Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27

Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vB_Postbit has a deprecated constructor in ..../includes/class_postbit.php on line 176

Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vB_BbCodeParser has a deprecated constructor in ..../includes/class_bbcode.php on line 37
Phạm Phương Hoa - John Cage và Âm nhạc Aléatoire
kết quả từ 1 tới 1 trên 1

Chủ đề thảo luận: Phạm Phương Hoa - John Cage và Âm nhạc Aléatoire

  1. #1
    thành viên trẻ
    Nhập quốc tịch
    08-2006
    Bài gửi
    81
    Cảm ơn vì bài gửi có ích
    0
    Được cảm ơn 7 lần do gửi 6 bài có ích

    Default Phạm Phương Hoa - John Cage và Âm nhạc Aléatoire

    Vào những năm 40 của thế kỷ XX, ở một số nước trên thế giới và đặc biệt ở Mỹ đẫ hình thành một trào lưu âm nhạc mới có tên gọi là âm nhạc Aléatoire. Thực chất đây là loại âm nhạc phá bỏ rất nhiều những quan niệm âm nhạc theo truyền thống trong cách sử dụng nhạc cụ, khai thác âm sắc, đặc biệt là quan niệm về dấu lặng, vai trò của người sáng tác, biểu diễn cũng như công chúng thưởng thức âm nhạc. Nhờ quan niệm mới này nó đã mở ra những cái nhìn mới về thưởng thức và thẩm mỹ âm nhạc.
    Âm nhạc Aléatoire thường được hiểu là một loại âm nhạc mà ở đó người nhạc sĩ đã khai thác những nhân tố ngẫu nhiên trong quá trình sáng tác hoặc biểu diễn. Như vậy, định nghĩa về âm nhạc Aléatoire cũng bao gồm cả những đặc trưng cơ bản của âm nhạc thử nghiệm. Hay nói cách khác âm nhạc Aléatoire phát triển trên nền tảng của âm nhạc thử nghiệm. Một trong những ngưồi mở đường và là đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác này là John Cage. Ông được coi là người đi tiên phong và có một ảnh hưởng lớn đến khá nhiều nhạc sĩ ở nửa sau thế kỷ XX. Chính John Cage là người đã dám phá bỏ những quan niệm truyền thống về âm thanh và thẩm mỹ âm nhạc bất chấp những lời công kích và đàm tiếu của công luận.
    Thời trẻ John Cage đã từng đi Châu Âu như Paris, Berlin, Madrid để nghiên cứu về hội hoạ, âm nhạc và kiến trúc. Sau khi trở lại Califonia, ông bắt đầu sáng tác, vẽ tranh và làm thơ. Nhưng đến tận năm 1933 ông mới thực sự học sáng tác âm nhạc. Ông đã học cả những môn về âm nhạc ngoài Châu Âu và đã từng là học trò của Shoenberg và Cowell. Cage cũng đã viết một số tác phẩm theo nguyên tắc 12 âm. Thí dụ : 6 Invention ngắn ( 1933 ), tác phẩm cho 3 giọng ( 1934 ), âm nhạc cho các nhạc cụ hơi ( 1938 ) và Metamorphosis ( 1938 ). Ngay từ thời điểm đó, cả Shoenberg và Cowell đều đã nhận định John Cage sẽ là một nhà sáng tạo thiên tài.
    Sau những ảnh hưởng của Shoenberg và Cowell, Cage còn chịu ảnh hưởng của Edvard Varese, người đã dắt ông đến với âm nhạc Aléatoire. Từ năm 1939 – 1943 Cage đã đến nhiều thành phố và đưa ra những buổi hoà nhạc chỉ có nhạc cụ gõ. Thí dụ ở Seatle năm 1938, San Francisco năm 1939 ( cùng với Lo Harrison ), Chicago năm 1941, New York năm 1942 và ở bảo tàng nghệ thuật hiện đại năm 1943. Thời kỳ này ngoài các tác phẩm cho nhạc cụ gõ, Cage còn viết Prepared piano ( piano được chuẩn bị năm 1940 ), 3 sáng tác có tên Construction ( 1939, 1940, 1941 ) và 5 Imaginary Landscapes vào các năm 1939, 1942, 1951, 1952. Với các tác phẩm này John Cage đã đưa ra một định nghĩa mới về âm thanh và quan điểm thẩm mỹ.
    Âm thanh ở đây được hiểu theo một nghĩ rất rộng. Nó bao gồm tất cả các loại tiếng ồn, và hoà âm của tác phẩm chính là sự kết hợp các loại tiếng ồn đó. Cũng xuất phát từ định nghĩa về âm thanh như vậy mà quan điểm thẩm mỹ về âm thanh cũng thay đổi, dây đàn piano đã được cho thêm cả cao su, gỗ, kim loại và giấy. Điều đó dẫn đến sự cộng hưởng của âm thanh, đặc biệt là khía cạnh âm thanh học thay đổi và làm cho âm thanh khác đi. Đàn piano giờ đây không chỉ chơi bằng phím mà có thể được gảy bằng dây hoặc đập vào mặt đàn. Trong tác phẩm Imaginary Landscapes No 4 ( 1951 ), Cage sử dụng 12 đài phát thanh để thực hiện. Mỗi một đài do 2 người thể hiện. Người ta thao tác các nút bấm để tạo ra sự thay đổi ở mỗi một đài phát thanh và có một triết áp khác để kiểm tra chung tất cả các đài. Các nốt nhạc đã được viết chính xác nhưng âm thanh đài phát ra sẽ biến đổi rất nhiều trong không gian.
    Cùng với kiểu sáng tác cố định nhưng thay đổi trong các lần biểu diễn như trong tác phẩm Imaginary Landscapes No 4 ( 1951 ), Cage cũng đã ứng dụng trong 16 Sonate4 Interludes cho piano ( 1946 – 1948 ). Trong các tác phẩm này do mỗi lần biểu diễn có thể sử dụng các vật liệu khác nhau can thiệp vào dây đanmf chúng ta có những kết quả âm nhạc rất khác nhau. Tác phẩm âm nhạc cho piano 4 – 19 ( 1953 ) sử dụng một cách thay đổi khác. Tổng phổ gồm 16 trang, nốt thay đổi trong các lần biểu diễn. Các trang này có thể chơi riêng biệt hoặc đồng thời. Còn tác phẩm âm nhạc cho piano 21 – 36 và 37 – 52 ( 1955 ) có thể chơi riêng thành 2 nhóm nhưng cũng có thể chơi đồng thời cả với âm nhạc cho piano 4 -19. Âm nhạc cho piano 53 – 68 và 69 – 84 ( 1956 ) là cả một tập tác phẩm luôn chơi theo nguyên tắc này.
    Như vậy, với những cách làm này Cage đã tìm ra một lối thoát cho cây đàn piano mà theo Daniel Charles “ nó đã tỏ rõ sự nghèo nàn về kỹ thuật trong âm nhạc Tây Âu ở nửa đầu thế kỷ XX “. Vào ngày 17-10-1954, lần đầu tiên John Cage đã mang đàn piano kiểu này trình diễn cùng David Tudor ở festival Donaueschingen. Tác phẩm được biểu diễn có tên 12.55.6078. Theo như lời John Cage nói trong buổi trình diễn này thì sự sáng tạo âm nhạc độc lập với tất cả các sở thích cá nhân, với những hiểu biết về ngôn ngữ âm nhạc và với quan niệm truyền thống về văn hoá.
    Vào năm 1952, John Cage cùng với Earle Brown ( 1926 - ), Christian Wolff ( 1934 - ) và Morton Feldman ( 1926 - ) đã đưa ra một thử nghiệm mới “ dự án âm nhạc trên băng từ “. Đấy cũng chính là nghiên cứu đầu tiên của Mỹ để dẫn đến những sản phẩm âm nhạc cho phim. Cũng vào năm này, John Cage đã viết một tác phẩm gây ra sự tranh cãi ghê ghớm trong dư luận. Đó là tác phẩm Composition entilted 4’33 ( 1952 ). đây là một tác phẩm có thể chơi bằng bất cứ loại nhạc cụ nào hoặc bằng một cái gì đó tương đương như nhạc cụ. Tổng phổ hoàn toàn là sự im lặng. Nó không hề có một nốt nhạc nào cả. Người biểu diễn ngồi im lặng trên sân khấu trong suốt thời gian của tác phẩm ( 4 phút 33 giây ). Kết quả cuối cùng chính là âm thanh của tiếng máy điều hoà không khí của phòng hoà nhạc, tiếng ồn do người nghe mang tới, thí dụ như tiếng ho, tiếng cười và những âm thanh từ bên ngoài phòng hoà nhạc mang lại. Ông đã dẫn giải tác phẩm của mình bằng chính định nghĩa về âm thanh mà ông đưa ra. Rất nhiều người đã gọi ông là kẻ điên rồ.
    Năm 1952 John Cage cũng cho ra đời một số tác phẩm sử dụng những sự biến đổi về phương pháp sáng tác, ở đó mỗi một nhân tố thay đổi lại mở ra một qua trình sáng tạo mới hoặc cách biểu diễn mới. Trong tác phẩm “ âm nhạc của sự thay đổi viết cho piano “ gồm 4 tập, John Cage đã sử dụng biểu đồ để sáng tác xoay quanh 3 nhân tố là đọ cao, độ dài và trường độ. Còn tác phẩm Âm nhạc cho piano 1 ( 1952 ) thì hoàn toàn rất tóm tắt. Người biểu diễn tự quyết định độ dài, độ cao thì được chọn bằng sự im lặng trên các không nhạc ở trang giấy.
    Mùa hè 1952, tại Black Mountain College, Cage đã làm được một thành tựu vượt trước mọi người hàng chục năm. Ông đã viết tác phẩm Hoà tấu của hành động, trong đó là sự kết hợp phức tạp giữa piano, máy hát, thơ, nói, nhảy, phim và ánh sáng. Một tác phẩm nũă cũng rất hấp dẫn đó là âm nhạc của nước ( 1952 ) viết cho piano mà ở đó piano phải làm ra tiếng nước. Nó được chơi cùng tiếng huýt sáo gió dưới nước, đài phát thanh và những quân bài cùng rất nhiều đôi mắt.
    John Cage làm những tác phẩm này đơn giản chỉ để nói về sự tự do sáng tác. ít lâu sau ông dẫn giải rằng nguyên tắc triết học của ông ở đây dựa trên sự sáng tạo của sự thay đổi hoặc là sự bừa bãi cẩu thả trong âm nhạc. Ông tin rằng ông không phải là một người đóng vai trò mô tả những mong muốn và thói quen của chúng ta, nhưng ông muốn nói về những cái xung quanh ông. Trong âm nhạc cũng như trong cuộc sống tồn tại những cái đẹp của chính nó. Phải tìm và diễn tả nó, đó là nhiệm vụ của ông. “ Cấu trúc này không đặt trong tác phẩm nhưng mọi người sẽ nhận ra nó.Ơ đây không có vấn đề là không biết, mà chỉ có khả năng nhận ra nó “.
    Quan điểm sáng tác của John Cage không chỉ ảnh hưởng đén một số nhạc sĩ mà quan trọng hơn nó đã có một ảnh hưởng lớn đối với nghệ thuật thị giác ( như Robert Motherwll, Robert Rauschenberg và Jasper Johns ), nghệ thuật thơ ( như Mary Caroline Richards ) và nghệ thuật nhảy của Merce Cunningham. Ông đã góp một phần không nhỏ để tạo ra một thế giới muôn màu quanh chúng ta .


    Thạc sĩ Phạm Phương Hoa
    được no family sửa lần cuối lúc 22:02 ngày 13-10-2006.

  2. Thần dân đã cảm ơn no family vì bài gửi này có ích:

    love_classical (02-06-2012)

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện tại có 1 người đang xem chủ đề này (0 thần dân chính quốc và 1 du khách)

Bookmarks

Quyền hạn của bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •