Chopin đã từng không chấp nhận các bản Carnival Op.9 của Schumann là một lọai âm nhạc với đúng nghĩa của nó. Cũng như quan niệm riêng về tính chất lãng mạn trong âm nhạc của Chopin khác với các nhà soạn nhạc đương thời, tính chất kể chuyện trong các bản ballade của Chopin không tuân theo một khuôn mẫu nào mà ẩn trong từng câu nhạc đầy sáng tạo và phóng túng. Mặc dù Chopin lấy cảm hứng sáng tác ballade từ các câu chuyện của quê hương Ba Lan và các bài thơ của Adam Mickiewicz, Chopin mong muốn người nghe tự cảm nhận ra câu chuyện của riêng mình thông qua âm nhạc của ông. Chính vì thế mà không nhất thiết phải tìm hiểu các bài thơ này để có thể cảm nhận được các bản ballade của Chopin. Bốn bản ballade của Chopin là các tác phẩm lớn, với độ dài mỗi bản từ 8 đến 12 phút, được viết ở nhịp 6/4 hay 6/8, cùng mang chất thơ và thể hiện các chủ đề tương phản nhau, trữ tình nhưng cũng mang đầy kịch tính. Mặc dù bốn bản ballade có những điểm tương đồng, mỗi bản là một sự sáng tạo riêng biệt mà Chopin thổi hồn cho nhiều thể loại cổ điển từ sonata, rondo đến các khúc biến tấu rất uyển chuyển với cách chuyển âm và cấu trúc chưa từng gặp trong các ballade của các nhạc sĩ trước đó. Ballade của Chopin là sự kết hợp giữa cổ điển và lãng mạn, đạt tiêu chuẩn hàn lâm, được đánh giá là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Chopin nói riêng và của âm nhạc thời kỳ lãng mạn nửa đầu thế kỷ 19 nói chung. Sau Chopin, một số nhạc sĩ khác như Liszt hay Brahms cũng sáng tác ballade cho piano, nhưng nhắc đến ballade mọi người đều nhớ đến Chopin trước tiên, bởi ông là người đi tiên phong trong thể loại này.



    Ballade số 4 Op.52 giọng Fa thứ được đánh giá nổi bật nhất trong bốn bản ballade và giá trị có thể sánh ngang như Mona Lisa trong hội họa. Bản ballade này thể hiện hầu hết tất cả các yếu tố có thể có trong âm nhạc và tư tưởng của con người chỉ bằng cây đàn piano. Chopin sáng tác bản ballade số 4 vào khoảng những năm 1842-43, đề tặng cho phu nhân nam tước Rothschild, người trước đây đã giới thiệu Chopin chơi piano tại biệt thự của gia đình bà trước giới thượng lưu Paris. [0:01] Bản ballade mở đầu với khúc dẫn nhập ở giọng Đô trưởng tươi sáng nhưng ngắn ngủi, nhạt dần để nhường chỗ chủ đề chính giọng Fa thứ. [0:33] Giai điệu chính nhẹ nhàng nhưng bí hiểm và ẩn chứa một nỗi buồn man mác, con người dường như đi tìm lại chính tâm hồn của mình. [1:32] Giai điệu mang tính chất Slav này được lặp lại và [2:22] hòa vào trong khoảng không yên bình của những quãng tám sau đó. Cảm giác lâng lâng này biến mất khi [2:55] một lời tự sự cất lên, như giải bày những uẩn khúc trong chủ đề chính. Có thể nói đây là một trong những khúc nhạc hay nhất, phức tạp nhất về kỹ thuật hòa âm với sự chuyển giọng liên tục trong mỗi khuôn nhạc. Những uẩn khúc đó dường như vẫn chưa được sáng tỏ khi [3:23] nốt Sol giáng được lặp lại ba lần và dừng hẳn trước khi trở về với chủ đề chính. [3:37] Chủ đề chính được bổ sung thêm một bè phụ, trở nên sôi động hơn, chuyển thành kịch tính với những quãng tám mạnh mẽ, và cuối cùng nhạt dần để chuyển qua chủ đề thứ hai ở giọng Si giáng trưởng. [4:29] Chủ đề thứ hai mang dáng dấp của những giây phút yên ả thanh bình sau cơn giông bão trong ballade số 2 Op.38. [5:34] Sau đoạn phát triển ở giọng La giáng trưởng liên tục với những quãng sáu, [6:39] phần dẫn nhập được lặp lại nhưng ở giọng La trưởng và với một khoảnh khắc nhẹ nhàng [6:50] nghiêng từ Mi sang Mi thăng. [7:23] Một khúc biến tấu của giai điệu chính ở những tông nhạc khác thường, tuy nhẹ nhàng nhưng căng thẳng, lang thang vô định trước khi bắt kịp với sự trở về của chủ đề chính quen thuộc. [8:22] Ở lần thứ tư này, chủ đề chính được biến tấu với những câu nhạc dài hơn, nhanh hơn, dồn dập hơn. [9:05] Chủ đề thứ hai được lặp lại ở giọng Rê giáng trưởng tạo ra một không gian rộng lớn hơn với phần trầm là những ngọn sóng cuồn cuộn và phát triển thành cao trào [9:59] bởi bốn khúc rải qua ba quãng tám tương tự như bản etude đại dương số 12 Op.25. [10:09] Hàng loạt những hợp âm mạnh mẽ trở nên im bặt nhường chỗ cho bốn hợp âm bí hiểm [10:25] biến thể sang giọng Đô trưởng. [10:46] Khúc coda mạnh mẽ, dữ dội và náo động với những quãng ba và quãng sáu gợi lên hình ảnh những kỵ mã chạy vào rừng sâu, một trong những lý do nhiều người ghép bản ballade này với bài thơ Budri của Adam Mickiewicz, bài thơ kể về một người chiến binh đưa ba người con ra trận. Những khúc hợp âm rải dâng lên đến cao trào, cuồn cuộn như thác đổ xuống nốt trầm Fa mạnh mẽ, xóa tan mọi hoài nghi, uẩn khúc xuyên suốt tác phẩm. Có thể nói, cách kể chuyện không lời, truyện mà như không truyện của Chopin thể hiện trong bản ballade cuối cùng này đã đưa thể loại ballade cho đàn piano ra khỏi chức năng âm nhạc cho thơ thuần túy vốn có trước đây, trở thành một thể loại độc lập, đứng vững trên danh sách các thể loại hàn lâm trong lịch sử âm nhạc.

    Biên soạn: fredericchopin

    được Apomethe sửa lần cuối lúc 13:30 ngày 29-01-2007.
    CHOPIN: THE POET OF THE PIANO
    http://www.ourchopin.com

  6. #6
    thành viên kỳ cựu richarddanh's Avatar
    Nhập quốc tịch
    12-2007
    Bài gửi
    287
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 4 lần do gửi 2 bài có ích

    Default

    đọc bài nì cảm động wá !! cuộc đời của 1 nhà thơ Dương Cầm thật lật đật, vất vả

    Chopin - Nghệ sĩ của cây đàn Piano
    Dịch tả lại hoành hành, những người học trò cuối cùng của Chopin lần luợt rời Paris. Chopin đứng trên bờ vực thẳm khốn cùng và thiếu thốn. Chopin tự tay thiêu hủy rất nhiều bảnthảo của mình. Ông còn định đốt cả bản sonate bất hủ viết cho đàn violoncello. Năm 1849, một người bạn của ông, bà bá tước Potocka đến bên giường nhạc sĩ thiên tài đang hấp hối và hát cho ông nghe những bài ca của Mozart. Trong di chúc của mình, nhạc sĩ thiên tài người Ba Lan cầu mong được chôn cất ở nghĩa địa Chaleser, còn trái tim thì đưa về tổ quốc Ba Lan xa xôi của mình. Lời nguyện ước ấy của Frederich Chopin đã được toại nguyện.
    Frederich Chopin sinh ở Ba Lan, cha là người Pháp, mẹ là người Ba Lan. Con người Chopin chính là sự hòa trộn giữa tính cách Slave và tâm hồn La tinh. Những giai điệu dân ca, những vũ khúc thôn dã thấm vào dòng sữa mẹ nuôi dưỡng cậu bé, nhà soạn nhạc thiên tài không chỉ của riêng đất nước Ba Lan. Đó là những tố chất làm nên một thiên tài âm nhạc thuần khiết, đôn hậu, mãnh liệt và da diết.
    Khi còn nhỏ, cậu bé Chopin đã tự kê ghế ngồi trước cây đàn piano. Khúc nhạc đầu tiên của cậu là một khúc ứng tác. Lớn lên một chút, Chopin học nhạc dưới sự chỉ dẫn của giáo sư Voisech Gipnew. Năm lên 7, sáng tác đầu tiên của Chopin là một bản polonaise. Đó là một trong những giai điệu dân ca quen thuộc của ngưòi nông dân Ba lan chân chất và sôi nổi, giai điệu ấy thấm vào trong máu Chopin từ bé, đến năm lên 9 tuổi Chopin đã nôi tiếng là một nghệ sĩ tài ba trong các buổi biểu diễn trước những người hâm mộ và có vẻ sùng bái. Năm ông 14 tuổi, giáo sư Voisech thú nhận rằng ông “không còn gì dể dậy cho cậu bé thiên tài”. Giáo sư nhận xét: ”đối vói một thiên tài lớn các quy tắc sinh ra là để bác bỏ”. Chopin chính là con người như thế. Sau đó, Chopin được giới thiệu đến học nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng Guizep Enxe. Năm 15 tuổi, Chopin đã rong ruổi trên khắp đất nước Ba Lan, cậu bé vừa biểu diễn, vừa quan sát, học hỏi và lắng nghe, thu lượm các làn điệu dân ca. Âm nhạc các miền đất, vùng quê thấm dần vào cậu bé. Năm 1826, vừa tròn 16 tuổi, Chopin vào học trường cao đẳng âm nhạc .Năm 18 tuổi Choipin đã sáng tác hai bản rondo cho đàn piano. Trong chuyến đến thủ đô Viên biểu diễn lấn đàu tiên liến trong hai buổi, cả kinh đô Âm nhạc Châu Âu nồng nhiệt đón tiếp và ngưỡng mộ tài năng của nhạc sĩ trẻ thiên tài trên cây đàn piano với một sức hút kỳ diệu. Từ Viên, Chopin tiếp tục hành trình lưu diễn ở Dresden (Đức)
    Vừa tròn 20 tuổi, chàng thanh niên lòng tràn ngập tình yêu quê hương, phải dứt áo từ giã tổ quốc Ba Lan. Đó là năm 1830, Chopin mang theo bên mình nắm đất quê hương đựng ttrong một chiếc cốc bằng bạc .Trước khi ròi tổ quốc, Chopin chơi bản concerto giọng mi thứ như một lời vĩnh biệt người thân, bạn bè để sang sinh sống tại Pháp, quê hương của cha mình. Ông đến Paris đúng vào thời kỳ rực rỡ nhất của chủ nghĩa lãng mạn. Tại đây, ông gặp Liszt, nghệ sĩ chơi piano điêu luỵện người Hung và nhà thơ vĩ đại người Đức Heine. Ngay lập tức, Chopin trở thành thần tượng trong các phòng nhạc của giới quý tộc và quyền quý. Đây cũng là nơi những tâm hồn nhạy cảm, ngây ngất khi được nghe những bản polonaise bất hủ hoặc những điệu vũ mazurka của Chopin.
    Thời đó, người ta gọi Chopin là nhà thơ - nhạc sĩ điêu luyện trên cây đàn piano đầy uy quyền. Hơn thế, ông còn là một người luôn tìm tòi khám phá những tính năng tiềm ẩn của nhạc cụ này. Khi biểu diễn piano, ông thường có một người thợ đàn để cân chỉnh lưỡng từng sợi dây, từng nốt nhạc.

    Năm 1836, Chopin gặp nữ văn sĩ George Sanz.Thế là bắt đầu một cuộc tình kéo dài suốt 10 năm ròng rã. Hai người trải qua những ngày hè cháy bỏng yêu đương ở Nohan, miền trung nước Pháp. Giai diệu dào dạt, da diết tràn đầy tình yêu cuộc sống, thiên nhiên và con người trong bản concerto giọng Si giáng thứ được ông ấp ủ vào mùa hè cháy bỏng tình yêu này. Sau khi từ Malorca trở về, Chopin đã hoàn thành tác phẩm tuyệt vời này. Toàn bộ bản concerto chứa chan nỗi khát khao, lòng nhiệt tình như ngọn lửa rực cháy. Tính chất mạnh bạo khác thường trong kết cấu các chương của bản concerto mà Choipin sử dụng để hợp nhất thành một thể thống nhất gồm 4 phần, dường như tương phản nhau. Bản nhạc khiến những người đương thời quen với thể loại này cũng phải sửng sốt. Mỗi chương có một cuộc sống riêng đầy rạo rực nhưng đều thấm đẫm một thứ tình cảm tràn trề. Đó là cảm giác về một cuộc đấu tranh căng thẳng, mãnh liệt. Ngay hợp âm đầu tiên đã báo hiệu điều đó. Đồng thời những nét nhạc tương phản dữ dội lại hết sức hợp lý .Những giai điệu hợp lý nhưng chứa đầy ý nghĩa và tuyệt đối .Chính George Sanz đã nhận xét “bản concerto tuyệt đẹp và nghe đau đớn như xé ruột “ Chương hai với những hồi ức xiết bao sung sướng và xa xôi, khiến cho giai điệu tươi sáng ở đoạn giữa phần Schetzo. Chương 3 trở lại giai điệu này và sau đó, gần như ở phần cuối, âm nhạc lại ngoái nhìn một lần nữa bức tranh phong cảnh thanh bình thời ấu thơ niên thiếu.Tuyệt vọng, lo lắng và buồn rầu, những tình cảm đó, Chopin không bao giờ thể hiện trong Âm nhạc mặc dù những năm đó,Chopin mắc bệnh lao. Nhạc sĩ người Đức Medelssohn thốt lên “Chopin là cả một lò lửa. Ông nung nóng chảy tất cả những gì mà cuộc sống ban cho. Và ông ấy đã rút ra từ đó kho báu hết sức quý giá”

    Suốt cả mùa đông hai năm 1838-1839, George Sanz đưa ông đến đảo Balearet – vùng Marloca. Nàng hy vọng rằng với sóng gió,nắng biển và bầu trời trong xanh, Chopin sẽ sớm khỏi bệnh, song vô vọng. Thời gian này Chopin đã sáng tác 25 bản prelude và các bản marzurka. Năm 1843, nhạc sĩ Liszt hết sức thán phục và nói “khác với Chistopher Columb, cậu đã phát hiện ra, không phải một thế giới má là nhiều thế giới”
    Thời gian Chopin mắc bệnh nặng, ông thay đổi nhiều, sức khỏe giảm sút, yếu đi rất nhanh. Năm 1844, khi vào tuổi 34, Chopin sáng tác bản polonaise giọng Fa giáng thứ. Đó là bản polonaise ảm đạm nhất trong các bản polonaise nổi tiếng của ông. Giới phê bình âm nhạc thế giới đặt tên là “Hành khúc tang lễ “. Tác phẩm súc tích toát lên nỗi đau thương vô hạn. Song âm hưởng của khúc nhạc cũng gợi lên trong lòng người niềm xúc động sâu thẳm nuôi dưõng tinh thần và dấn bước đi lên vượt qua những mất mát đau thương. Bản nhạc không có đoạn kết hân hoan, thực ra mỗi bản nhạc trong thể loại này đáng giá bằng một bản concerto hoặ sonate. Thậm chí, khi tác phẩm khép lại thì cùng lúc mở ra cả một thế gíới âm nhạc đồ sộ. Đôi khi người ta ví nó như những giao hưởng tầm cỡ
    Những bản mazurka của Frederich Chopin thực sự là những bức tranh xinh xắn, những bức họa bằng những âm thanh mỹ lệ. Mỗi bản nhạc chứa đầy mầu sắc lung linh huyền diệu, giới phê bình âm nhạc đương đại đánh giá là cuốn” bách khoa toàn thư” âm nhạc về những tình cảm của con người. Đặc biệt, thể loại étude, trước thời Chopin vốn là những bài tập cho người nghệ sĩ trên cây đàn piano, nhưng đến khi qua bàn tay kỳ diệu của Chopin hầu hết các étude đã trở thành những tác phẩm âm nhạc đích thực. Giá trị của nó cũng sánh ngang với bất cứ thể loại âm nhạc nào, trước đó và sau này.
    Trái tim nằm trong lòng đất mẹ
    Những năm sống ở Paris cho đên ngày cuối đời, đối với Chopin là những năm tháng dài dằng dặc. Nhất là những ngày mùa thu và đông giá lạnh, khi dịch cúm hoành hành dữ dội. năm 1845, khi Chopin 38 tuổi, sau 17 năm sống ở Paris, ông quyết định chuyển sanhg sống ở London. Âm nhạc của ông lập tức được gười dân Anh quốc đón nhận và yêu thích. Công chúng ở xứ sở sương mù đón nhận những bản nhạc viết cho đàn piano của nhạc sĩ thiên tài người Ba Lan như những dòng suối tuôn trào không bao giờ cạn.Sống giữa thủ đô nước Anh ảm đạm, ẩm ướt và khó chịu,nhưng Chopin vẫn phải vừa dạy đàn piano, vừa biểu diễn để kiếm sống. Quả thật ở đây, ông không làm sao có cảm hứng mà sáng tác nổi một dòng nhạc dù là nhỏ nhất.Trái tim ông vẫn hằng mơ về Paris,về những cánh rừng,những ngày hè chan hòa ánh nắng. Nhất là lòng ông không sao nguôi ngoai nỗi nhớ về chuỗi ngày sống tràn đầy yêu thương với bạn bè và những người thân thiết. Cuối cùng,nỗi mong nhớ Paris đã buộc nhạc sĩ rời bỏ London, vĩnh viễn không bao giờ trở lại đất nước ảm đạm, dầy đặc sương mù, luôn thiếu ánh mặt trời và những nụ cười.

    Trở lại nước Pháp, nhưng Chopin vẫn không sao quên được nỗi lo sợ bị chôn sống luôn ám ảnh tâm trí. Amadeus Mozart mất năm 36 tuổi, Franz Schubert chết sớm hơn, vào tuổi 31.Còn Ludwig van Beethoven cuộc sống kéo dài hơn 50 năm. Những năm cuối cuộc đời đối với nhạc sĩ thiên tài thật nặng nề, khủng khiếp. Ông chiến đấu với bệnh điếc cùng những nỗi bất hạnh triền miên. Còn Johan S. Bach, mặc dù sống đến già nhưng cuộc sống hoàn toàn cách biệt với thế giới bởi mắt hoàn toàn bị mù. Frederich Chopin thường bị ám ảnh trước những số phận tài danh bạc mệnh ấy. Những ngày cuối đời, ông sống ở Paris hoàn toàn cô đơn,cách biệt. Bản polonaise cuối cùng của nhạc sĩ chính là lời từ biệt cuộc đời. Bản nhạc này toát lên những cảm xúc mỏng manh, nhẹ nhàng, tựa như 1 hơi thở, một làn gió.

  7. #7
    thành viên trẻ
    Nhập quốc tịch
    02-2009
    Bài gửi
    1
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 0 lần do gửi 0 bài có ích

    Post Chopin- My love!!!

    Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp , mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng. Ông cũng đã tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc viện Warsawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ.
    Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này.

    Mùa thu năm 1826, Chopin bắt đầu học lí thuyết âm nhạc và sáng tác âm nhạc tại trường trung học phổ thông về âm nhạc tại Warsawa, một bộ phận của Nhạc viện Warsawa và Đại học Warsawa. Tuy nhiên, Chopin đã không theo học lớp piano. Nhận thấy tài năng xuất chúng của Chopin, Józef Elsner - nhà soạn nhạc và hiệu trưởng của trường - đã cho phép Chopin tập trung vào piano nhưng vẫn buộc ông học các môn lí thuyết. Chopin, vốn có khả năng trời phú về sáng tác âm nhạc, đã học được ở trường sự kỉ luật và chính xác trong kết cấu tác phẩm, cũng như hiểu được ý nghĩa và logic của từng nốt nhạc. Đây là thời gian ra đời của những tác phẩm có tầm cỡ đầu tiên của Chopin, ví dụ như bản Sonata cung Đô thứ, những khúc biến tấu opus số 2 dựa trên một chủ đề trong vở Don Giovanni của Mozart, bản Rondo á la Krakowiak op. 14 và bản tam tấu cung Sol thứ, opus 8 cho piano, violin và cello. Chopin kết thúc quá trình học tập của mình tại trường phổ thông vào năm 1829 và sau 3 năm học tại trường, Elsner đã viết trong một bản báo cáo: "Chopin, Fryderyk, học sinh năm thứ 3, một tài năng lớn, thiên tài âm nhạc".

    Khi trở về Warsawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Bản concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi 2 bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Italy.

    Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt . Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.
    Khi trở về Warsawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Bản concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi 2 bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Italy.

    Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt . Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.

    Khi trở về Warsawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Bản concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi 2 bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Italy.

    Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt . Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.

    http://upload.wikimedia.org/wikipedi...acroix_043.jpg
    <wikipedia>
    PS: Em muon' tim` ban Black Key cua Chopin, ai co' scan cho em nha;

  8. #8
    Administrator Admin's Avatar
    Nhập quốc tịch
    08-2006
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài gửi
    235
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    25
    Được cảm ơn 69 lần do gửi 40 bài có ích

    Default Re: Nhóm tác giả - Về Frédéric Chopin


Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện tại có 1 người đang xem chủ đề này (0 thần dân chính quốc và 1 du khách)

Các thần dân đã xem chủ đề này: 35

Bookmarks

Quyền hạn của bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •