PDA

View Full Version : Tác phẩm - tác giả trong tuần: Bốn bài ca cuối cùng



Wal
23-03-2008, 11:04
Bên TTVN trước cũng có một topic tựa vầy giới thiệu những tác phẩm hay và nổi tiếng. Khi bà con chạy sang bên này hết, topic ấy dừng hẳn, thấy hay mà stop thì tiếc. Sẵn bên báo tuần Việt Nam có chuyên mục giới thiệu những tác phẩm cổ điển, nên nghĩ mở lại topic này để mọi người cùng đọc, thảo luận và tìm hiểu về tác phẩm - tác giả.
Có thể các bác lấy từ các nguồn khác về "góp gạo thổi cơm chung" để mọi người cùng đọc và biết thêm thông tin bổ ích. Tất nhiên nhớ ghi nguồn:)! Và nên đính kèm file nhạc để vừa nghe vừa đọc vừa cảm nhận.
Bắt đầu là tác phẩm SLAVONIC MARCH

----------------------------



Từ thê lương, căm hận đến khúc khải hoàn Slavơ!

Slavonic March được xem như một nguồn động viên tinh thần lớn lao đối với những binh sĩ Nga - Serbia trong cuộc chiến đấu cam go. Sau này, khi đã được phổ biến rộng rãi hơn thì nó không chỉ có ý nghĩa với những người Nga hay gốc Slavơ mà còn với nhiều dân tộc đã bị áp bức khác...


DOWNLOAD (Chỉ huy: charles Dutoit, Ochestre Symphonique de Montréal) (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/slavonicmarch.mp3)




http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/03/triumphant-thekennygallery-ie.jpg
Slavonic March kết lại với âm hưởng vui tươi
của khúc khải hoàn hân hoan
Nguồn: thekennygallery.com

Bản nhạc: SLAVONIC MARCH (Hành khúc Slavơ)
Sáng tác: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
*****
Theo những ghi chép lịch sử, năm 1876, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã tàn sát rất nhiều tín đồ Kitô giáo gốc Slavơ. Nhân dân Nga khi đó đã vô cùng phẫn nộ trước người Thổ và tỏ thái độ đồng cảm với những người Slavơ. Ngay sau đó Serbia đã phản ứng lại và tuyên chiến với Thổ Nhĩ Kỳ.

Để tỏ sự ủng hộ, Sa hoàng đã gửi quân đội đến tham chiến, giúp đỡ những người anh em Slavic. Ngay sau đó Nicolai Rubinstein, một người bạn thân của nhạc sĩ Pyotr Ilyich Tchaikovsky, đã nhờ ông sáng tác một bản nhạc để biểu điễn trong chương trình hòa nhạc tưởng niệm những tình nguyện viên người Nga đã chết và bị thương trong cuộc chiến.

Ngay lập tức Tchaikovsky đã bắt đầu viết và cho đến tháng 11 cùng năm thì tác phẩm hoàn chỉnh đã được công diễn lần đầu tiên dưới sự chỉ huy của Nicolai Rubinstein.
Đây là một tác phẩm khí nhạc được viết theo nhịp điệu hành khúc, mới đầu nó được biết đến dưới cái tên Hành khúc Serbia – Nga (Serbo – Russian March), về sau thì được gọi đơn giản là Hành khúc Slavơ (Slavonic March).

Bản nhạc đã được xem như một nguồn động viên tinh thần lớn lao đối với những binh sĩ Nga - Serbia khi đó. Sau này, khi đã được phổ biến rộng rãi hơn thì nó không chỉ có ý nghĩa với những người Nga hay gốc Slavơ mà còn với nhiều dân tộc đã bị áp bức khác (Tất nhiên là trừ người Thổ Nhĩ Kỳ do hệ lụy của lịch sử).
Slavonic March được sáng tác với chất liệu cơ bản dựa trên những điệu dân ca Nga và Serbia nên tràn đầy âm hưởng dân gian. Bản nhạc mở đầu bằng những giai điệu chậm chạp, buồn bã đặc trưng của “hành khúc tang lễ” (Funeral march).
Bốn nhịp mở đầu đưa tới chủ đề đầu tiên với âm vực khá trầm bởi Viola và Bassoon, được lặp lại nhiều lần bởi các nhạc cụ khác kèm theo tiếng Pizzicato (tiếng bật dây đàn) đầy day dứt.

Tiếp đến là một giai điệu buồn da diết thê lương do dàn dây thể hiện như gợi lên tình yêu thương quê hương, đất nước. Giai điệu ngày càng trở lên day dứt hơn, ngày càng dồn dập và dồn nén như những tiếng thét tiếng kêu căm hận và dường vỡ tung ra khi đến cao trào bùng nổ với tiếng trống đột ngột.

Người nghe có thể sẽ cảm thấy như vỡ òa, uất nghẹn, sôi sục nỗi căm thù, và rồi tất cả lặng đi trong đe dọa.

Thế nhưng sang đến chủ đề thứ hai, được trình tấu bởi sáo (flute) và kèn Oboa, không khí đã bớt phần buồn thảm. Tiếng Clairnet và Basson cất lên như lời giục giã, tiếng sáo vang lên xua đi sự u uất ban đầu.

Chủ đề tiếp tục được phát triển với giai điệu như vỡ tung ra… Chủ đề thứ nhất lại được lặp lại, dàn nhạc cũng dường đạt tới sự thăng hoa. Người ta thấy rõ ràng sự tập hợp lực lượng đang diễn ra, cùng với giai điệu bài Thượng đế phù hộ Sa hoàng (Quốc ca Nga khi đó) được lặp lại nhiều lần mỗi lúc càng nhiều, các nhạc cụ tham gia hơn với một tiết tầu hùng dũng khác hẳn “hành khúc tang lễ” ban đầu.
Những giai điệu căm hờn một lần nữa đã quay lại, nhưng giờ đây không còn mang màu sắc uất hận như chủ đề đầu tiên nữa, bởi dường như nỗi căm hờn đã được trút lên quân thù. Một sự phát triển dài dựa trên chủ đề ban đầu lại được tiếp tục cho tới khi nó xuất hiện trở lại trong khúc khải hoàn ca với kèn Oboa, trống và cello và được chơi như một khúc tạm biệt.

Sau những giờ phút chiến trận ác liệt, tất cả giờ đây lắng xuống nhường chỗ cho sự tĩnh lặng…

Rồi đột nhiên tiếng trống timpani vang lên, những giai điệu vui tươi mang âm hưởng chiến thắng đã quét sạch, xóa tan nỗi buồn bã. Đoàn quân thắng trận đã trở về, dân chúng ùa ra các nẻo đường hân hoan chào đón, khắp nơi tràn ngập không khí lễ hội.
Ở phần 3 này, không khí lễ hội được thể hiện qua tiếng kèn Clairnet với các điệu nhảy dân gian Nga vui nhộn hòa cùng tiếng tù và xuất hiện với giai điệu mang tính diễu hành song song. Bản Thánh ca Nga lại nổi lên vang dội trong niềm hân hoan vui sướng.

Chỉ trong vòng 10 phút, bản nhạc sẽ đưa ta đi hết từ tâm trạng này sang tâm trạng khác. Từ nỗi buồn bã u uất ban đầu cho đến niềm hân hoan tột cùng của chiến thắng!
Quả là không quá lời khi nhận xét rằng Slavonic march đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng của liên quân Nga – Serbia trong cuộc chiến với quân Thổ năm xưa. Còn đối với những người yêu nhạc nhiều thế hệ, khi thưởng thức Slavonic march, ai cũng như cảm thấy tinh thần yêu nước trong mình bỗng trào dâng mãnh liệt!


Đại Yên (nguồn từ Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/3260/index.aspx))

Wal
23-03-2008, 12:07
Bản giao hưởng số 10 của Beethoven

DOWNLOAD:
http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/SS500.jpg

1. Symphony No. 1 in C minor, Op. 68: I. Un poco sostenuto - allegro (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD1/Track01.mp3)
2. Symphony No. 1 in C minor, Op. 68: II. Andante sostenuto (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD1/Track02.mp3)
3. Symphony No. 1 in C minor, Op. 68: III. Un poco allegretto e grazioso (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD1/Track03.mp3)
4. Symphony No. 1 in C minor, Op. 68: IV. Adagio - Allegro non troppo ma con brio (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD1/Track04.mp3)
--------------------------

Những năm giữa thế kỷ 19, Mendelssohn, Chopin và Schumann lần lượt qua đời, những trào lưu nghệ thuật cấp tiến lan tỏa khắp bầu trời âm nhạc châu Âu với sự ra đời của thể loại âm nhạc có chương trình kể từ bản giao hưởng Cuồng tưởng của Hector Berlioz và giao hưởng thơ của Franz Liszt. Trường phái Weimar do Liszt và Richard Wagner đứng đầu đã ảnh hưởng sâu rộng và có xu hướng dập tắt mọi nỗ lực nhằm kế tục và phát huy truyền thống cổ điển.

Johannes Brahms có lẽ là người duy nhất dám chống lại trường phái Weimar, dám bỏ ngoài tai những vận động cấp tiến cuồng nhiệt và đầy sức nặng lý luận của Wagner. Brahms, nhà soạn nhạc bản lĩnh nhất thế kỷ 19, đã quyết định sáng tác những bản giao hưởng với hình thức kế thừa sâu sắc các truyền thống từ thời Bach, Mozart và Beethoven. Thành công của ông đã trở thành tấm gương lớn để nhiều nhà soạn nhạc cùng thời nhận ra được những sai lầm chủ quan, tùy tiện, mơ hồ, ngộ nhận và thiếu chính xác về hình thức, nảy sinh từ tính xu thời cấp tiến của họ.
Bốn bản giao hưởng của Brahms toát lên phẩm chất anh hùng, cao thượng, tự trọng, điềm đạm và tính chất suy tư minh triết. Brahms cũng cất giấu trong các tác phẩm của ông niềm xúc động lãng mạn chủ nghĩa, tình cảm mãnh liệt, chân thành và cả sự nâng niu trìu mến trong tình yêu với thiên nhiên, con người. Brahms đã luôn xây dựng cho âm nhạc của ông cái vỏ bọc duy lý, khắt khe, cứng rắn và nghiêm trang. Nhưng vỏ bọc ấy dường như là để cố che giấu đi phần yếu đuối của tâm hồn người nghệ sỹ.
Brahms đã bắt đầu sáng tác một bản giao hưởng từ năm 1854, nhưng cuối cùng thì nó lại trở thành bản Concerto cho Piano số 1 của ông. Sang đầu thập kỷ 1860, Brahms lại bắt đầu lại từ đầu những nỗ lực sáng tác giao hưởng. Công việc này đối với Brahms đòi hỏi sự bền bỉ và khắt khe đến mức mãi đến năm 1873 giám đốc nhà xuất bản Fritz Simrock đã phải sốt ruột hỏi Brahms: "Chẳng nhẽ ông không sáng tác gì nữa sao? Liệu tôi có thể có một bản giao hưởng của ông trong năm nay được không?" Có lẽ ông giám đốc đã không quan tâm đến một thực tế là Brahms bị ám ảnh bởi cái bóng quá lớn của Beethoven. Một năm trước đó, chính Brahms đã từng nói: "Tôi sẽ không bao giờ viết giao hưởng. Tôi không thể nảy ra ý tưởng nào cả khi luôn phải nghe thấy những bước chân của một người khổng lồ ở ngay sau lưng mình".
Hồi năm 1862, Brahms đã có gửi cho Clara Schumann phác thảo chương một bản giao hưởng đầu tiên của ông. Nhưng mãi đến mười bốn năm sau đó, ngày 4/10/1876, bản Giao hưởng số 1 giọng Đô thứ của Brahms mới được trình diễn lần đầu tiên ở Karlsruke (Baden). Vì sao Brahms lại chọn Karlsruke chứ không phải Vienna, thành phố ông đang sống? Brahms là con người thận trọng và suy nghĩ thấu đáo. Thành Vienna vốn là nơi tôn thờ Beethoven và có nhiều nhà phê bình khắt khe. Việc sáng tác một giao hưởng theo kiểu âm nhạc thuần túy như của Brahms là rất mạo hiểm. Nó chắc chắn sẽ phải thách thức lớn trong sự so sánh với các kiệt tác của Beethoven. Thêm vào đó, Brahms có quá nhiều đối thủ mạnh đi theo trào lưu âm nhạc chương trình, họ sẵn sàng tấn công, phê phán ồ ạt và thậm chí thẳng tay bác bỏ bất cứ tác phẩm âm nhạc phi chương trình nào mới ra đời.
Lần trình diễn đầu tiên khá thành công, chỉ có một ý kiến tỏ ra không hài lòng lắm. Nhưng ý kiến đó lại chính là của Brahms, ông nói rằng bản giao hưởng mới này "hơi dài và không êm tai cho lắm". Tuy nhiên, Giao hưởng Đô thứ thực sự là một "cây to mọc chậm". Nó là thành quả xuất sắc của trí tuệ thiên tài và quá trình lao động nghệ thuật bền bỉ. Hans von Bülow (học trò của Liszt) vốn là người của trường phái Weimar nhưng đã bị âm nhạc Brahms thuyết phục và chuyển sang ủng hộ Brahms. Chính Bülow đã gọi Giao hưởng Đô thứ là "Giao hưởng số 10" của Beethoven, đặt nó ngang hàng với những đỉnh cao nhất của truyền thống cổ điển.
Chương 1 (Un poco sostenuto – Allegro – meno Allegro) được mở đầu hùng vĩ và căng thẳng cao độ. Âm nhạc chuyển mình theo một giai điệu gian truân nhưng đầy quả cảm và thống thiết của bè dây. Chương nhạc không thuần tuý là hình thức sonata allegro vẫn phổ biến trong giao hưởng cổ điển mà được thiết kế quy mô hơn, hòa âm phong phú và đồ sộ hơn.
Chương 2 (Andante sostenuto) là phần tâm hồn vừa hiền hậu vừa trữ tình say đắm của Brahms. Âm nhạc đi từ bình thản đến niềm xúc động da diết. Đôi khi, cả dàn nhạc dừng lại để nhường chỗ cho những đoạn độc tấu thanh tao, trìu mến của oboe và violin.
Chương 3 (Un poco Allegretto e grazioso), clarinet và bè dây lần lượt hát lên một giai điệu đồng quê thanh bình và rộng mở. Chương nhạc như một khúc intermezzo với những nét dịu dàng, trẻ trung đặc trưng của Brahms.
Chương 4 (Adagio – Più Andante – Allegro non troppo ma con brio – Più Allegro), có đoạn mở đầu, theo như lời của một nhà phê bình, "vẽ lên giới hạn cuối cùng của nỗi tuyệt vọng". Sắc thái này làm gợi lại kịch tính giao hưởng ở chương một. Hình thức ở đây được thiết kế khá phức tạp. Đoạn Adagio tạo bầu không khí bí ẩn. Bộ đồng và bộ gỗ diễn tấu một nhạc điệu chậm rãi và mờ đục như một khung cảnh trước lúc bình minh. Bước vào đoạn Allegro, một chủ đề anh hùng ca phóng khoáng vang lên làm thay đổi hoàn toàn sắc thái của chương nhạc. Nhiều nhà phân tích khẳng định rằng, Brahms có dụng ý xây dựng chủ đề này tương tự với chủ đề "hướng tới niềm vui" trong chương 4 Giao hưởng số 9 của Beethoven.
Khi có một số người đến gặp Brahms để "chỉ ra" cho ông thấy sự tương đồng này, Brahms đã có một câu trả lời hoàn toàn thích đáng: "Bất cứ kẻ ngu ngốc nào cũng nhận ra điều đó".

"Trong thời đại mà những làn sóng của chủ nghĩa lãng mạn tràn ngập châu Âu và biến chủ nghĩa cổ điển trở thành quá khứ, một bản giao hưởng đã vươn lên như một ngọn hải đăng giữa biển cả, khẳng định sức sống và sức phát triển lớn lao của truyền thống cổ điển. Johannes Brahms đã đứng trên ngọn hải đăng đó, hiên ngang trong chiếc áo khoác cũ sờn quen thuộc của ông, chiến đấu, bảo vệ và làm đẹp thêm truyền thống cổ điển của Mozart và Beethoven. Liệu Brahms có đơn giản là một nghệ sỹ cổ điển hay không, có phải là người sống ngoài thời đại hay không, hay thậm chí có phải là một người lỗi thời, lạc hậu theo như nhiều nghệ sỹ thù địch cùng thời vẫn chê bai ông hay không? Không, vấn đề hoàn toàn ngược lại. Brahms là một nghệ sỹ lãng mạn thực thụ, với những niềm đam mê thắm thiết nằm bên trong hình thức cổ điển. Brahms đã kìm nén và cố gắng giam giữ lại những cảm xúc xuất phát từ tâm hồn lãng mạn lớn lao của mình. Vì sao Brahms phải kìm nén như vậy? Ông có nhiều nỗi phẫn uất. Ông phẫn uất vì hết lần này đến lần khác người ta đã từ chối không cho một vị vua âm nhạc của thành Vienna như ông được làm nhạc trưởng tại thành phố Hamburg quê hương. Ông phẫn uất trước những định mệnh đã huỷ hoại Robert Schumann của ông, thần tượng thời tuổi trẻ của ông. Ông phẫn uất trước những thế lực, những rào cản vô hình đã ngăn cản ông, không cho ông có được tình yêu với một người phụ nữ, không cho ông có được niềm hạnh phúc gia đình, có được những đứa con - Brahms yêu những đứa trẻ biết bao! Và còn nhiều điều nữa ở con người Brahms mà chúng ta không biết, chúng ta chỉ có thể đoán. Tôi tin rằng, trong sâu thẳm con người ông đã nảy sinh một sự cần thiết phải kìm nén, Brahms đủ thiên tài để trở thành nhà tâm lý cho chính mình, dĩ nhiên là một cách vô thức. Brahms đã tự đặt mình trong vị trí người bảo vệ trật tự âm nhạc trong một thời đại lãng mạn đầy phóng túng. Nhưng cái mà ông đang thực sự bảo vệ lại là những xúc động của chính mình, những xúc động đó tạo ra những xung đột mà bất cứ lúc nào chúng cũng có thể làm ông bật khóc. Sự tự kìm nén có lẽ đã cứu cuộc đời ông, đã giữ lại cho ông sự sáng suốt, minh mẫn, triết lý và trí tuệ". Leonard Bernstein



Trần Trung
(Tạp chí Tia Sáng) (http://www.tiasang.com.vn/news?id=1454)

Wal
25-03-2008, 08:33
Johannes Brahms và bản Giao hưởng "Đồng quê"


Với sự thành công của Giao hưởng số 1, Brahms bắt đầu thoát khỏi nỗi e sợ và dè dặt đối với hình bóng vĩ đại của Beethoven. Dường như để tự thưởng cho mình, Brahms đã đến nghỉ hè ở ngôi làng Portschach, một miền quê xinh đẹp của nước Áo nằm bên dãy Alps hùng vĩ. Ở đây, thả hồn vào những cảnh thiên nhiên đẹp như trong mộng, Brahms đã viết bản Giao hưởng số 2, một trong những tác phẩm ưu tú nhất của ông. Nó được mọi người đặt cho cái tên đầy trìu mến: "Giao hưởng đồng quê".

http://www.tiasang.com.vn/images/upload/temp_image/2007/8/2/resized_674ca09e00.gif

Khi ấy, theo như lời của Brahms: “có rất nhiều giai điệu du dương đang bay xung quanh tôi, và tôi phải rất cẩn thận để không dẫm lên chúng.” Sự thoải mái và bừng tỉnh của tâm hồn đã giúp ông viết xong Giao hưởng số 2 chỉ trong mùa hè năm 1877. Có lẽ vì đang rất hứng khởi với việc hoàn thành tác phẩm, ông đã nói đùa với các bạn rằng, Giao hưởng số 2 là một tác phẩm rất u buồn. Ông còn trả lời một phóng viên là dàn nhạc sẽ phải “đeo khăn tang” khi trình diễn tác phẩm này. Thậm chí, khi viết thư cho người mà mình yêu mến nhất, nữ nghệ sỹ piano Clara Schumann, Brahms cũng mô tả chương một của bản giao hưởng như một chương nhạc đầy bi thương.
Thực ra, Giao hưởng số 2 giọng Rê trưởng là một trong những tác phẩm tươi sáng và duyên dáng nhất của Brahms. Lần trình diễn đầu tiên được thực hiện bởi nhạc trưởng Hans Richter ở Vienna ngày 30/12/1887 đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt, các nhà phê bình đã hoàn toàn bất ngờ về bản giao hưởng. Thậm chí có một nhà phê bình của thành Vienna còn tỏ ra phàn nàn vì tác phẩm này quá... đáng yêu: “Chúng tôi mong đợi ở âm nhạc Brahms một cái gì đó khác, chứ không phải chỉ đơn giản là đẹp”. Tuy Giao hưởng số 2 chiếm được cảm tình của đông đảo người dân thành Vienna nhưng một số người thù địch vẫn cố tìm cách hạ thấp Brahms. Họ viện cớ rằng, hai trong số bốn chương của bản giao hưởng đều được viết theo nhịp Valse, vì thế dân thành Vienna đương nhiên là thích, vì đó là điệu nhảy hàng ngày của họ.
Nhưng sự thật là, Giao hưởng số 2 đâu chỉ có đẹp và đáng yêu như những điệu Valse, nó còn mang tầm vóc của một kiệt tác giao hưởng, một sức sáng tạo ở mức thiên tài. Nó thể hiện sự tinh tế và thông minh tuyệt vời của Brahms trong cách phối dàn nhạc cũng như cách tạo ra những biến tấu bất tận từ một vài chủ đề ban đầu.
Sự biến chuyển sắc thái từ Giao hưởng số 1 sang Giao hưởng số 2 của Brahms giống với sự biến chuyển từ Giao hưởng số 5 sang Giao hưởng số 6 của Beethoven. Tuy nhiên, ít khi người ta nhắc đến sự tương đồng giữa Giao hưởng số 6 của Beethoven và Giao hưởng số 2 của Brahms, ngay cả khi chúng đều được gắn với cái tên “đồng quê”. (“pastoral”). Thay vào đó, nhiều người cho rằng, Giao hưởng số 2 có thể được so sánh với Giao hưởng số 7 của Beethoven – một tác phẩm vẫn được gọi là giao hưởng “vũ khúc.”
Chương 1, Allegro non troppo, gợi nên vẻ mộc mạc và thanh bình của cảnh đồng quê. Sau những nốt nhạc mở đầu hơi kín đáo của bè cello và contrebass, kèn co đi vào chủ đề một, thanh thản và mềm mại. Không khí tràn ngập những tuyến giai điệu đan xen, nối tiếp nhau bởi đàn dây và những cây kèn gỗ, tạo ra khung cảnh thiên nhiên tươi tắn, với ánh sáng dịu dàng và chan hòa. Chủ đề hai đầy ngọt ngào và duyên dáng, được bè cello và viola diễn tấu, nó giống như một lời hát ru đầy âu yếm, nâng niu đối với những vẻ đẹp cuộc sống. Âm nhạc chuyển động như một điệu Valse chậm, sự tương phản giữa các chủ đề không hiện lên rõ rệt. Tính tương phản yếu khiến việc phát triển giao hưởng không thuận lợi. Nhưng Brahms đã khai thác một cách tài tình sức mạnh vận động bên trong của các chủ đề, phát triển chúng thành những chủ thể giao hưởng có tầm vóc và giàu biểu cảm.
Chương 2, Adagio non troppo, âm nhạc trở nên đi sâu vào nội tâm, bộc bạch những suy tưởng sâu lắng nhưng không hề bi quan. Chúng ta có thể để ý thấy những cây kèn gỗ hát lên một chủ đề đã được đảo phách trên nền đệm pizzicato của đàn cello. Đây là một chương nhạc khéo léo về màu sắc, chiều sâu của các bóng và sự tinh tế của chi tiết có thể khiến chúng ta liên tưởng đến những bức họa chân dung của danh họa Hà Lan Rembrandt.
Kèn oboe hát lên một giai điệu dân gian để mở đầu chương 3, Allegretto grazioso. Đó là điệu landler, điệu nhảy dân gian Đức Áo, đáng yêu, hồn nhiên và thi vị. Nhịp điệu được thay đổi không ngừng, khi thì thướt tha lịch lãm như thành Vienna cổ kính, khi lại sôi nổi đỏng đảnh theo phong cách Hungari. Tất cả được xây dựng nên trên nền tiếng hát đồng quê của kèn oboe và tiếng pizzicato của bè dây. Ở đây, theo như lời Leonard Bernstein, "Sự tuyệt vời của Brahms là ở chỗ, âm nhạc của ông không thay đổi một cách đơn giản, mà nó thay đổi một cách đẹp đẽ, có tình có lý. Trong rất nhiều cách phát triển âm nhạc, Brahms đã tìm được cách thích hợp nhất, để âm nhạc luôn tạo nên cảm xúc, sự đồng cảm tha thiết. Chỉ có những bậc thiên tài như Brahms mới làm được điều đó".
Chương 4, Allegro con spirito, được mở đầu theo phong cách thường thấy của Brahms, giai điệu hơi bí ẩn và có phần xen lẫn giữa niềm vui và sự lo âu. Nhưng chẳng mấy chốc âm nhạc đã trở nên bừng sáng và năng động. Có vài ba nhịp điệu luân phiên nhau, tạo ra một cảnh tượng sôi nổi của ngày hội hóa trang dân gian đầy sự hồn nhiên, tinh nghịch và vui nhộn. Tất cả mọi sự vật được đánh thức bởi những trọng âm bùng nổ của dàn nhạc, mở màn cho những bản anh hùng ca và khúc khải hoàn, gợi nhớ đến Beethoven.

Đã từng có nghiên cứu cho rằng, âm nhạc của Brahms mang một sự gắn bó đặc biệt với những cảnh thiên nhiên và cuộc sống ở vùng núi. Điều đó có thể thấy được qua tính chất hùng vĩ trong những giao hưởng của ông. Và ở nhiều tác phẩm viết cho dàn nhạc của Brahms, chúng ta cũng cảm nhận thấy những âm thanh thâm trầm, vang vọng của kèn co và tuba, trải dài từ đỉnh núi xuống thung lũng thanh bình, chìm trong màn sương ẩm ướt và những tia nắng ấm áp, nên thơ. Tâm hồn yêu thiên nhiên của Brahms đủ rộng lớn để ôm trọn tất cả những phong cảnh trên những đất nước thuộc vùng núi Alps, với tất cả tình cảm yêu mến, hòa đồng đối với sự bình dị, thân thuộc, vui tươi của đời sống sinh hoạt và văn hóa dân gian Đức Áo. Ông cũng dành một tình yêu tôn thờ và trang nghiêm đối với hình ảnh thành Vienna cổ xưa, nơi hội tụ những tinh tuý của lịch sử văn hóa Trung Âu. Những điều đó, ở một mức sâu sắc, được chứa đựng trong Giao hưởng số 2 của Brahms. Ông đã kế thừa và phát huy tính phức điệu thiêng liêng của Bach, tính trí tuệ quả cảm của Beethoven, sự duyên dáng, trẻ trung, trong sáng của Haydn, Mozart. Đặc biệt, chúng ta có thể nhận thấy một tâm hồn lãng mạn của riêng Brahms, sự trữ tình triết lý của riêng Brahms. Và ở đây, Brahms đã làm được điều mà Bach, Mozart, Beethoven đã làm, đó là tìm ra trong thời đại của mình những con đường để vươn tới Chân - Thiện - Mỹ.

Trần Trung

(Tạp chí Tia Sáng) (http://www.tiasang.com.vn/news?id=1799)

---------------
DOWNLOAD:
Symphony No.3 in D Major, Op.73
Conductor: Bernard Haitink
London Symphony Orchestra
Symphony No. 2 in D Major, Op. 73: I. Allegro non troppo (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD2/Track04.mp3)
Symphony No. 2 in D Major, Op. 73: II. Adagio non troppo (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD2/Track05.mp3)
Symphony No. 2 in D Major, Op. 73: III. Allegretto grazioso (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD2/Track06.mp3)
Symphony No. 2 In D Major, Op. 73: IV. Allegro con spirito (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD2/Track07.mp3)

Lake of Tears
27-03-2008, 02:56
ANh Wal xin phép bản quyền của chị Triomphe bên TVN rồi copy những bài đó qua đây đi, em rất thích những bài chị Triomphe viết bên đó, ngoài ra thì có 1 số bài của anh ttdungquantum trên tia sáng cũng là những bài viết rất hay

Wal
27-03-2008, 03:09
Ồ, chị đồng ý rồi em à, an tâm đi! Có điều kiếm đâu ra tác phẩm (phần nhạc) để giới thiệu cho người nghe vừa đọc vừa thưởng thức, đó mới là cái khó cơ :)! Nên từ từ sẽ cố gắng post đầy đủ cả!

Wal
28-03-2008, 13:24
Martha Argerich –tiếng sấm trên phím đàn

http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2007/12/4/b40d1e1de4.jpg



Năm 1980, ở thủ đô Warsaw (Ba Lan), một “quả bom tấn” đã nổ ra tại International Frederick Chopin piano competition. Lần đầu tiên trong lịch sử tổ chức của cuộc thi piano uy tín hàng đầu thế giới xảy ra chuyện bất đồng chính kiến dữ dội giữa nội bộ ban giám khảo. Martha Argerich, một thành viên của ban giám khảo đã giận dữ bỏ về giữa chừng để bảo vệ đến cùng sự lựa chọn của mình. Bà không chấp nhận nổi việc một tài năng piano trẻ là Ivo Pogorelic (Croatia) gây ấn tượng mạnh với bà lại bị loại ở vòng ba.

Không phải đến khi “scandal” nổ ra, người ta mới biết đến nét quyết liệt và ngạo ngược trong tính cách của Martha Argerich. Nữ nghệ sỹ người Argentine này luôn bộc lộ sự khác biệt so với nhiều pianist tài năng khác cùng thời. Bà chỉ ghi âm và biểu diễn những tác phẩm mình yêu thích và vì thế, người ta cho rằng, bà hầu như là pianist duy nhất có khả năng đặt điều kiện cho thị trường âm nhạc. Có thể nhiều người khó chịu, thậm chí không chịu đựng nổi sự khác người của Martha Argerich nhưng đến khi lắng nghe bà trình diễn, tất cả đều bị chinh phục bởi nét độc đáo đến phi thường trong tiếng đàn của bà. Đến nay, Martha Argerich vẫn là một trong những nghệ sỹ hiếm hoi được so sánh với những pianist vĩ đại trong lịch sử với những bản thu âm các tác phẩm của Bach, Bartok, Beethoven, Brahms, Chopin, Falla, Franck, Hayden, Liszt, Paganini, Prokofiev, Rachmaninoff, Ravel, Schubert, Schumann và Tchaikovsky. Giới phê bình và cả người yêu nhạc cổ điển ngưỡng mộ các bản thu âm của Martha Argerich bởi chưa bao giờ họ thấy thiếu dấu ấn của tài năng trong đó. "Bất kỳ bản thu âm nào của Martha Argerich cũng đều đẹp như những viên ngọc quý," nhà phê bình âm nhạc Allen Linkowski đã viết trên tờ American Record Guide như vậy.
Người ta thường so sánh bà với bậc thầy Vladimir Horowitz khi nhận ra sự tương đồng đến kinh ngạc về phong cách. Giống như Vladimir Horowitz, tiếng đàn của Martha Argerich luôn tràn đầy nguồn năng lượng không bao giờ vơi cạn và cả niềm xúc cảm mạnh mẽ. Bản thân Martha Argerich có thích thú với sự so sánh này không thì ít ai đoán biết được nhưng rõ ràng, Martha Argerich hết sức ngưỡng mộ vị phù thủy của cây đàn piano Vladimir Horowitz. Vì thế, lần đầu tiên được dự buổi hòa nhạc của Vladimir Horowitz vào tháng giêng năm 1987 đã để lại dấu ấn kỷ niệm không thể nào quên của bà. Tình cờ, đó cũng là buổi hòa nhạc đáng nhớ trong sự nghiệp của Vladimir Horowitz: sau 25 năm, ông mới biểu diễn cùng dàn nhạc. Ấn tượng về nghệ thuật biểu diễn của pianist huyền thoại, Martha Argerich đã tâm sự với bạn bè: “Sức mạnh biểu hiện trong những chùm âm thanh và cảm xúc mãnh liệt lạ thường từ nội tâm của Horowizt hết sức khủng khiếp. Tốc độ di chuyển trên các phím đàn của ông không thể tưởng tượng nổi. Và ông hoàn toàn làm chủ được tất cả. Tôi đã biết rất nhiều về nghệ thuật trình diễn của ông nhưng đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được nhìn thấy ông trên sân khấu, được chứng kiến những gì người ta viết về ông đều là sự thật”. Lúc đó, Martha Argerich không ngờ rằng, sau này, các nhà phê bình âm nhạc lại so sánh bà với Vladimir Horowitz huyền thoại. Nhà phê bình Bob Cowan đã bình luận về buổi biểu diễn của bà tại Suminda Triphony Hall (Tokyo, Nhật Bản): “Argerich đã tạo ra những tiếng sấm trên phím đàn như Vladimir Horowitz đã từng làm cách đây 22 năm tại Carnegie Hall”. Sức mạnh kỳ diệu trong tiếng đàn Martha Argerich đã khiến nhiều người lầm tưởng đó là tiếng đàn của một nam nghệ sỹ. Sau khi lắng nghe Martha Argerich chơi qua sóng radio, bản thân Horowizt từng nhầm lẫn như vậy và tỏ ra vô cùng ngạc nhiên khi được biết sự thật. Giới phê bình âm nhạc thường so sánh bà và Maurizio Pollini, một nghệ sỹ piano xuất sắc, là cặp Tebaldi - Callas của cây đàn piano. Nghệ sỹ violon Gidon Kremer, một trong những người bạn thân thiết của Martha Argerich, đã từng trả lời câu hỏi “Ông có sợ hãi khi trình tấu cùng một phụ nữ chơi pinano với cánh tay của đàn ông không?” bằng một câu ngắn gọn: “Không bao giờ, bởi tôi có trái tim của một phụ nữ”.

“Argerich đã tạo ra những tiếng sấm trên phím đàn như Vladimir Horowitz đã từng làm cách đây 22 năm tại Carnegie Hall”.
Nhà phê bình Bob Cowan

Để trở thành một nghệ sỹ nổi tiếng, Martha Argerich đã phải trải qua quá trình tập luyện hết sức khắc nghiệt từ lúc hơn 2 tuổi. Sau này, bà kể lại “Tôi không có nhiều thời gian chơi đùa như bất kỳ đứa trẻ nào”. Thầy giáo đầu tiên của Martha Argerich là Scaramuzzo, người sau này đã giúp đỡ cô bé 10 tuổi theo học nhiều nhân vật nổi tiếng. Đó là những người thầy ảnh hưởng đến con người nghệ sỹ của Martha Argerich như vợ Dinu Lipatti, Nikita Magaloff, Arturo Benedetti Michelangeli và đặc biệt là Friedrich Guida. Sau khi lắng nghe Martha Argerich chơi Bach và Schubert, Friedrich Guida mới quyết định nhận học trò. Theo học Friedrich Guida khi mới 12 tuổi, Argerich không chỉ phải rời Buenos Aires tới Vienna mà còn gặp thêm nhiều khó khăn về tài chính và cả vấn đề ngôn ngữ. Bố mẹ Martha Argerich không giàu có nhưng may mắn vận động được Đại sứ quán Argentina tại Vienna hỗ trợ kinh phí. Tuy vậy, khó khăn tiếp theo Martha Argerich gặp phải là ông thầy chỉ nói được tiếng Đức còn cô học trò lại chỉ biết tiếng Tây Ban Nha. Không có thứ ngôn ngữ trung gian nào, cả hai đều chọn giải pháp tốt nhất là bằng chính âm nhạc. Guida thường gọi thứ giao tiếp này là “chủ nghĩa lãng mạn”. Martha Argerich kể về buổi học đầu tiên tại Vienna (Áo): “Thầy Guida đã cố gắng truyền đạt về cảm xúc trong âm nhạc cho tôi nhưng lại không tìm được từ nào. Vì thế, ông đã túm lấy tôi và kéo vào nhà tắm, nhặt lên một miếng bọt biển đẫm nước rồi thấm lên mặt mình. Chỉ vào gương mặt đẫm nước của mình, ông ấy đã nói “Như vậy đấy, như vậy đấy!”. Điều khiến Martha Argerich cảm thấy thoải mái là Friedrich Guida luôn tạo không khí dân chủ giữa hai thầy trò và bà biết rằng, mình hết sức may mắn khi được thụ giáo người thầy như vậy. Chính Friedrich Guida thường tin rằng một nghệ sỹ ngoài tài năng cần phải có đôi chút ngạo mạn hoặc sự kiêu hãnh trong phong cách để đánh thức khán giả. Martha Argerich, người học trò xuất sắc của Friedrich Guida, dường như có đủ những nét tính cách ấy.
Sự độc đáo trong tính cách của Martha Argerich không chỉ ảnh hưởng đến phong cách trình tấu piano mà còn đến cuộc sống riêng tư. Martha Argerich đã trải qua ba cuộc hôn nhân và hai trong ba cuộc hôn nhân, vị hôn phu của bà đều là những người nổi tiếng của giới âm nhạc. Martha Argerich đã kết hôn lần thứ hai với nhạc trưởng Thuỵ Sỹ Charles Dutoit và có nhiều buổi biểu diễn lẫn thu âm cùng nhau. Người chồng thứ ba của bà là pianist kiêm nhạc trưởng người Mỹ Stephen Kovacevich.


Ngọc Anh
(Tạp chí tia sáng) (http://www.tiasang.com.vn/news?id=2250)

------------
Còn đây là một vài bản thu âm của Argerich:
Chopin : Piano Concerto No.1 & Liszt: Piano Concerto No.1 (http://www.classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=9444&postcount=65)
(Album được đánh giá khá cao, nhất là bản Piano Concerto No.1 của Chopin.)

Chopin: Klavierkonzert Nr.2; Ponolaise-Fantaisie A dur; Drei Mazurken op.59:
Argerich, Rostropovich (http://classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=11120&postcount=423)

Còn album này thì tôi vẫn thường hay nghe:
Mozart: Piano Concertos No.21 & 27 & Schubert: Fantasie (http://www.classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=9447&postcount=67)

Bach: Partita No.2 - Argerich (http://www.classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=10064&postcount=252)
Bach: Toccata BWV911, Partita2 BWV826, English Suite 2, BWV807 - Martha Argerich (http://classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=11405&postcount=477)

Wal
28-03-2008, 13:36
Edvard Grieg



http://www.tiasang.com.vn/images/upload/temp_image/2007/11/19/resized_8f772186d1.jpg

“Những nhạc sỹ như Bach hay Beethoven đã tạo dựng nên những đền đài vĩ đại của nghệ thuật. Còn tôi, tôi chỉ muốn xây những căn nhà cho người dân của tôi ở, và họ sẽ cảm thấy hạnh phúc và thoải mái vì được sống trong chính ngôi nhà của mình”.

Câu nói của Edvard Grieg cũng mộc mạc và dung dị như chính âm nhạc của ông- Nhà soạn nhạc Na Uy đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng, được yêu thích trên toàn thế giới như: Concerto cho Piano giọng La thứ, Tổ khúc giao hưởng Peer Gynt, Sonata cho Violin và Piano, Tổ khúc Holberg, tiểu phẩm cho dàn nhạc mang tên Mùa xuân cuối cùng....
Edvard Grieg sinh ngày 15 tháng 6 năm 1843 ở Bergen, Na Uy. Sự nghiệp của Grieg bắt đầu từ mùa thu năm 1858, khi mới 15 tuổi, cậu đến học âm nhạc ở nhạc viện Leipzic. Thầy giáo của cậu, E.F. Wenzel là một trong những nhà sư phạm âm nhạc danh tiếng nhất châu Âu. Bốn năm sau, cậu rời nhạc viện, chính thức trở thành nhạc công và nhà soạn nhạc. Sau đó, Grieg sống ở Copenhagen, được sự chỉ bảo và khuyến khích của nhà soạn nhạc Đan Mạch nổi tiếng Niels W. Gade, Grieg đã sáng tác một bản giao hưởng đầu tay. Tác phẩm được trình diễn vài lần, nhưng sau này Grieg đã không chấp nhận nó, ông đã viết vào tổng phổ của bản giao hưởng là: “Đừng bao giờ trình diễn”. Tuy nhiên, vài năm sau, bản giao hưởng lại được trình diễn, và về sau nó còn được thu âm nữa. Harald Herresthal, giáo sư thuộc viện hàn lâm âm nhạc Oslo viết rằng: “Chẳng có gì phải ngượng ngùng về tác phẩm này cả, nó đem lại cho thính giả ngày nay một cái nhìn rộng hơn về quá trình phát triển âm nhạc và nghệ thuật của Grieg”.
http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2007/11/19/244e9282e1.jpg
Ngôi nhà của Edvard Grieg
Bản giao hưởng này đã đánh dấu sự phát triển về kỹ năng và kỹ thuật sáng tác của Grieg. Những tác phẩm tiếp theo, bản Sonata cho Piano và Sonata cho Violin và Piano Op.8 viết năm 1865 đã được giới chuyên môn đánh giá rất cao và chúng cũng được xếp vào danh sách các tác phẩm nổi bật của Grieg.
Ban đầu, Grieg còn chịu ảnh hưởng của âm nhạc lãng mạn Đức, nhưng ý thức dân tộc đã lớn dần trong ông, và ông nhận ra rằng, cần phải phát triển một phong cách âm nhạc điển hình của Na Uy. Ở Copenhagen, Grieg đã gặp người đồng hương Rikard Nordraak (1842-1866), một nhà soạn nhạc theo chủ nghĩa yêu nước, sử dụng âm nhạc dân gian Na Uy là chất liệu chính để sáng tác. Tuy Nordraak không đạt đến trình độ như Grieg nhưng đã mở ra một con đường đầy triển vọng cho sự phát triển âm nhạc dân tộc.
Khi Grieg định cư ở Christiania (bây giờ là Oslo) năm 1866, ông cũng chịu ảnh hưởng của Otto Winter Hjelm (1837-1931), nhà soạn nhạc này đã thấy rõ được phương pháp để biến những giai điệu dân tộc thành âm nhạc ở trình độ cao. Cũng cần phải nhắc đến một nhân vật nữa, đó là Ludvig Mathias Lindeman, người này có cả một bộ sưu tập các giai điệu dân gian Na Uy, đó là nền tảng quan trọng cho sự phát triển âm nhạc của Grieg.
Với mong muốn được sống như một nhạc sỹ ở Na Uy, ban đầu, Grieg chủ yếu là chơi piano và dạy nhạc ở Oslo. Chỉ vào thời gian nghỉ hè, Grieg mới sáng tác, nhưng vào những năm này, ông đã bộc lộ một khả năng làm việc rất say mê. Mùa thu năm 1868, Grieg hoàn thành tác phẩm trứ danh đầu tiên của ông, bản Concerto cho Piano giọng La thứ. Tác phẩm này nổi tiếng đến mức, có những lúc nó còn đại diện cho cả đất nước Na Uy. Mặc dù vẫn mang khuôn mẫu và hình thức chung của âm nhạc châu Âu, nhưng Grieg đã rất thành công khi đưa vào bản Concerto những yếu tố của âm nhạc dân gian Na Uy cùng với những hình ảnh đặc trưng về thiên nhiên và con người Na Uy qua cái nhìn trìu mến của nhà soạn nhạc. Phong cách của ông đã trở nên đồng nhất với tâm hồn âm nhạc Na Uy.


“Âm nhạc của Grieg giàu chất thương cảm đắm đuối, mang trong mình vẻ đẹp của thiên nhiên Na Uy, khi thì ảm đạm, khiêm nhường, khi thì hùng vĩ, tráng lệ, có một sức quyến rũ không tả xiết, và luôn tìm thấy trong mỗi chúng ta một lời đáp đồng tình nồng nhiệt”.

P. Tchaikovsky


Tài năng và cảm hứng sáng tác của Grieg được lớn lên qua những hình ảnh, âm thanh của phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người xung quanh ông. Người viết tiểu sử đầu tiên của Grieg, Aimer Gronvold đã kể rằng Grieg có một căn lều gỗ ở gần vịnh Lofthus, ông vẫn đến sống ở đó vào mùa hè, đôi khi cả mùa đông nữa, để tìm kiếm sự yên tĩnh và thanh bình phục vụ cho công việc sáng tác. Giữa cái sân khấu hùng vĩ và khoáng đạt của tự nhiên, Grieg đặt một cây đàn piano và bàn viết, ông chơi nhạc giữa núi rừng, giữa muông thú, âm nhạc của ông đến từ những tình cảm sâu sắc nhất về làng quê nông thôn Na Uy. Gronvold đã kết luận rằng “Có một mối quan hệ thắm thiết và không giải thích được giữa những mảnh đất Grieg đã sống và âm nhạc mà ông tạo ra”. Khi nghe nhạc của Grieg, ta có thể cảm nhận thấy những ánh nắng ấm áp, những hơi thở tươi mát của làn nước trong xanh, sự ẩn hiện của những dòng sông băng lấp lánh, vẻ hùng vĩ của những dãy núi đá dựng đứng và cuộc sống thanh bình, êm ả bên bờ vịnh của mảnh đất miền Tây Na Uy, nơi Grieg đã sinh ra và suốt đời yêu mến nó.
Đằng sau hình ảnh lãng mạn và thanh thản về một nhà soạn nhạc, trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, Grieg cũng phải luôn luôn phấn đấu, làm việc miệt mài, cật lực, chịu đựng khó khăn và vượt qua những thất bại. Hồi còn học ở Đức, ông đã phải chống chọi với căn bệnh viêm màng phổi nghiêm trọng và dai dẳng. Vào những năm 1860, ông đã vừa làm nhạc trưởng, vừa dạy nhạc, vừa biểu diễn để kiếm sống và gánh vác gia đình. Sự lo toan về kinh tế chỉ chấm dứt khi ông được chính phủ Na Uy trợ cấp suốt đời, giúp ông chuyên tâm sáng tác. Việc từ chối đi theo trường phái Mendelssohn, được coi là trường phái lãng mạn chính thống, để đi theo khuynh hướng dân tộc cũng đã gây cho Grieg những khó khăn trên con đường khẳng định tiếng nói âm nhạc của mình. Ban đầu, âm nhạc của ông tỏ ra lạc lõng và thiếu chính thống trong môi trường âm nhạc châu Âu. Âm nhạc của ông được nhìn nhận là đơn giản, cho nên 10 tuyển tập các tiểu phẩm trữ tình viết cho piano của ông bấy giờ đã chỉ được người châu Âu ưa thích như những tác phẩm biểu diễn ở nhà. Cũng có thể coi là một niềm an ủi đối với Grieg khi người ta gọi ông là “Chopin của Bắc Âu”. Có lẽ bước ngoặt lớn nhất trong sự nghiệp sáng tác của Grieg là khi Henrik Ibsen mời ông viết nhạc cho vở “Peer Gynt”. Đây không phải là công việc dễ dàng đối với Grieg, nhưng phần âm nhạc mà ông viết nên đã trở thành tác phẩm nổi bật nhất trong những năm 1870.

Grieg đã vẽ tranh với những nốt nhạc, ông vẽ con người, cảnh vật, và những tâm hồn Na Uy. Trong Tổ khúc Peer Gynt bất hủ, Grieg đã nắm bắt được ánh ban mai của mặt trời, sự than khóc của cái chết, và hình ảnh của một buổi đi săn trong “Hang động của Vua Núi”. Các tác phẩm của ông chứa đựng cái mà ngày người ta gọi là “những giai điệu”. Khi Grieg và vợ ông, Nina, dạo qua những con phố ở Bergen, những đứa trẻ đi theo họ ở đằng sau, chúng huýt sáo những giai điệu này, để tỏ lòng ngưỡng mộ đối với một nhà soạn nhạc vĩ đại. Trong những thế kỷ sau này, chắc chắn những bản nhạc của Grieg sẽ vẫn tiếp tục được người ta huýt sáo và ngân nga cũng như được trình diễn bởi những dàn nhạc danh tiếng trên toàn thế giới.


Năm 1874, Grieg được nhận giải thưởng trợ cấp để chuyên tâm sáng tác, ông trở về nhà ở Bergen. Không còn phải lo toan về kinh tế, Grieg tiếp tục hoàn thiện và nâng cao trình độ sáng tác của mình. Hai tác phẩm đầy tham vọng là Ballad giọng Sol thứ cho piano và tứ tấu đàn dây được sáng tác vào thời gian này đã phản ánh sự quyết tâm của Grieg, muốn đạt đến sự hoàn hảo cả về hình thức lẫn nội dung. Trong những năm sau này, Grieg sáng tác chậm dần. Những tác phẩm cuối cùng của ông là những Vũ khúc Na Uy cho piano song tấu và tổ khúc Holberg nổi tiếng viết cho đàn dây. Từ 1880 đến 1882, Grieg chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Bergen, nhưng sau này, ông đã từ bỏ tất cả những chức vụ của mình.
Grieg đã có dự định tham dự Festival âm nhạc rất có uy tín ở Leeds, nhưng ông mất đột ngột vì bệnh tim vào ngày 4 tháng 9 năm 1907 tại quê nhà.


Ngọc Anh

------------
Đây là một vài album cũng như tác phẩm nổi tiếng của ông:
Peer Gynt Suite, Holberg Suite; Sibelius: Valse Triste - Karajan (http://www.classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=9444&postcount=65)
Grieg & Schumann: Piano Concertos - Leif Ove Andsnes, Mariss Jansons, Berlin Philharmonic Orchestra (http://www.classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=10909&postcount=383)

Wal
28-03-2008, 13:42
Tartini và bản Sonata Âm láy ma quỷ


http://www.tiasang.com.vn/images/upload/temp_image/2007/10/5/resized_d4f2f68e07.jpg


Có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất của Tartini là sonata giọng Sol thứ, thường được biết đến nhiều hơn với cái tên Sonata Âm láy ma quỷ, viết cho violon cùng phần đệm basso continuo. Rất nhiều giai thoại được dựng lên xung quanh cái tên và nguồn gốc ra đời tác phẩm. Nhưng giai thoại nào cũng cho rằng bản Sonata này khởi nguồn từ một giấc mơ.



Giuseppe Tartini sinh ngày 8 tháng 4 năm 1692 tại Pirano, một thị trấn nhỏ trên bán đảo Istria, thuộc Cộng hòa Venice (ngày nay là Piran, Slovenia). Cha mẹ ông dự tính tương lai cho con trai mình là trở thành một linh mục dòng Francis và nhờ thế Tartini đã được đào tạo âm nhạc cơ bản. Ông học luật tại Đại học Padua, nơi ông trở nên điêu luyện trong môn đấu kiếm. Sau cái chết của người cha năm 1710, ông kết hôn với một học trò của mình là Elisabetta Premazone. Mối quan hệ của ông với Elisabetta trước đây không được cha ông tán thành, phần vì cô ở tầng lớp dưới, phần vì sự khác biệt quá lớn về tuổi tác giữa hai người. Thật không may cho Tartini, Elisabetta cũng lọt vào mắt xanh của Cardinal Cornaro đầy quyền lực. Cornaro ngay lập tức buộc cho Tartini tội bắt cóc Elisabetta. Tartini phải trốn khỏi Padua tới tu viện Assini dòng Thánh Francis, nơi ông có thể thoát khỏi truy tố và tiếp tục chơi violon.
http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2007/10/5/9bd82bc5d7.jpg
Có một giai thoại kể rằng khi Tartini được nghe nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ violon Ý Francesco Maria Veracini (1690 - 1768) chơi đàn vào năm 1716, ông đã bị ấn tượng mạnh đến nỗi vì quá thất vọng với kĩ năng chơi đàn của chính mình, ông đã trốn đến Ancona và tự nhốt mình trong một căn phòng để luyện tập.
Kĩ năng chơi violon của Tartini được cải thiện một cách khác thường. Vào năm 1721 ông được bổ nhiệm vị trí Kapellmeister (chỉ huy dàn nhạc) tại Il Santo ở Padua, với một hợp đồng cho phép ông chơi đàn cho cả các tổ chức khác nữa nếu ông muốn. Ở Padua, ông đã gặp gỡ và kết thân với nhà soạn nhạc, nhà lý luận âm nhạc Francesco Antonio Vallotti (1697 - 1790).
Năm 1726, Tartini mở một trường dạy violon và đã thu hút được học viên từ khắp châu Âu. Dần dần ông cũng trở nên hứng thú với lý thuyết về hòa âm. Từ năm 1750 đến cuối đời, ông đã xuất bản nhiều chuyên luận âm nhạc.
Không như những nhà soạn nhạc cùng thời, Tartini không viết opera hay bất kỳ một thể loại âm nhạc nhà thờ nào. Là một nghệ sĩ violon nên hầu hết tác phẩm của Tartini được viết cho đàn violon. Ông đã viết hàng trăm trio sonata, sonata, concerto cho violon và các nhạc cụ khác. Trong các concerto, ông đi theo những nguyên tắc hình thức của Vivaldi nhưng viết nên thứ âm nhạc có thể phô diễn được kỹ thuật chơi đàn đỉnh cao của mình. Trong các bản sonata của ông, mọi chương nhạc đều ở cùng một giọng, hình thức nhịp đôi rõ ràng và chiếm ưu thế.
http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2007/10/5/8e2d812e5a.jpg
Violon và bao đàn của Giusepe Tartini
Các học giả và nhà biên tập gặp nhiều khó khăn khi nghiên cứu tác phẩm của Tartini vì ông không bao giờ đề ngày tháng sáng tác lên bản thảo. Thêm vào đó, ông cũng hay sửa chữa những tác phẩm đã được xuất bản hay được hoàn thành từ những năm trước. Điều này gây khó khăn cho việc xác định thời điểm tác phẩm được viết, sửa chữa cũng như việc xác định mức độ sửa chữa. Các học giả Minos Dounias và Paul Brainard đã cố chia các tác phẩm của Tartini thành hai giai đoạn, hoàn toàn dựa trên đặc trưng phong cách âm nhạc. Charles Burney (1726-1814) nhận xét rằng phong cách của Tartini thay đổi vào khoảng năm 1744 từ “cực khó chơi sang duyên dáng và diễn cảm”.
Có lẽ tác phẩm nổi tiếng nhất của Tartini là sonata giọng Sol thứ, thường được biết đến nhiều hơn với cái tên Sonata Âm láy ma quỷ, viết cho violon cùng phần đệm basso continuo. Đây là một tác phẩm nổi tiếng vì đòi hỏi không chỉ kỹ thuật chơi violon cực khó, ngay cả với thời nay, mà còn cả mức độ biểu cảm nội tâm sâu sắc - một của hiếm vào thời Tartini.
Sonata Âm láy ma quỷ được xuất bản lần đầu năm 1798, hai mươi tám năm sau khi tác giả qua đời. Rất nhiều giai thoại được dựng lên xung quanh cái tên và nguồn gốc ra đời tác phẩm. Nhưng giai thoại nào cũng cho rằng bảnSonata này khởi nguồn từ một giấc mơ.
http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2007/10/5/ef42aa03bf.jpg
Tượng Tartini ở Piran, Slovenia
Nào là trong một giấc mơ của Tartini khi ông ẩn náu tại tu viện Assini, quỷ sứ đã hiện lên ở chân giường ông và chơi một bản sonata. Lúc thức dậy, ông đã sáng tác một bản sonata cho đàn violon, mô phỏng tác phẩm mà ông đã nghe quỷ sứ chơi trong giấc mơ. Theo một giai thoại khác thì chính Tartini đã kể với nhà thiên văn học Jérôme Lalande rằng ông mơ thấy quỷ sứ hiện ra và đề nghị được làm người phục vụ ông. Cuối những bài học giữa họ, Tartini trao cho quỷ sứ cây đàn violon của mình và kiểm tra kĩ năng chơi của nó - ngay lập tức qủy sứ chơi đàn với một trình độ bậc thầy khiến Tartini như nghẹt thở. Khi Tartini thức dậy, ông lập tức chép lại bản sonata, cố gắng nắm bắt được những gì ông nghe được trong giấc mơ.
Phần lớn bản sonata mang những đặc trưng hoàn toàn theo thông lệ sonata thời bấy giờ. Tấn bi kịch nội tâm được thể hiện qua những giai điệu bóng bẩy, những nốt láy duyên dáng ngập tràn trong tác phẩm. Dường như một bức tranh mô tả nụ cười của một người con gái hồng nhan bạc phận đang hiện dần lên. Nụ cười tươi tắn không che giấu nổi nội tâm giằng xé: giữ gìn thiên lương hay buông mình cho quỷ sứ? Yếu tố âm nhạc liên quan đến cái tên của tác phẩm xuất hiện ở đoạn cadenza chói sáng gần cuối tác phẩm. Trong đoạn cadenza này, kĩ thuật láy/rung (trill) rất khó vì đòi hỏi người biểu diễn phải rung trên một dây đàn trong khi phải lướt nốt thật nhanh trên một dây khác. Ngay cả nghệ sĩ vĩ cầm có tiếng là Leopold Mozart (cha của Wolfgang Amadeus Mozart vĩ đại) cũng đánh giá: “những nét lướt đó đòi hỏi một kĩ xảo không xoàng”. Sau đoạn cadenza khá dài, bè basso continuo tham gia trở lại trong ít nhịp cuối cùng đầy kịch tính. Cao trào đấu tranh nội tâm vừa mới qua nhưng câu trả lời cuối cùng vẫn chưa hề xuất hiện.
http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2007/10/5/ebf58bff07.jpg
Tartini với nụ hôn của Quỷ - Tranh của
họa sĩ đương đại Valerio Adami
Tuy rất thành công khi biểu diễn Sonata Âm láy ma quỷ trước các thính giả của mình nhưng Tartini vẫn khẳng định: “còn thua xa so với những gì tôi đã được nghe” và “nếu tôi có thể kiếm sống bằng phương tiện khác, tôi đã đập cây đàn violon và từ bỏ âm nhạc mãi mãi”. Trái tim Tartini ngừng đập vào ngày 26 tháng 2 năm 1770. Cũng trong năm đó tại thành Bonn, nước Đức, một trái tim khác bắt đầu đập trong lồng ngực của một vĩ nhân sau này. Đó là Ludwig van Beethoven - người viết nên những tác phẩm ngợi ca sức mạnh tinh thần của con người mà trong đó đoạn coda thường là một khúc khải hoàn. Nếu trong giấc mơ, Tartini được nghe trước một đoạn coda như vậy của Beethoven thì hẳn cuộc đời và sự nghiệp của ông sẽ khác đi nhiều lắm.
---------




Ngọc Anh


---------------------
Mời các bạn thưởng thức :)

The Devil's Sonata and others word
http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/post-427490-1170069031.jpg
DOWNLOAD (http://www.mediafire.com/?5yzdksspz1n)

Wal
29-03-2008, 10:41
TÁC PHẨM
Symphony No. 3 in F major, Op. 90

(Giao hưởng số 3 giọng Fa trưởng, tác phẩm số 90)

Tác giả: Johannes Brahms
(http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=48)Thời gian sáng tác: mùa hè năm 1883 tại Wiesbaden
Công diễn lần đầu: ngày 2/12/1883 do Hans Richter chỉ huy Vienna Philharmonic
Thời lượng: khoảng 35-40 phút
Tổng phổ : 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani và dàn dây.

Tác phẩm gồm 4 chương:
Allegro con brio
Andante
Poco Allegretto
Allegro
Ngày sinh nhật thứ 64 của Clara Schumann (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&cid=467), Brahms dự định mang hoa đến tặng bà. Nhưng trên đường đi, ông đã không thể tìm thấy bất cứ một cửa hàng hoa nào. Và thế là, để thay cho một bó hoa, Brahms đã mang đến cho Clara tổng phổ bản giao hưởng mới của ông - Giao hưởng số 3 giọng Fa trưởng.

Xúc động trước vẻ đẹp của tác phẩm, Clara viết thư cho Brahms:
“Tôi đã có những giờ phút thật hạnh phúc với tác phẩm tuyệt vời của ông… Nó đúng là một bài thơ duyên dáng và quyến rũ… Chương hai thật thơ mộng, êm ả và thanh bình như cuộc sống điền viên, dưới tán rừng và những tia nắng xuyên qua kẽ lá...Tôi có thể nghe được tiếng suối róc rách và tiếng những con côn trùng đập cánh…Và ở đâu đó, tôi đã cảm nhận thấy tiếng trái tim của ai đó đang đập, đang thổn thức…”

Cuối mùa xuân năm 1883, Brahms bắt tay vào hoàn thiện các khúc nhạc mà ban đầu ông dự định viết cho vở Faust của Goethe. Nhưng khi ấy, những cảm hứng từ chuyến đi dọc sông Rhine đã tràn ngập trong ông và nhà soạn nhạc đã quyết định phát triển chúng thành bản giao hưởng thứ ba của mình - Giao hưởng giọng Fa trưởng. Ba mươi ba năm trước đó, Giao hưởng số 3 (Sông Rhine) của Robert Schumann (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=77) cũng được lấy cảm hứng từ dòng sông Rhine. Và ở đây, chủ đề mở đầu của Brahms cũng là một âm điệu đi xuống giống như chủ đề mở đầu của Schumann.

Giao hưởng Fa trưởng được biểu diễn lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 12 năm 1883 bởi dàn nhạc Vienna Philharmonic, dưới sự chỉ huy của Hans Richter. Trước đó, vị nhạc trưởng nổi tiếng này cũng là người đầu tiên chỉ huy Giao hưởng số 2 của Brahms (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=564) và chính ông đã gọi Giao hưởng số 3 này là Giao hưởng Eroica (Giao hưởng anh hùng ca) để đặt nó ngang tầm với Giao hưởng số 3 Eroica của Beethoven (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=241). Mặc dù vậy, theo các nhà âm nhạc học, tính chất anh hùng ca và cuộc đấu tranh của con người trong giao hưởng Brahms bộc lộ một tâm hồn tế nhị, cá nhân và phức tạp, không giống với tính toàn nhân loại trong giao hưởng Beethoven (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=44).

Thành công rực rỡ ngay trong lần đầu ra mắt, bản Giao hưởng đã nhanh chóng được đón nhận nồng nhiệt tại các nhà hát ở Berlin, Leipzig, Meiningen và Wiesbaden. Nhà soạn nhạc lừng danh người Anh Edward Elgar (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=173) có lần đã nói: "Đứng trước Giao hưởng số 3 của Brahms, tôi cảm thấy mình chỉ là một kẻ vụng về." Mặc dù vậy, Brahms - một con người vốn được coi là theo chủ nghĩa tự phê bình vẫn cho rằng tác phẩm này là "bản Giao hưởng nổi tiếng một cách đáng tiếc."

Trong 4 giao hưởng của Brahms, Giao hưởng số 3 là ngắn nhất. Cấu trúc của nó đẹp, hoàn chỉnh, tập trung làm nổi bật những xúc cảm nồng nhiệt, bùng nổ, xen lẫn tính chất thi vị, riêng tư và thầm kín. Cả bốn chương của nó đều là những chương nhạc tuyệt vời.

Chương 1. Allegro con brio, tràn đầy tính chất sống động, nhiệt thành. Ba nốt nhạc: Fa (F), La giáng (Ab) và Fa (F) được kèn gỗ và kèn đồng diễn tấu trong ba ô nhịp mở đầu chính là những chữ cái đầu trong câu phương ngôn thời trẻ tuổi của Brahms: “Frei Aber Froh” (“Tự do nhưng hạnh phúc”). Chủ đề hai viết ở giọng La trưởng, rực rỡ và duyên dáng, được mở đầu thận trọng bằng kèn gỗ, bè viola (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=553) và cello (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=554). Sự phát triển giao hưởng luôn bám sát câu phương ngôn mà chủ đề ban đầu đã miêu tả, ấn định nó ở giọng Fa trưởng. Chương nhạc kết thúc một cách hơi buông xuôi và lặng lẽ.

Chương 2. Andante, du dương, bình dị và vỗ về như một bài hát ru. Một giai điệu dân gian được cất lên bởi những cây kèn clarinet, với phần đệm của bassoon và sự đan xen của bè dây. Ở giữa chương, chủ đề nhạc trào lên niềm yêu thương chan chứa, đắm đuối và hạnh phúc. Ở đây, kèn trombone đã được sử dụng với vai trò gìm giữ, ngăn cản khả năng phát triển mãnh liệt của sắc thái cảm xúc. Để không "đánh thức" khung cảnh bình yên, kèn trumpet và trống định âm đã được giữ yên lặng. Chương nhạc dần chìm vào một giấc ngủ bình yên.

Chương 3. Poco Allegretto, đã từng là phần âm nhạc đầy ý nghĩa trong bộ phim Goodbye Again, chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết Bạn có yêu Brahms? (Aimez vous Brahms?) của nữ văn sỹ Pháp Francoise Sagan. Được mở ra ở giọng Đô thứ và theo một phong cách giai điệu kiểu Schubert (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=76), đây là một trong những chương đẹp nhất của âm nhạc giao hưởng. Chủ đề mở đầu là tiếng hát dịu ngọt của bè cello. Không mãnh liệt, không đau đớn và không quá sầu thảm, nhưng nó có thể chạm tới những nỗi nhớ nhung, những kỷ niệm đẹp đẽ và thiêng liêng nhất của con người. Theo như lời của một nhà phê bình, nỗi buồn ở đây là một “nỗi buồn lặng lẽ với những tiếng thở dài thầm kín và mỉm cười qua làn nước mắt”. Ở giữa chương là phần trio bao gồm hai chủ đề, một dành cho kèn gỗ và một dành cho đàn dây. Ở phần tái hiện, chủ đề ban đầu được nhắc lại bởi những âm sắc ấm áp và mềm mại đến kỳ lạ của kèn horn. Chương nhạc giống như một khúc hát biệt li, một bài ca với những tình cảm nghẹn ngào không cất nên lời. Có lẽ nó gắn liền với tình yêu Brahms dành cho Clara Schumann, một thiên tình sử đầy cao thượng.

Chương 4. Allegro, là một bản anh hùng ca, với tính chất quả cảm, dũng mãnh và ngời sáng. Đây là một chương nhạc với sự biến đổi phức tạp. Chủ đề phương ngôn vẫn tiếp tục ẩn hiện dưới những hình thức khác nhau ở bè kèn gỗ. Nó chỉ được thay thế khi kèn trombone đưa vào một chủ đề mới, gần như một khúc choral (thánh ca). Cùng với sự trở về của chủ đề ban đầu, một giai điệu đầy sức sống ở giọng Đô trưởng vươn lên trong những âm thanh của kèn horn và bè dây. Âm nhạc phát triển với một sức mạnh lớn lao, kéo theo cả những motif ban đầu và chủ đề choral. Sau những cao trào dàn nhạc, chủ đề phương ngôn được nhắc lại, âm nhạc tan biến đi trong một đoạn kết bình thản - sự bình thản của Brahms.

Bạn có yêu Brahms? Câu hỏi nổi tiếng đó của nữ văn sỹ Sagan đã được các nhà phê bình âm nhạc trích dẫn lại nhiều lần khi nhắc đến nhà soạn nhạc. Tất nhiên, có vô số người yêu thích Brahms, một nhà soạn nhạc vĩ đại mà hầu hết các tác phẩm đều được xếp vào hàng tuyệt tác. Tuy nhiên, “Bạn có yêu Brahms?” luôn là một câu hỏi có ý nghĩa bởi vì nó có thể nhận được những câu trả lời khác nhau. Wagner (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=85) và Tchaikovsky (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81) hoàn toàn không thích Brahms, Mahler (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=65) và Britten (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=189) cũng không mặn mà lắm với Brahms. Nhưng có lẽ người đầu tiên trả lời “không” cho câu hỏi lại là chính là Brahms, ông thường xuyên là người đầu tiên tự “chê” các tác phẩm của chính mình. Chủ nghĩa tự phê bình và sự khiêm nhường đáng kính trọng của Brahms dường như bắt nguồn từ chính nội tâm phức tạp của người nghệ sỹ lãng mạn: luôn hoài nghi, mâu thuẫn và tự đấu tranh với chính mình. Một câu chuyện kể lại rằng, khi một người giàu có mời Brahms đến dự tiệc, để lấy lòng vị vua âm nhạc của thành Vienna, người này đưa cho Brahms một bản danh sách các khách mời và đề nghị nhà soạn nhạc gạch tên bất cứ ai mà ông không thích. Brahms đã cầm lấy bút và gạch tên chính mình.


ttdungquantum


(Classicalvietnam.info) (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=569)

-------------------------
DOWNLOAD:
SYMPHONY NO.3 IN F MAJOR, OP.90
Bernard Haitink, London Symphony Orchestra,
Symphony No. 3 in F Major, Op. 90: I. Allegro con brio (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD3/Track06.mp3)
Symphony No. 3 in F Major, Op. 90: II. Andante (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD3/Track07.mp3)
Symphony No. 3 in F Major, Op. 90: III. Poco allegretto (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD3/Track08.mp3)
Symphony No. 3 in F Major, Op. 90: IV. Allegro (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD3/Track09.mp3)

Wal
29-03-2008, 10:46
TÁC PHẨM
Brahms _ Symphony No. 4 in E minor, Op. 98

(Giao hưởng số 4 giọng Mi thứ, tác phẩm số 98)

Tác giả: Johannes Brahms
(http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=48)Thời gian sáng tác: 1884 - 1885
Công diễn lần đầu: ngày 25/10/1885 ở Meiningen do chính tác giả chỉ huy
Tổng phổ : 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 1 contrabassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, timpani, triangle và dàn dây.

Tác phẩm gồm 4 chương:
Allegro non troppo (E minor)
Andante moderato (E minor/E major)
Allegro giocoso (C major)
Allegro energico e passionato (E minor) Giao hưởng số 4 giọng Mi thứ của Brahms, một sáng tác với vẻ đẹp thuần khiết, thánh thiện của chủ nghĩa cổ điển. Nó vừa cân đối, vững chãi, hài hòa, thanh thoát và tuyệt mỹ như những kiến trúc được khắc tạc bằng đá hoa cương của thời Hy Lạp cổ đại, vừa mang màu sắc ấm áp như những bức họa tân cổ điển của David, lại vừa tinh xảo, uyển chuyển với những thủ pháp đối âm, phức điệu, ẩn chứa những quy luật đẹp đến kỳ lạ của toán học và sự thông minh về kết cấu trong nghệ thuật trang trí baroque. Song, bên cạnh những đặc trưng kinh điển đó, Brahms còn thấm đẫm trong bản giao hưởng cuối cùng của ông tâm hồn suy tưởng sâu xa về sự phong phú đến vô vàn của cuộc sống con người: sự nồng cháy yêu thương, sự vui nhộn trẻ trung, và cả những biến cố bất thường, những định mệnh nghiệt ngã. Gần hai trăm năm kể từ sau thời Beethoven (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=44), hiếm có bản giao hưởng nào lại hoàn hảo đến thế.

Giao hưởng Mi thứ của Brahms được viết tương đối nhanh, từ mùa hè năm 1884 đến mùa hè năm 1885. Nó được trình diễn lần đầu tiên ở Meiningen, do chính tác giả chỉ huy. Mặc dù trong lần đầu ra mắt, tác phẩm này đã không nhận được sự đánh giá đúng mức của phần lớn công chúng, nhưng những người bạn thân nhất của Brahms là danh cầm piano Clara Schumann (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&cid=467) và danh cầm violin Joseph Joachim đã ngay lập tức nhận ra rằng, đây chính là một tuyệt tác lớn. "Trái tim tôi đầy ắp những cảm xúc từ bản giao hưởng mới của ông," Clara đã viết cho Brahms ngay sau khi bà được đọc và chơi phiên bản piano của Giao hưởng Mi thứ. "Tôi cũng không biết là mình thích chương nào nhất...chương một, giống như một giấc mơ, với những làn sóng cảm xúc mềm mại trôi theo phần phát triển đẹp kỳ diệu...trong cấu trúc hùng vĩ của chương cuối, tôi thấy có những tương phản, những tương phản ấy phức tạp đến đáng sợ và đam mê đến đau đớn... tôi không thể diễn đạt hết được, tôi mong là tôi có thể trực tiếp gặp ông và nói riêng với ông về nó, với một tổng phổ đặt trước mặt."

Joachim cũng viết cho Brahms: "Tâm hồn tôi đã thực sự chìm trong Giao hưởng Mi thứ của ông. Tác phẩm này mang một đặc trưng hấp dẫn, một chất sáng tạo cô đọng. Các chủ đề đan quyện vào nhau một cách tuyệt vời trong quá trình phát triển...Trong bốn tuyệt tác giao hưởng của ông, tôi thích nhất Giao hưởng Mi thứ."

Ngoài những đánh giá nhạy cảm đó của hai nghệ sỹ lớn, các nhà âm nhạc học ngày nay còn nhận ra một đặc điểm quan trọng trong việc phát triển những ý niệm chủ đề của bản giao hưởng. Brahms đã thực hiện điều này một cách hoàn hảo đến mức tuyệt đối. Ông cũng đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng những những thiên tài đi trước của chủ nghĩa cổ điển để rồi xây dựng trong bản giao hưởng của mình những ý niệm chủ đề có tiềm năng phát triển tự do, với tính năng động sáng tạo gần như vô tận. Giá trị lớn nhất và quan trọng nhất của các tuyệt tác âm nhạc theo chủ nghĩa cổ điển nằm trong toàn bộ quá trình phát triển các chủ đề của tác phẩm. Ở Giao hưởng Mi thứ, Brahms, giống như Beethoven, đã thực hiện những sự biến đổi cực kỳ tỉ mỉ và tinh tế ở tất cả các chi tiết. Nhưng, Brahms cũng lại giống với Mozart (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=68) và nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại khác ở chỗ, ông hoàn thành toàn bộ tác phẩm bằng những ý niệm trong đầu trước khi viết chúng ra giấy.

Chương một của bản giao hưởng được mở đầu vô cùng tinh tế bởi bè violin (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=552). Đó là một chủ đề không có nguồn gốc, nó dường như đang kể tiếp một câu truyện truyền thuyết nào đó đã được bắt đầu từ xa xưa. Ở đây, tính chất sử thi thiêng liêng và nghiêm trang được hòa vào trong sắc thái ấm áp, tâm tình của một bài hát bi thương, cảm động. Chương hai là sự hòa trộn đẹp một cách thi vị của những sắc điệu cổ xưa và hiện đại. Chương ba vẽ nên khung cảnh một ngày hội sôi nổi nhộn nhịp trên đường phố.

Chương bốn, nơi cuối cùng mà các bản giao hưởng của Brahms phải đi qua. Điều bất ngờ lớn nhất, đó không phải là một nơi tràn ngập sức sống, sức vươn lên, không phải là một nơi dành cho những niềm hân hoan chiến thắng. Brahms đã không làm theo cách thường lệ, không muốn khép lại câu chuyện huyền thoại giao hưởng của mình bằng một kết thúc có hậu. Các nhà phê bình không khó để nhận ra chương bốn chính là một khúc chaconne (hoặc passacaglia). Cái tên này có thể khiến người ta nhớ ngay đến chương Chaconne nổi tiếng trong bản Partita số 2 giọng Rê thứ cho violin độc tấu của J.S. Bach (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=42). Đôi khi người ta có thể cảm nhận ở Chaconne của Bach những nỗi đau đớn nghiệt ngã và dai dẳng mà con người phải chịu đựng và chống chọi. "Đối với tôi, Chaconne của Bach là một tuyệt tác vô cùng kỳ lạ," Brahms viết. "Tôi tưởng tượng rằng, nếu tôi có khả năng viết nên một tác phẩm như vậy thì chắc chắn tôi sẽ hóa điên vì xúc động. Cho nên tôi sẽ chỉ viết riêng cho mình một khúc nhạc nhỏ hơn và nhẹ nhàng hơn." "Khúc nhạc nhỏ hơn" đó chính là chương bốn của Giao hưởng Mi thứ. Nó được viết ở giọng Fa thứ với chủ đề 8 ô nhịp - gấp đôi số ô nhịp trong Chaconne của Bach. Chúng ta vẫn thấy ở Brahms những lời nói khiêm nhường, ngay cả khi chương nhạc cuối cùng của ông đã nối tiếp và cụ thể hóa được sự suy tư bí ẩn của Bach về số phận con người. Chương nhạc này bộc lộ nỗi dằn vặt cảm thương của Brahms trước sự vùi dập khắc nghiệt của số phận đã đày đọa con người, đẩy con người xuống vực thẳm. Có lẽ Brahms đã qua chương cuối này tưởng nhớ đến số phận của những thiên tài như Mozart, Beethoven, Schubert (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=76)...,và đặc biệt là Schumann (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&cid=467). Chưa bao giờ người ta thấy trong âm nhạc của Brahms một giai điệu bè dây lại não nùng, thảm thương đến thế. Chưa bao giờ người ta thấy một bài hát cô độc của flute lại yếu đuối, tiều tụy và tuyệt vọng đến thế. Và chưa bao giờ người ta thấy ở đoạn kết một quang cảnh lại đổ nát và hoang tàn đến thế...


ttdungquantum
(Classicalvietnam.info) (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=603)

--------------------
DOWNLOAD:
SYMPHONY NO.4 IN E MINOR,OP.98
Bernard Haitink, London Symphony Orchestra
1. Symphony No. 4 in E minor, Op. 98: I. Allegro non troppo (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD4/Track01.mp3)
2. Symphony No. 4 in E minor, Op. 98: II. Andante moderato (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD4/Track02.mp3)
3. Symphony No. 4 in E minor, Op. 98: III. Allegro giocoso (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD4/Track03.mp3)
4. Symphony No. 4 in E minor, Op. 98: IV. Allegro energico e passionato (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Brahms_Symphonies_No_1_4_Tragic_Overture_Double_Co ncerto_Serenade_No_2/CD4/Track04.mp3)

Dưới đây là bản thu âm của Celibidache
http://classicalvietnam.info/forum/showpost.php?p=13143&postcount=730

hoangtunho
29-03-2008, 20:47
Bạn Wal gì ơi, xin lỗi, mình là thành viên mới, chưa chào hỏi mà "phàn nàn" thì đường đột quá, mong bạn thông cảm ^^. Nhưng bản giao hưởng số 2 của Brahms, link chương 3 die rồi, bạn kiểm tra lại thử.
Mấy hôm nay mình thu thập nhạc của bạn về nghe nhiều quá, những 5G cơ, rất rất cảm ơn bạn và những bạn khác đã phổ biến loại âm nhạc kỳ diệu này. Cuộc đời thật đẹp khi có âm nhạc.

Wal
29-03-2008, 20:57
Thank bạn đã nhắc, link đã edit lại rồi :)

hoangtunho
29-03-2008, 21:05
tuyệt vời!

Wal
03-04-2008, 17:56
TÁC GIẢ - TÁC PHẨM
http://www.classical-composers.org/img/bizet.jpg
(Georges Bizet)

Chanson d'avril – Bài ca tháng tư
thơ : Louis Bouihet
mélodie : Georges Bizet
thể hiện : Maggie Teyte (soprano) (http://www.box.net/shared/a7vcbe3chg)

Lève-toi! lève-toi! le printemps vient de naître!
Là-bas, sur les vallons, flotte un réseau vermeil!
Tout frissonne au jardin, tout chante et ta fenêtre,
Comme un regard joyeux, est pleine de soleil!

Du côté des lilas aux touffes violettes,
Mouches et papillons bruissent à la fois
Et le muguet sauvage, ébranlant ses clochettes,
A réveillé l'amour endormi dans les bois!

Puisqu'Avril a semé ses marguerites blanches,
Laisse ta mante lourde et ton manchon frileux,
Déjà l'oiseau t'appelle et tes soeurs les pervenches
Te souriront dans l'herbe en voyant tes yeux bleus!

Viens, partons! au matin, la source est plus limpide;
Lève-toi! viens, partons! N'attendons pas du jour les brûlantes chaleurs;
Je veux mouiller mes pieds dans la rosée humide,
Et te parler d'amour sous les poiriers en fleurs.

***

Dậy ! dậy đi ! mùa xuân vừa sinh hạ !
Đằng kia, trên thung, sương thắm bồng bềnh !
Tất thảy rung rinh và ca hát trong vườn,
Cửa sổ em như ánh mắt vui đầy nắng !

Quanh những khóm li-la hoa tím,
Bướm và ong cùng bay lượn vo ve
Và huệ thung rung lắc những chiếc chuông,
Đánh thức thần Tình Yêu trong rừng dậy !

Vì Tháng Tư đã gieo hoa cúc bạch
Em hãy bỏ găng và áo khoác nặng nề
Chim đã gọi em và dừa cạn sẽ mỉm cười
Trong đám cỏ khi nhìn mắt em xanh !

Nào đi thôi ! buổi sáng suối trong hơn ;
Nào dậy đi ! Đừng đợi ngày nóng nực ;
Tôi muốn thấm chân mình trong sương ẩm,
Và dưới nhưng cây lê trổ hoa, nói chuyện tình.


(Homepage Classicalvietnam) (http://www.classicalvietnam.info/)

Apomethe
04-04-2008, 07:30
Mắt mình kèm nhèm, đọc thế nào thành "Bài cá tháng tư" :D

Wal
06-04-2008, 07:46
Cập nhật thêm link 4 bản giao hưởng của Brahms để mọi người có thể so sánh và đối chiếu với bản thu âm đang share áy:
Brahms, The Four Symphonies Haydn Variations,
Furtwangler, Berliner Philarmoniker

Symphonie 1 (10/02/1952) :
http://www.mediafire.com/?xjydjsty7w9

Symphonie 2 (Munchen 7.5.1952) :
http://www.mediafire.com/?7xyd2jha3in!

Symphonie 3 (Berlin 18.12.1949) :
http://www.mediafire.com/?erh1nyjnt4z

Symphonie 4 + Variations Haydn (Berlin 24.10.1948) :
http://www.mediafire.com/?zylmg1luag4

Wal
11-04-2008, 12:06
Câu chuyện về những hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ (Phần 1)
Turkish March" của W.A. Mozart bạn nghe hôm nay không phải được chơi trên một cây piano có “cần bấm Thổ”. Nhưng nghe những hợp âm rải tốc độ nhanh bằng tay trái mô phỏng tiếng trống trầm cũng không kém phần thú vị.

DOWNLOAD (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Mozart%20_%20Turkish%20March.MP3)


Bản nhạc : Turkish March (Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ)
Trích Piano Sonata No. 11 giọng La trưởng, K. 331
Tác giả : Wolfgang Amadeus Mozart
*****

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/mozart.jpg

Mozart vào khoảng năm 1780,
(Tranh của Johann Nepomuk della Croce)
Nguồn: wikipedia.org

Theo danh mục tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart, chỉ riêng trong mùa hè năm 1778, ông đã viết tới 5 bản sonata cho đàn piano (các bản số 8, 10, 11;12 và 13).
Với thông lệ sáng tác sonata thời cổ điển, chương đầu của một bản sonata được viết theo hình thức sonata còn các chương tiếp theo có thể được viết theo các hình thức khác. Nhưng Piano Sonata số 11, giọng La trưởng, K. 331. lại là một biệt lệ vì không có chương nào trong số 3 chương ở hình thức sonata cả.
Chương thứ nhất gồm một chủ đề cùng sáu biến tấu. Chương thứ hai - trung tâm của tác phẩm, là một điệu minuet cùng một đoạn trio. Còn chương thứ ba ở hình thức rondo “theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ” (Alla Turca).
Chương Alla Turca, còn được gọi là Turkish Rondo hay Turkish March, thường được tách ra khỏi bản sonata để biểu diễn độc lập. Chương nhạc ngắn nhất của bản sonata này đã trở thành một trong số những khúc nhạc nổi tiếng nhất của Mozart. Hơn nữa, Turkish March còn là điển hình cho một trào lưu ảnh hưởng phong cách thời Mozart - phong cách Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngoài Piano Sonata số 11, Mozart cũng sử dụng phong cách Thổ Nhĩ Kỳ trong một số tác phẩm khác như vở opera Die Entführung aus dem Serail (Bắt cóc khỏi hậu cung) và Violin Concerto số 5.
Các nhà soạn nhạc trường phái Cổ điển Vienna khác (trong đó có hai tên tuổi lớn là Haydn và Beethoven) cũng sử dụng phong cách âm nhạc thịnh hành này trong tác phẩm của họ.
Phong cách Thổ Nhĩ Kỳ có lẽ là phong cách phương Đông đầu tiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến âm nhạc phương Tây. Phong cách Thổ Nhĩ Kỳ mà các nhà soạn nhạc thời Cổ điển sử dụng hao hao giống phong cách của các ban quân nhạc đế chế Ottoman, đặc biệt là các ban nhạc vệ binh vua Thổ (Turkish Janissary bands). Âm thanh đặc trưng của những ban nhạc này là sự kết hợp giữa các trống trầm, chuông, kẻng ba góc, cymbal và các nhạc cụ khác.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/hanhkhucthonhikywiki.jpg

Hình ảnh một ban quân nhạc Ottoman - Nguồn: wikipedia.org

Một sự thúc đẩy quan trọng cho trào lưu ảnh hưởng phong cách từ âm nhạc Thổ xảy ra vào năm 1699 khi hai đế chế Áo và Ottoman đàm phán Hiệp ước Karlowitz. Để ăn mừng việc ký kết thành công hiệp ước, đoàn ngoại giao Thổ đã mang theo một ban nhạc vệ binh vua Thổ cùng những nghệ sĩ biểu diễn khác tới Vienna để trình diễn trong một vài ngày.
Những mô phỏng xảy ra trước tiên ở các ban quân nhạc châu Âu. Rồi nhiều nhà soạn nhạc cổ điển châu Âu ở thế kỉ 18 cũng bị hấp dẫn bởi phong cách Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là vai trò quan trọng được giao cho các nhạc cụ bộ đồng và bộ gõ trong các ban quân nhạc Thổ.
Vào khoảng bước ngoặt chuyển sang thế kỉ 19, âm nhạc theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ phổ biến đến mức những nhà làm đàn piano đã chế tạo ra những chiếc piano đặc biệt có “cần bấm Thổ” hay còn gọi là “cần bấm quân đội”, “cần bấm Janissary". Khi người chơi nhấn cần bấm này, một chiếc chuông sẽ rung lên hoặc một búa có đệm lót sẽ đập vào bảng cộng hưởng để mô phỏng tiếng trống trầm.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/turkishmarchmozart.gif

Phần đầu bản nhạc "Turkish March" của W.A. Mozart - Nguồn: everynote.com

Ở một số đàn piano, cả hai hiệu ứng này đều xảy ra khi sử dụng cần bấm. Theo Edwin M. Good, “cần bấm Thổ” rất phổ biến để chơi Turkish March của Mozart và khá nhiều nghệ sĩ piano thời đó hân hoan sử dụng cần bấm này để điểm tô cho tác phẩm.
Turkish March bạn nghe hôm nay không phải được chơi trên một cây piano có “cần bấm Thổ”. Nhưng nghe những hợp âm rải tốc độ nhanh bằng tay trái mô phỏng tiếng trống trầm cũng không kém phần thú vị.
Một điều quan trọng là qua Turkish March, chúng ta được làm quen với phong cách Thổ Nhĩ Kỳ và sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận với những tác phẩm âm nhạc cổ điển quy mô lớn có những đoạn nhạc sử dụng phong cách này.


Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2233/index.aspx)
--------------------
Hì, bài này post theo yêu cầu của chị yêu!

Wal
11-04-2008, 12:15
Câu chuyện về những hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ (Phần 2)
Ngày này của 337 năm về trước - 17/12/1770, thiên tài âm nhạc người Đức Ludwig van Beethoven đã ra đời. Thưởng thức "Turkish March" với giai điệu rộn rã, hào hứng cũng là một cách thú vị để nhớ về ông với tài năng âm nhạc tuyệt vời!

DOWNLOAD (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Beethoven%20_%20Turkish%20March.wma)
Bản nhạc: Turkish March (Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ)
Trích nhạc nền cho vở kịch “Tàn tích của thành Athens” Op.113
Tác giả: Ludwig van Beethoven
Thể hiện: Dàn nhạc St Luke’s (chỉ huy : Dennis Russell Davies)
***

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/beethoven.jpg
Chân dung Ludwig van Beethoven
(Tranh vẽ của Joseph Karl Stieler năm 1820)
Nguồn: wikipedia.org
Âm nhạc cổ điển theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ luôn có nhịp điệu sôi nổi và thường là một kiểu hành khúc. Mozart đã dùng những hợp âm rải tốc độ nhanh bằng tay trái trên piano để mô phỏng tiếng trống trầm trong Turkish Marchrộn rã của mình.
Còn khi âm nhạc theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ được phối cho dàn nhạc, các nhà soạn nhạc sử dụng thêm những nhạc cụ gõ trước đó không có trong dàn nhạc thời Cổ điển, tiêu biểu là trống trầm, chuông, kẻng ba góc, cymbal. Và điều này được thể hiện rõ ràng trong Turkish Marchcủa Beethoven.
Cũng giống như bản nhạc của Mozart, Turkish Marchcủa Beethoven đã được tách ra từ một tổng thể để biểu diễn độc lập.
Nhưng nếu như Turkish Marchcủa Mozart là một chương của sonata thì Turkish Marchcủa Beethoven là một tiết mục trong bộ nhạc nền viết cho vở kịch “Tàn tích của thành Athens” Opus 113.
Vào năm 1811, thành phố Pest của Hungary (sáp nhập với Buda năm 1873) chuẩn bị khai trương một nhà hát lớn mới. Lễ khánh thành nhà hát được kết hợp với lễ kỉ niệm ngày lễ đặt tên của hoàng đế Francis II vào ngày 5 tháng 10.
Để có tác phẩm trình diễn cho dịp này, những người có thẩm quyền đã hướng tới nhà viết kịch nổi tiếng August von Kotzebue và nhà soạn nhạc lỗi lạc Ludvig van Beethoven.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/thein-brassde.jpg

Kẻng ba góc (triangle) trong dàn nhạc
Nguồn: thein-brass.de
Kotzebue đã viết hai vở kịch “Tàn tích của thành Athens” và “Vua Stephen”, ngập tràn những lời ca tụng hoàng gia. “Tàn tích của thành Athens” mô tả thành phố Pest như một phiên bản tân tiến hơn thành Athens cổ xưa. Trong đó, Kotzebue dựng lên câu chuyện tưởng tượng về nữ thần Minerva thức dậy sau giấc ngủ dài 2000 năm. Minerva thấy thành Athens đã đổ nát và những dấu tích văn hóa cuối cùng của nó được bảo tồn ở Hungary.
Beethoven không quan tâm lắm tới việc tâng bốc những bậc quyền thế. Thế nhưng ông hứng thú bất cứ cái gì có liên quan đến nhà hát và hơn nữa ông cũng cần tiền. Beethoven đã viết nhạc nền cho cả hai vở kịch, tổng cộng có 19 tiết mục.
Cho dù lễ khánh thành nhà hát đã được hoãn tới tận tháng 2 năm sau đó và Beethoven không cần phải vội vã, phần âm nhạc vẫn được hoàn thành rất sớm - chỉ trong ba tuần của tháng 8 và tháng 9 năm 1811.
Ngoài 2 overture cho 2 vở kịch, Turkish Marchlà tiết mục duy nhất trong số 19 tiết mục nói trên thường được tách ra để biểu diễn độc lập trên sân khấu hòa nhạc. Nó trở nên quen thuộc với thính giả còn vì trước đó, vào năm 1809, Beethoven đã viết một bộ 6 biến tấu cho đàn piano Opus. 76 với chính chủ đề Turkish Marchnày.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/maxmallestcom.jpg
Trống trầm (bass drum) trong dàn nhạc
Nguồn: maxmallest.com
Những nhạc cụ gõ mà Beethoven sử dụng trong Turkish March dần dần được dùng trong dàn nhạc giao hưởng mà không nhất thiết phải gợi lên một bầu không khí kiểu Thổ Nhĩ Kỳ.
Đến thời gian Beethoven viết giao hưởng số 9 “Hướng tới niềm vui”, phong cách Thổ Nhĩ Kỳ không còn thịnh hành trong đời sống âm nhạc như trước. Nhưng ở chương cuối của bản giao hưởng, ông vẫn sử dụng một số nhạc cụ gõ trong các ban quân nhạc Thổ.
Cho tới cuối thế kỉ 19, các tác giả giao hưởng đã thoải mái sử dụng những nhạc cụ gõ này trong tổng phổ. Vậy là qua một chặng đường dài, những nhạc cụ này đã trở thành món quà quý giá mà truyền thống quân nhạc Thổ Nhĩ Kỳ tặng cho âm nhạc cổ điển phương Tây.


Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2285/index.aspx)

Wal
11-04-2008, 12:18
Tristesse - Giai điệu của nỗi buồn tha hương

Chopin từng đã nói về Tristesse: “Cả cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ có thể tìm thấy lần nữa một giai điệu đẹp đến thế.” Cũng như suốt quãng đời tha hương, Chopin không bao giờ được trở lại tổ quốc Ba Lan hay lãng quên được người con gái tóc vàng đã cự tuyệt tình yêu đầu đời của ông nơi quê nhà.

DOWNLOAD (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/etudechopin.mp3)
Bản nhạc: Étude cho piano No. 3
Tác giả: Frédéric Chopin
Thể hiện: Đặng Thái Sơn
*****

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/02/fredericchopin-audiosparx-com.jpg
Chân dung Frédéric Chopin
Nguồn: audiosparx.com
Về sức hấp dẫn của âm nhạc Chopin, nghệ sĩ piano nổi tiếng người Ba Lan Arthur Rubinstein đã nói:
“Chopin là một thiên tài hấp dẫn toàn cầu. Âm nhạc của ông chinh phục hầu hết mọi loại khán thính giả. Khi những nốt đầu tiên của Chopin vang lên trong phòng hòa nhạc, mọi người liền tỏ dấu hiệu vui sướng vì nhận ra.
Đàn ông và phụ nữ khắp thế giới biết về âm nhạc của ông. Họ yêu thích nó. Họ xúc động vì nó. Ấy thế mà nó không phải là “âm nhạc Lãng mạn” theo nghĩa của Byron. Nó không kể những câu chuyện hay vẽ những bức tranh. Nó diễn cảm và riêng tư nhưng vẫn là nghệ thuật thuần túy.
Ngay cả trong thời đại nguyên tử trừu tượng này, nơi mà xúc cảm không phải là thời thượng, Chopin vẫn tồn tại. Âm nhạc của ông là ngôn ngữ giao tiếp toàn cầu của nhân loại. Khi tôi chơi nhạc Chopin, tôi biết là tôi nói một cách trực tiếp với trái tim của con người!”
Mặc cho một vài nghệ sĩ lớn khác, nhất là Glenn Gould - gạt bỏ âm nhạc của Chopin như thứ đồ trang trí xoàng xĩnh một cách quá đáng, thì suốt trong một thời gian dài, Frédéric Chopin đã được công nhận là một trong những nhà soạn nhạc quan trọng và độc đáo nhất của thời kỳ Lãng mạn. Phần lớn tiếng tăm của ông nằm ở những tác phẩm quy mô nhỏ: valse, nocturne, prelude, mazurka và polonais… (2 thể loại cuối phản ánh chủ nghĩa dân tộc Ba Lan tha thiết trong ông).
Những tác phẩm này kết nối giai điệu diễn cảm thơ mộng và hòa âm không ngừng nghỉ với những đòi hỏi kỹ thuật cao. Ngay cả những étude (khúc nhạc luyện tập) của ông cũng lưu lại như những tác phẩm hòa nhạc đầy lôi cuốn bằng cách nhấn mạnh vào giá trị âm nhạc cũng như giá trị kỹ thuật.
27 bản étude của Frédéric Chopin vẫn còn là những tiết mục quan trọng ở thể loại âm nhạc đặc biệt này. Trong một bức thư đề thời gian là mùa thu năm 1829, Chopin đã đề cập đến việc viết một étude “theo phong cách của riêng mình” và trên thực tế, đã có sự khác biệt lớn giữa các thành quả mà ông sáng tạo nên với các bản étude khô khan của những bậc tiền bối như Moscheles, Czerny hay Hummel.
Mục đích của Chopin không phải là tạo ra các bản étude đơn thuần về kỹ thuật và sự tài khéo chưa được gọt giũa. Thay vào đó, đây là những tác phẩm với vô số cách thu xếp bố cục, điệu thức và màu sắc khám phá. Đó là những tác phẩm có giá trị cả ở phòng hòa nhạc cũng như ở phòng tập.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/02/sadness-noemiji-net.jpg
Nguồn: noemiji.net

Bộ 12 étude Op. 10, xuất bản năm 1833 và đề tặng Franz Liszt, là một công cụ không thể thiếu của đội ngũ nghệ sĩ piano hiện đại. Chúng là một nghi lễ vượt qua mà không nghệ sĩ piano nghiêm túc nào lại không biết tới.
Bản Étude No. 3 giọng Mi trưởng trong tập tác phẩm này, còn được gọi bằng những cái tên Pháp như Tristesse (Nỗi buồn) hay L"intimité(Thân tình), có lẽ là étude được nhiều người biết đến nhất của Chopin. Đây là tác phẩm đầu tiên trong số những étude tương đồng với các nocturne của chính ông hơn là một bài tập kỹ thuật truyền thống.
Étude No. 3 giọng Mi trưởng được gọi là một khúc thơ nhỏ bằng âm nhạc và cách phân nhịp có thể hát lên được tuyệt diệu của nó (cantabile) bộc lộ tình yêu lớn lao mà Chopin dành cho thể loại opera.
Tác phẩm không phức tạp lắm với một chủ đề, một biến tấu và phần tái hiện chủ đề cuối cùng. Đầu tiên tay phải chơi chủ đề gồm một giai điệu chậm cùng âm hình đệm kiểu Alberti (kiểu đệm thường được sử dụng ở thời cổ điển, lấy theo tên nhà soạn nhạc Domenico Alberti).

Tay trái thực hiện những quãng nhảy duyên dáng và tạo nền hòa âm cho chủ đề. Đoạn biến tấu hối hả ở giữa là nơi thử thách kĩ thuật của người chơi. Nhưng rốt cuộc nó cũng nhập vào nhịp điệu êm ả của chủ đề và đoạn coda bắt đầu bằng việc trình bày lại chủ đề ban đầu.
Có một giai thoại kể rằng trong lúc dạy bản étude này cho một học trò của mình là Adolf Gutmann, Chopin đã bật khóc và kêu lên:“Ôi quê hương tôi!” Chopin cũng lưu ý rằng tác phẩm này là một trong những tác phẩm thân tình nhất ông từng soạn.

Ông tuyên bố: “Cả cuộc đời tôi, tôi chưa bao giờ có thể tìm thấy lần nữa một giai điệu đẹp đến thế.” Cũng như suốt quãng đời tha hương, Chopin không bao giờ được trở lại tổ quốc Ba Lan hay lãng quên được người con gái tóc vàng đã cự tuyệt tình yêu đầu đời của ông nơi quê nhà.



Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//3042/index.aspx)

micky_mouse_02
11-04-2008, 13:30
Thanks em iu của chị nhìu nhìu.Em kiếm bài về Paganini đi. Trong này hình như mọi người quên mất Paganini rồi thì phải.:D

hoangduc92
11-04-2008, 22:21
Kô chỉ có Paganini đâu chị Micky mouse ạh. Anh Wal cũng quên Glinka của em nữa. Anh có bài nào viết về dạ khúc chia tay (La seperation) của ông ấy kô?

Wal
19-04-2008, 18:22
Duyên dáng và lôi cuốn - Tứ tấu "Sơn ca"


Tứ tấu đàn dây "Sơn ca" và hơn 70 tứ tấu đàn dây khác của Haydn đều là những tác phẩm vô cùng duyên dáng, lôi cuốn chúng ta vào cuộc đối thoại của các nhạc cụ, thổ lộ niềm vui và nỗi buồn, chia sẻ những câu chuyện và bí mật

DOWNLOAD (sẽ tìm và cập nhật đủ các chương sau) (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/19stringquartet.wma)

Bản nhạc: CHƯƠNG I, TỨ TẤU ĐÀN DÂY “SƠN CA”
Tác giả: Joseph Haydn
Thể hiện: Quartetto Italiano (Nhóm tứ tấu Ý)
*****

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2008/04/haydn-thomas%20hardy.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Joseph Haydn
của Thomas Hardy
Nguồn: wikipedia.org
Joseph Haydn (1732-1809) là một trong những nhà soạn nhạc lỗi lạc nhất của trường phái Cổ điển Vienna. Ông xuất sắc trong mọi thể loại âm nhạc, đặc biệt là hai thể loại giao hưởng và tứ tấu đàn dây mà ông thường được coi là “cha đẻ”.
Tứ tấu đàn dây là một thể loại sáng tác cho bốn nhạc cụ dây solo, thường là hai violon, một viola và một cello. Dù không phải là người đầu tiên sáng tác ở thể loại này nhưng Haydn là người thiết lập cho tứ tấu đàn dây mẫu hình bốn chương cùng với kết cấu bốn bè.

Ông đã đạt tới một sự rõ ràng về kết cấu và sự cân bằng của các bè mặc dù cách viết nổi bật cho cây violon thứ nhất vẫn luôn là một phần trong phong cách của Haydn.
Sau thời Haydn, thể loại tứ tấu đàn dây đã phát triển lên những tầm cao mới. Nhưng những tứ tấu đàn dây với phong cách viết đối vị của Haydn vẫn là thách thức trong biểu diễn đối với các nhạc công chuyên nghiệp và trong sáng tác đối với các nhà soạn nhạc đời sau.
Bản tứ tấu đàn dây No.53 giọng Rê trưởng của Haydn là một trong những tác phẩm thường được các nhóm tứ tấu chọn trình diễn và thu âm. Đây là tác phẩm thứ 5 trong bộ 6 tứ tấu đàn dây Op.64 mà Haydn xuất bản năm 1790.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2008/04/Nightingale-birdingworld-co-uk.jpg

Những nốt nhạc hoa mỹ
khiến âm thanh hiền hòa trong trẻo
tựa như tiếng hót sơn ca
Theo danh mục tác phẩm của Haydn do nhà âm nhạc học Anthony van Hoboken lập thì tác phẩm này mang số H. 3/63. Tuy nhiên để cho dễ nhớ, bản tứ tấu này thường được gọi bằng biệt danh rất gợi cảm là “Sơn ca”.


Chương đầu tiên trong bốn chương nhạc của “Tứ tấu đàn dây Sơn ca” được viết ở tốc độ Allegro moderato. Ở đây violon 1 (bè quan trọng nhất trong 4 bè nhạc cụ) trình bày một giai điệu mang tính ca xướng bay bổng được mở rộng bằng âm hình nhịp điệu điểm xuyết. Biệt danh “Sơn ca” của cả tác phẩm đã ra đời chính từ giai điệu trong trẻo tươi sáng này.
Ba chương tiếp theo lần lượt ở các tốc độ chậm rãi khoan thai (Adagio), hơi nhanh (Allegretto) và khá nhanh (vivace). Tổng thời lượng cả 4 chương của Tứ tấu đàn dây “Sơn ca” khoảng hơn 18 phút.
Trước Tứ tấu đàn dây “Sơn ca”, Haydn còn viết một bản tứ tấu đàn dây có biệt danh “Con chim” vì trong chủ đề chính của nó có chứa những nốt nhạc hoa mĩ khiến âm thanh nghe như thể có một đàn chim hiền hòa vừa bay tới đậu quanh ta và trong chương thứ hai của tác phẩm đó có những nốt láy tựa như tiếng chim hót.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2008/04/Quartetto%20Italiano.jpg

Các nghệ sĩ Paolo Borciani, Elisa Pegreffi, Piero Farulli và Franco Rossi
trong nhóm tứ tấu Quartetto Italiano
Nguồn: quartettoitaliano.com

Tứ tấu đàn dây “Sơn ca” vàhơn 70 tứ tấu đàn dây khác của Haydn đều là những tác phẩm vô cùng duyên dáng, lôi cuốn chúng ta vào cuộc đối thoại của các nhạc cụ, thổ lộ niềm vui và nỗi buồn, chia sẻ những câu chuyện và bí mật.

Đối với những người đã ngập ngừng khám phá tác phẩm của Haydn thông qua một số giao hưởng của ông, những bản tứ tấu đàn dây là một cách tuyệt hảo để mở rộng kiến thức và khuấy động nhiệt tình của họ.

Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//3512/index.aspx)

Wal
04-05-2008, 12:45
Cảnh sắc hoàng hôn sưởi ấm những trái tim băng giá
Giọng Sorprano tuyệt đẹp hát một giai điệu trữ tình tuyệt đẹp và đầy ám ảnh, rồi ngâm ngợi một bài thơ về vẻ đẹp quyến rũ của thiên nhiên lúc hoàng hôn trên nền hòa âm đầy biểu cảm... như thế, Aria của Bachianas Brasileiras No. 5 có thể sưởi ấm tất cả những trái tim - kể cả trái tim băng giá nhất!



Bản nhạc: Bachianas Brasileiras No. 5 - Aria
Tác giả: Heitor Villa-Lobos (nhạc) và Manuel Bandeira (lời)
Thể hiện: Karita Mattila (soprano)
Download (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/BachianasBrasileiras.wma)

***

Ngay từ lúc sinh thời, nhà soạn nhạc người Brazil Heitor Villa-Lobos (1887 – 1959) đã được xem là người nổi bật nhất trong số những nhà soạn nhạc cổ điển sinh ra tại Nam Mĩ.

Âm nhạc của ông chịu ảnh hưởng từ cả hai nguồn : âm nhạc dân gian Brazil và truyền thống âm nhạc cổ điển châu Âu, đặc biệt là âm nhạc của Johann Sebastian Bach.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/04/sunset1ok.jpg http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/04/sunset2ok.jpg

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/04/sunset4ok.jpg http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/04/sunset3ok.bmp
Cảnh sắc tuyệt vời của buổi hoàng hôn
đã được thể hiện sống động trong Aria -
Bachianas brasileiras
Được cha dạy nhạc từ rất nhỏ, Villa-Lobos bắt đầu tiếp xúc với âm nhạc của J. S. Bach năm 9 tuổi khi được bác gái Fifinha tặng tập nhạc Bình quân luật (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/3316/index.aspx).

Các tác phẩm của Bach đã khiến Villa-Lobos hết sức say mê. Nhà soạn nhạc vĩ đại người Đức này về sau đã trở thành mạch nguồn cảm hứng để Villa-Lobos sáng tạo ra một trong những bộ tác phẩm quan trọng nhất của mình - Bachianas brasileiras.

"Bachianas brasileiras" theo tiếng Bồ Đào Nha, ngôn ngữ chính thức của Brazil, có nghĩa là “Những tác phẩm kiểu Bach-Brazil”. Bachianas brasileiras gồm tất cả 9 tổ khúc, được viết với nhiều cách kết hợp nhạc cụ và giọng hát. Mỗi tổ khúc đại diện cho một sự hòa trộn giữa âm nhạc dân gian, nhạc pop Brazil và phong cách của J. S. Bach.

Villa-Lobos soạn bộ Bachianas brasileiras trong khoảng 15 năm (từ 1930 đến 1945). Tổ khúc đầu tiên trong bộ tác phẩm này được viết theo một hình thức hòa tấu thính phòng mới mẻ: một nhóm gồm 8 cây cello. Villa-Lobos cũng đã sử dụng hình thức hòa tấu này cho một số bản chuyển soạn của ông từ tác phẩm của Bach.

Đến tổ khúc Bachianas brasileiras No. 5 (soạn từ năm 1938 đến 1945), hình thức hòa tấu mà Villa-Lobos lựa chọn là một giọng soprano và 8 cây cello.

Trong số 9 tổ khúc đó, Bachianas brasileiras No. 5 nổi lên như là tác phẩm phổ biến nhất của nhà soạn nhạc. Giống như hầu hết bầu bạn của nó trong cùng bộ tác phẩm, Bachianas brasileiras No. 5 thể hiện những đặc trưng của tổ khúc thời Baroque, đặc biệt là những tổ khúc của Bach.

Bachianas brasileiras No. 5 chỉ gồm có 2 chương là Aria vàDança, với lời ca là hai bài thơ của nhà thơ đồng hương Brazil Manuel Bandeira.


Aria

Lời thơ: Manuel Bandeira


Lúc hoàng hôn một đám mây hồng rực

Chậm trôi qua không trung đẹp mơ màng!

Trăng duyên dáng hiện lên nơi chân trời

Điểm trang chiều như một nàng tố nữ

Đang vội vã tự tô son điểm phấn,

Lòng âu lo mong được đẹp hơn

Kêu đất, kêu trời, kêu cả thiên nhiên!

Nghe trăng than mọi chim chóc lặng yên

Biển phản chiếu ánh huy hoàng chói lọi...

Giờ trăng sáng dịu dàng chờ đợi

Những hồi ức xưa nghiệt ngã khóc, cười!

Chậm trôi qua không trung đẹp mơ màng,

Lúc hoàng hôn một đám mây hồng rực.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/04/karita_mattila.jpg
Giọng sorprano tuyệt đẹp của Karita Mattila
đã mang lại sức quyến rũ không thể cưỡng lại
cho Aria
Trong Aria mãnh liệt và tinh tế, giọng soprano hát một giai điệu trữ tình tuyệt đẹp và đầy ám ảnh. Cách phát triển giai điệu hết sức đặc biệt, không theo một hình thức xác định nào cả, hơi giống với Aria trong Tổ khúc No. 3 của Bach.

Ở đoạn trung tâm, giọng soprano ngâm ngợi một bài thơ về vẻ đẹp quyến rũ của thiên nhiên lúc hoàng hôn trên nền hòa âm giàu biểu cảm giảm xuống nửa cung của những cây đàn cello.

Chương thứ hai, Dança, theo nhà soạn nhạc, “trình bày một nhịp điệu liên tục và đặc trưng rất giống với những embolada - những giai điệu lạ lẫm của vùng nội địa Brazil. Giai điệu gợi nhắc đến những chú chim bản xứ Brazil.”

Là một trong số những nhà soạn nhạc lớn của cây đàn guitar, Villa-Lobos cũng tự mình chuyển soạn Aria của Bachianas brasileiras No. 5 cho giọng soprano và đàn guitar. Ngoài ra, giống như nhiều giai điệu đẹp khác trong âm nhạc cổ điển, Aria cũng xuất hiện trong nhiều phiên bản chuyển soạn của các nhạc sĩ khác.

Tuyệt tác do "tín đồ người Brazil của Bach" đã tạo ra này, hầu như chưa bao giờ thất bại trong việc sưởi ấm những trái tim - kể cả trái tim băng giá nhất!





Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//3454/index.aspx)

Wal
04-05-2008, 12:52
Dòng chảy Vltava của xứ sở Bohemia



Nói đến Smetana với vai trò người sáng lập ra âm nhạc dân tộc Czech thì không thể không nói đến liên khúc thơ giao hưởng Má vlast (Tổ quốc tôi) của ông. Má vlast gồm 6 chương, mỗi chương là một thơ giao hưởng, tất cả đều gắn liền với xứ sở Bohemia yêu dấu quê hương ông.



Bản nhạc: VLTAVA
Trích liên khúc thơ giao hưởng “Tổ quốc tôi”
Tác giả: Bedrich Smetana
Thể hiện: Dàn nhạc giao hưởng đài phát thanh Ljubjana (chỉ huy: Anton Nanut)
Download (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/VltavaDie%20Moldau.wma)
*****



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/05/smetana-karadar-com.jpg
Một bức tranh về nhà soạn nhạc Smetana
(thứ nhất từ phải qua)
Nguồn: karadar.com

Beethoven không phải là nhà soạn nhạc duy nhất cho ra đời những kiệt tác âm nhạc ngay cả khi phải chứng khiếm thính tai ác.
Từ mùa thu năm 1874, Bedrich Smetana (1824-1884) cũng phải đương đầu với bị kịch của việc mất đi giác quan quan trọng nhất đối với một nhà soạn nhạc. Và cũng như Beethoven, bi kịch này đã không thể nào dập tắt được sức sáng tạo âm nhạc phi thường của Smetana.
Nói đến Smetana với vai trò người sáng lập ra âm nhạc dân tộc Czech thì không thể không nói đến liên khúc thơ giao hưởng Má vlast (Tổ quốc tôi) của ông. Má vlast gồm 6 chương, mỗi chương là một thơ giao hưởng, tất cả đều gắn liền với xứ sở Bohemia yêu dấu quê hương ông.
Ngay khi mới khiếm thính và còn ở Prague, ông đã hoàn thành hai chương Vyšehrad và Vltava, bốn chương còn lại được viết ở Jabkenice trong hơn 5 năm tiếp theo.
Vltava, chương thứ hai của Má vlast, là chương nổi tiếng nhất trong cả 6 chương. Đây cũng là tác phẩm được trình diễn nhiều nhất trong số những tác phẩm thuộc thể loại thơ giao hưởng từng được viết ra từ trước đến nay.
Vltava (tiếng Đức: Moldau) là tên một con sông chảy qua vùng thôn dã Czechoslovakia và Prague. Trong những cuộc dạo chơi dọc bờ sông Vltava, Smetana đã tìm thấy một mạch nguồn cảm hứng sáng tác lớn lao.
Ông quyết định vẽ một bức tranh miêu tả nó bằng âm nhạc và đưa vào loạt sáng tác mà ông đã khởi thảo năm 1872 với Vyšehrad.
Theo lời Smetana, “sáng tác này miêu tả dòng chảy của con sông Vltava, khởi nguồn từ hai dòng Vltava Nóng và Vltava Lạnh tới hợp nhất thành một dòng chảy.
Hành trình Vltava qua những cánh rừng và đồng cỏ, qua những quang cảnh nơi đang đang diễn ra một đám cưới của nông dân, vũ điệu vòng quanh của những nàng tiên cá trong ánh trăng đêm.
Không xa những núi đá, mờ mờ hiện ra những lâu đài uy nghi, những cung điện và phế tích trên cao. Dòng Vltava cuộn xoáy ở thác St. John rồi mở rộng và trôi về phía Prague, qua lâu đài cổ Vyšehrad rồi đường đường biến mất vào khoảng xa, nhập vào sông Elbe.”


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/05/0305nhac.jpg
Lâu đài cổ Vyšehrad ở Prague nhìn từ sông Vltava
Nguồn: wikipedia.org

Smetana đã xây dựng cho Vltava một cấu trúc rondo và chia thành 8 đoạn liên tục. Mở đầu tác phẩm, hai cây flute với âm thanh xoắn xuýt trình bày hai mạch nguồn của dòng Vltava. Và rồi chẳng bao lâu tiếng kèn clarinet mãnh liệt tham gia vào trước khi chủ đề chính nổi tiếng được trình bày.
Thể hiện bằng hòa âm cuồn cuộn mà dàn dây vượt trội, giai điệu của chủ đề chính có tính chất giống như dân ca Czech ở vẻ thanh bình và hùng vĩ, khắc họa dòng sông Vltava. Có một điều lạ là những nhà âm nhạc học ủng hộ quan điểm rằng nguồn gốc của chủ đề này là bài dân ca Thụy Điển Ack, Värmland du sköna.
Có lẽ vì trước khi soạn tác phẩm này, sự nghiệp của Smetana từng bị đứt đoạn bởi một thời kỳ tự lưu đầy ở Thụy Điển do thất vọng về tình hình chính trị sau cuộc nổi dậy năm 1848 ở Prague. Là một nhà ái quốc nồng nhiệt, Smetana đã có mặt tại chiến lũy trong cuộc nổi dậy bị đế chế Hapsburg đè bẹp này.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/05/smetana-guide-prague-cz.jpg
Tượng đài của Smetana gần lâu đài Praha
Nguồn: guide-prague.cz

Sau một vài phát triển của chủ đề dòng sông là chủ đề “Cuộc đi săn trong rừng”, nơi tiếng kèn horn và trumpet tạo cho âm nhạc cảm giác hân hoan. Rồi một chủ đề dân ca khác vui vẻ và khá sinh động mô tả “Đám cưới nông dân”.
Chủ đề “Ánh trăng: điệu nhảy của những nàng tiên cá” được trình bày sau đó, với hòa âm có cấu trúc tinh tế và âm nhạc mang sắc thái thanh bình của đêm khiến ta liên tưởng đến Khúc hát gửi trăng (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/3063/index.aspx) trong opera Rusalka của Dvorak.
Chủ đề chính trở lại trong một thời gian ngắn trước chủ đề “Thác nước” - tương tự chủ đề “Giông tố, bão táp” trong Giao hưởng “Đồng quê” (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/3564/index.aspx)của Beethoven.
Lại một lần nữa, chủ đề dòng sông quay lại nhưng chẳng bao lâu nhường chỗ cho chủ đề “Vysehrad”, nơi Smetana trích lại chủ đề chính trong thơ giao hưởng đầu tiên của liên khúc 6 chương. Đoạn long trọng này dần đi đến một kết thúc lặng lẽ để hai hợp âm náo nhiệt bật lên khép lại tác phẩm.
Cuộc đời Smetana cũng khép lại vào ngày 12/5/1884 tại một dưỡng trí viện ở Prague. Mười năm trước đó, khi bị dày vò đau đớn và liên miên bởi những tiếng ồn nghịch tai (triệu chứng căn bệnh khiến ông khiếm thính), ông đã viết:
“Hãy tin rằng tôi cần tất cả lòng can đảm và sức mạnh để giữ mình khỏi trở nên tuyệt vọng đến nỗi dự tính dùng bạo lực nhằm chấm dứt nỗi đau đớn của mình. Chỉ có gia cảnh và ý nghĩ rằng mình phải tiếp tục làm việc cho nhân dân và đất nước mình mới giữ cho tôi sống và tạo cảm hứng cho những sáng tạo mới của tôi.”
Và Má vlast (Tổ quốc tôi)chỉ là một trong số nhiều tác phẩm giá trị mà ông đã soạn trong thập niên cuối cùng của đời mình.






Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//3626/index.aspx)


----------

Giới thiệu đến các bạn CD này:

Smetana Ma Vlast - HARNONCOURT [2CD,APE]
More info:Amazon (http://www.amazon.com/review/product/B0000B0WT6/ref=cm_cr_dp_synop?_encoding=UTF8&sortBy=bySubmissionDateDescending#RBBTOB26DC2VD) 2 P5 _: d1 Y2 y% @. K! r5 z' ^. p

http://ecx.images-amazon.com/images/I/61WuVVn-tAL._SS500_.jpg
Harnoncourt's Intriguing Version Of Ma Vlast, December 16, 2003

Trích dẫn từ Amazon:


Nikolaus Harnoncourt offers an intriguing, riveting, and occasionally inspiring, interpretation of Smetana's Ma Vlast which is worth acquiring, even if I can not recommend it as one of the primary interpretations (For these I would look to Kubelik's recordings, or more recently, to Mackerras' splendid interpretation with the Czech Philharmonic.). Harnoncourt's approach is far more intellectual,emphasizing the rich architecture of Smetana's tone poem scores, at the expense of rendering any emotionally riveting interpretation. Yet there are often times when he succeeds beautifully, most notably in the Bohemia Woods piece, in which he emphasizes the beautiful, Romantic aspects of the score. In stark contrast, his interpretation of the Moldau may be the most unique, and quixotic performance I've heard,emphasizing sharp, abrupt changes in tempi. Harnoncourt offers a brief,incisive look at these scores and his interpretations in the liner notes. Along with his recording of the Bruckner 9th Symphony, this is his CD debut on the BMG RCA Ariola classics label, having forsaken his life-time contract with Warner (formerly Teldec) Classics. Despite my reservations with Harnoncourt's interpretations, this is still a splendid debut with this recording label, emphasized by the Vienna Philharmonic's warm, vibrant playing. The sound engineers have provided an extremely well-balanced recording, with perhaps a slight nod to the brass sections. If you are a long-time admirer of Nikolaus Harnoncourt and the Vienna Philharmonic, then you won't be disappointed with this recording. Otherwise, Smetana admirers may be slightly disappointed with Harnoncourt's interpretations, but they should consider acquiring this CD as a fascinating alternative to those from Kubelik and Mackerras.DOWNLOAD:

Scan (http://www.mediafire.com/?at0wn5mqowy)

Part1 (http://www.mediafire.com/?2etmzwa0rym)
Part2 (http://www.mediafire.com/?cmztmxuj2lm)
Part3 (http://www.mediafire.com/?yyuj4unkm0j)
Part4 (http://www.mediafire.com/?qz20ntfztuo)

Lake of Tears
04-05-2008, 13:07
Anh Wal kiếm mấy mấy disc full chất lượng cao của mấy bản(full luôn nha anh) này rồi up lên cho mọi người đi anh, nghe CD mới thú vị, chứ nghe nhạc mp3 mà tầm tầm 128kbs thế này thì nghe chán à :D...

quangphucqp
07-05-2008, 22:34
Ma Vlast của Smetana trong topic thu âm có bản của Kubelik mà, có điều cái tứ tấu sơn ca anh Wal up đủ bộ đi :D, dở dang thế này thì đáng tiếc lắm :)

Lake of Tears
08-05-2008, 02:14
Tại anh ấy lấy link bên TVN luông, em cũng thích có link đủ bộ là hơn, nghe dở dang... thấy nó thế nào ấy...

NgocAnh
19-05-2008, 09:38
có bài viết về Mozart rất hay. mình bon chen pot lên diễn đàn cho mọi người cùng đọc. có đoạn violin concerto số 5 phần Allegretto, chắc ai cũng biết, nhưng chêm thêm vào cho đỡ trống.

MOZART, Người Đồng Hành Vĩnh Cửu http://www.lien-art-gallery.com/photogallery/photo00012682/hungvv3-48%2880x90%29.jpg“Một thiên tài thực sự mà lại không có tâm hồn thì quả thực là một sự phi lý hoàn toàn” – Mozart (Thư viết ngày 11.04.1787)

Vionlin concerto số 5_Allegretto (http://www.khoanglang.net/#Play/17710/07-Violin-Concerto-No5-In-A--K219-Turkish-Allegro-Aperto.html)

Wolfgang Amadeus Mozart, có lẽ không ai đề cập đến âm nhạc mà lại bỏ sót tên ông. Một nhà bỉnh bút của đài BBC trong chương trình giới thiệu các nhà soạn nhạc bất hủ, ngay sau khi kể lại đời Jean Sebastien Bach, tiếp nối đã không ngần ngại gọi Mozart là “Vị thần linh của âm nhạc”, dù khẳng định Mozart và cả Beethoven luôn nghe thấy nhạc của Bach trong đầu.

Đã hơn hai thế kỷ qua người ta không ngừng nghe Mozart. Một trong những bức chân dung đẹp nhất của ông để lại có màu nâu và vàng nhạt, chói lọi ánh sáng trắng, vẽ ông thuở thanh niên. Cặp mắt to ngước lên, trán rộng, môi thanh tú tươi tắn, mũi vì nhìn thẳng nên không thấy khoằm, tất cả là đôi mắt, mênh mang, thông minh tuyệt đỉnh, đa sầu đa cảm, thiên tài mệnh bạc, y hệt như luận đề của Nguyễn Du.
Ohdear.vn (http://ohdear.vn/?name=nghenhac&op=listenmusic&songId=204&albumId=51)
http://www.ohdear.vn/resources/images/1x1t.gif Tại sao người ta nghe ông mãi? Người ta không yêu một cái gì không thực sự là gắn bó, thiết thân với mình, như một nhu cầu tất yếu, như tấm ván vớt thân giữa dòng. Bởi Mozart là người bạn đường trong cuộc đời, người đồng hành vĩnh cửu, nhà văn hào viết bằng âm thanh mà tiểu thuyết bao trùm hết tất cả những gì con người có thể cảm nhận trong đời sống, cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Mozart không chỉ miêu tả, ông không ngừng vỗ về, an ủi, mở ra nguồn hy vọng, và tuyệt vời nhất, nâng tâm hồn ta lên một trạng thái tinh thần khó diễn tả, vốn là yếu tố quyết định nhất trong việc đánh giá nghệ thuật của ông.

Wolfgang Amadeus Mozart, chào đời tại Salzbourg bên Áo ngày 27.01.1756. Cha ông, Leopold Mozart – vĩ cầm thủ trong ban nhạc triều đình đồng thời cũng là nhà sư phạm danh tiếng, đã cho Mozart và cô chị gái Nannerl tiếp cận âm nhạc rất sớm, hiểu ngay rằng cậu con trai có tư chất thần đồng. Mới 5 tuổi, Mozart đã viết bản nhạc đầu tiên cho đàn clavecin. Âm hưởng nhí nhảnh vui tươi này tiên báo phần lớn phong cách âm nhạc của ông trong quãng đời ngắn ngủi có 35 năm (1756 – 1791) mà danh cầm Yehudi Menuhin tóm gọn: “Thượng đế cho chúng ta một món quà siêu nhiên rồi sau đó lại vội vàng cất đi!”.

Năm lên 6, Mozart cùng cô chị đã được ông bố cho đi trình diễn khắp châu Âu như niềm kinh ngạc xen lẫn thán phục của nhiều triều đình. Vào cuối thế kỷ 18, toàn cảnh âm nhạc Châu Âu đều như muốn dợm bước chuyển sang trang mới. Thể nhạc baroque của cung đình và nhà thờ dường mòn mỏi, nhường chỗ cho một nền âm nhạc có tính quần chúng hơn, phục vụ cho sự đi lên của giai cấp trung lưu. Gia đình nhạc sư Jean Sebastien Bach đã sang định cư ở Luân Đôn, thủ phủ của thể nhạc hòa tấu trong nhà. Khuynh hướng mới cũng tạo ra nhu cầu một thế hệ các nhà soạn nhạc mới, lãng mạn hơn, phổ cập hơn.

Đến Luân Đôn vào lúc 8 tuổi, thần đồng Mozart cũng đã hiểu được trào lưu này qua giao hưởng khúc đầu đời của ông. Chỉ 2 năm sau thôi, bản giao hưởng số 10 mang tên “Kỳ diệu” (mở đầu trầm trọng với cả giàn nhạc và bộ gió rồi tiếng vĩ cầm bỗng uyển chuyển, nhẹ lén đi vào) đã chứng tỏ bản lĩnh đáng kinh ngạc của một cậu bé mới lên 10. Cho đến năm 15 thì Mozart đã hoàn thiện tất cả các kỹ năng, và có lẽ ông chín mùi nhất ở tuổi 25.

Nhưng năm Mozart 14 tuổi cũng là một cột mốc đáng ghi nhớ. Thấy con đã sẵn sàng cho cả thế giới, ông bố Leopold hiểu rằng lãnh vực công chúng xác định tài năng và đưa con mình lên đài vinh quang phải là nhạc kịch. Lúc ấy người Ý đang thống trị opéra ở Châu Âu, và cạnh tranh với những người như Salieri không phải là điều dễ dàng, nhưng vở opéra đầu tiên của Mozart “Mitridate Re Di Ponto” trình diễn đã thành công lớn, gây phấn khởi cho các vở kế tiếp.

Vì vậy mà năm Mozart 17 tuổi, gia đình ông đã đủ sung túc để dọn đến một khu sang trọng ở Salzbourg trong căn hộ 4 phòng. Mozart đã có thể ở nhà sáng tác nhiều hơn là đi lưu diễn. Những sáng tác liên tục cho thấy giai đoạn tập sự của ông đã kết thúc, còn kinh nghiệm soạn nhạc kịch của ông ngày càng gây ảnh hưởng lớn. Bản concerto cung La trưởng soạn cho đàn violon và giàn nhạc viết năm 1775 được coi như danh tác đầu tiên thời thanh niên cho thể loại concerto này. Khi cây solo xuất hiện thính giả đã phải kinh ngạc vì người gây ý tưởng mới cho cây đàn violon đầy yểu điệu mà không kém phần chững chạc này lại chỉ là chàng trai mới 19 tuổi.

Kế đó là bản giao hưởng cũng cung La trưởng, nhạc đề chính mới nghe đã phải thích ngay, mở đầu như bâng khuâng, như tự hỏi. Bởi chàng thanh niên Mozart cũng bắt đầu biết yêu, bị từ khước và đau khổ. Năm 1778, Mozart cùng mẹ đến Paris, một trong những kinh đô âm nhạc của Châu Âu, bởi cha ông vẫn chưa thấy con mình được một chức vụ nào tương xứng. Hai mươi hai tuổi, Mozart hiểu rằng ông phải chinh phục công chúng Paris, bản giao hưởng mang tên thành phố này rõ ràng được viết đầy chủ ý với hai hành âm đầu và cuối cả giàn nhạc được chỉ định phải chơi thật lớn. Nhưng đây cũng là lần đầu tiên Mozart biết đến thảm kịch, khi ông đang viết thư cho cha khoe thành công của hòa tấu khúc thì mẹ ông qua đời ở phòng bên cạnh. Đây cũng là minh chứng về tính tiên tri của người nghệ sĩ, hành âm cuối rất khó diễn tấu, nhưng cả giao hưởng lại da diết, sâu sắc như linh cảm bi kịch.

Không nơi nào ở Pháp cho Mozart một vị trí xứng đáng, năm 1779 ông lại phải trở về quê nhà Áo. “Sao mà tôi ghét Salzbourg thế !” Mozart viết như vậy trong một bức thư, “Salzbourg không có opéra, không có nhà hát, đây không phải là chỗ xứng đáng với tài năng của tôi!”. người đã từng là vinh quang của Châu Âu nay trở về sống dưới ảnh hưởng của ông bố trong một tỉnh lẻ. Giải đáp duy nhất cho tình thế khó khăn này là thủ đô Vienna.

Năm 1780, vua Joseph Đệ Nhị lên ngôi kế tục cho vương triều Habsbourg, vị hoàng đế say mê âm nhạc này sẽ khiến Vienna trải qua mấy thập kỷ huy hoàng nhất trong lịch sử kinh thành. Ông giải phóng nông dân, cắt quyền lợi quý tộc và đưa giai cấp trung lưu lên cao. Quan trọng nhất là Joseph Đệ Nhị đề cao tự do ngôn luận. Tháng 6 năm 1781, Mozart đến Vienna đúng lúc đạo luật này được ban hành. Quảng trường lớn lót đá thô với nhà thờ đặc trưng kiến trúc phương Đông cho đến ngày nay vẫn hầu như còn nguyên như lúc Mozart đến. Ông hiểu rằng đây chính là nơi ông chờ đợi, bởi cho đến lúc đó Vienna là nơi tự do nhất, trí thức nhất và hấp dẫn nhất của cả Châu Âu.
Chỉ 3 tháng sau khi đến Vienna, Mozart đã viết xong vở nhạc kịch “Bắt cóc ở Hoàng Cung”, đặc biệt đây là vở opéra bằng tiếng Đức, thay vì thông thường bằng tiếng Ý. Đó cũng là bởi chính hoàng đế Joseph Đệ Nhị muốn đây phải là một biến cố có tầm cỡ quốc gia, một vở opéra bằng tiếng Đức. Trái hẳn với truyền thống baroque cũ, Mozart là người rất am hiểu việc viết cho giọng hát phải như thế nào, và vở nhạc kịch đã đánh dấu thành công của ông ở Vienna. Ông sớm gia nhập giới trí thức ở đây và trở thành hội viên Tam Điểm. Thật ra mục đích chính của hội này cũng chỉ là để truyền bá ánh sáng của khoa học và triết học mới, nhất là những thành tựu tinh thần từ bên Pháp. Những bản concerto cho đàn piano đẹp nhất của ông cũng được viết trong thời gian này. Xuất hiện trước thính giả Vienna, Mozart cùng lúc đóng 3 vai trò : nhà soạn nhạc, người trình tấu đồng thời cũng là người biến tấu ngẫu hứng.

Năm 1782, Mozart cưới cô Constanze Weber dù cuộc hôn nhân không được ông bố Leopold chấp thuận : “Cô ta không đẹp và cũng không xấu, nhưng cô ta yêu tôi và tôi yêu cô ta, tôi còn mong gì hơn?”. Trong lần trở về thăm cha ở Salzbourg như để hòa giải, Mozart viết bản “Thánh lễ cung Do thứ” như sự sám hối tội lỗi đã làm cho ông bố buồn. Từ đó ông không bao giờ trở lại quê nhà nữa.

Tại Vienna, Mozart vẫn không ngừng được kích thích bởi những ý tưởng mới, các bản tứ tấu và ngũ tấu trong thời gian này như xúc tích hơn, già dặn hơn. Danh tiếng và vinh quang, ông cùng vợ dọn đến ở tại khu trung tâm, trong căn nhà sau này mang danh “Ngôi nhà của Figaro”. Ông bố Leopold đến thăm vợ chồng một lần vào năm 1784, nhạc sư Haydn cũng là khách thường xuyên, còn phải kể một lần có vị khách đặc biệt là nhà soạn nhạc đến từ Bonn bên Đức mới 16 tuổi : Ludwig Van Beethoven.
Cột mốc trong thời gian này là vở nhạc kịch “Đám cưới Figaro”, nhưng thành công ở Vienna không thể so sánh với cơn bão ở Prague, thủ đô Tiệp Khắc, nhà hát nơi Mozart trình diễn vở này cho đến nay vẫn còn nguyên. Tính cách mạng của vở này đầy sức tiên tri vì chỉ 3 năm sau là cuộc cách mạng 1789 ở Pháp bùng nổ làm rung chuyển cả Châu Âu.

Không từ bỏ nguồn vui sáng tạo, Mozart viết một bản giao hưởng mang tên Prague như để đền ơn thành phố mến mộ ông, và sau đó vở nhạc kịch vĩ đại “Don Giovanni” cũng mang đặc tính chất Tiệp. Dư luận chê Mozart đã đi quá xa những định chế luân lý khi tạo ra một nhân vật phóng túng, nhưng chương cuối khủng khiếp với ba giọng hát và hai giàn nhạc chồng lên nhau của vở này có lẽ sẽ còn đọng mãi trong ký ức của người yêu âm nhạc.

Năm 1787, người cha của Mozart qua đời, cũng là năm đánh dấu bước ngoặt bi thảm trong đời ông. Kinh tế Vienna sa sút, Mozart đã qua tuổi 30, không còn là bộ mặt mới mẻ của kinh thành nữa, gió đã xoay chiều với ông, những đề nghị viết nhạc vơi dần. Chỉ riêng trong mùa hè năm 1788, ông đã viết rất nhanh xong 3 hòa tấu khúc cuối cùng, trong đó nổi bật nhất là giao hưởng mang số 40 cung Si thứ (K550). Khó ai có thể cưỡng được một cảm xúc âm nhạc mãnh liệt khi hành âm Molto Allegro đầu cất lên, dù được viết trong một hoàn cảnh khó khăn.

Năm 1791, như ngọn đèn loé sáng trước khi tắt, Mozart lại thành công với vở “Cây sáo thần” và vẫn hạnh phúc với vợ và hai con trai, dọn đến một chỗ ở mới. Các đơn đặt hàng lại đến, trong đó một công tước góa vợ đặt viết bản “Cầu hồn”, một Requiem không bao giờ hoàn tất vì vào ngày 18 tháng 11 ông lâm trọng bệnh, có lẽ là chứng suy thận nặng, ông chết ngày 05.12.1791. Lúc đó ở Vienna lại có bệnh dịch lây lan và không chắc ông qua đời vì bệnh dịch này không, chỉ đau xót rằng người ta đã chôn ông vội vàng cùng với nhiều người bị dịch khác trong hầm mộ tập thể. Vì thế ông đâu có yên nghỉ dưới ngôi mộ đẹp lúc nào cũng đầy hoa như ngày nay, trang trí bằng một cây cột ionique gẫy, một thiên thần tay bóp trán suy tư đứng tựa ở dưới. Nhưng ông yên vị mãi trong con tim của những người yêu quý ông, và Haydn bảo sau khi Mozart chết: “Có lẽ cả trăm năm nữa thế giới cũng không thể biết thêm một thiên tài tương tự”.

Mozart không chỉ để lại một gia tài âm nhạc đồ sộ. Vượt lên trên những ganh ghét đố kỵ tầm thường của người đồng thời, ông chỉ cặm cụi với niềm đam mê duy nhất, để lại tấm gương muôn đời rằng, muốn bước vào ngôi đền nghệ thuật thì phải có tài và một cái tâm trong sáng, như trẻ thơ.


Nguyễn Thuyên

http://www.ohdear.vn/resources/images/1x1t.gif

Wal
15-06-2008, 23:14
TÁC GIẢ - TÁC PHẨM : Khúc hát người chèo thuyền - Tháng Sáu
Trích tổ khúc “Bốn mùa” Op. 37b
Tác giả : Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện : Mikhail Pletnev (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/FourseasonsJune.mp3)

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/05/gondola1.jpg
Nào ta lên bờ thôi,
Dưới chân ta những con sóng nhỏ
Đang chờ dịu dàng hôn.
Và trên đầu ta chỉ còn
Những vì sao buồn bí hiểm.
(thơ A.N. Plesheev)

Barcarola (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=483) là một từ tiếng Ý chỉ khúc hát của người chèo thuyền trong âm nhạc dân gian. Các khúc ca này đặc biệt thịnh hành ở Venise, thành phố trên bờ những con kênh, và phương tiện giao thông chính là những con thuyền đặc chủng đi lại trên các con kênh này trong giai điệu trầm bổng rất đặc trưng của các bài hát.

Nhịp điệu và nhạc đệm của chúng mô phỏng những động tác chèo nhịp nhàng và tiếng mái chèo khua nước. Các bài hát này trở nên rất phổ biến trong nền âm nhạc Nga đầu thế kỷ XIX, và trở thành một phần không thể thiếu của thanh nhạc trữ tình Nga, đi vào thi ca Nga và cả hội hoạ.

Khúc hát người chèo thuyền là một tiểu phẩm nữa vẽ nên phong cảnh St. Petersburg trong tổ khúc “Bốn mùa” của Pyotr Ilyich Tchaikovsky (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=267). Thậm chí ngay cả tên gọi của nó cũng làm người ta nhớ đến những con kênh đào và những dòng sông của Thủ đô phương Bắc.

Giai điệu phóng khoáng của phần đầu tiểu phẩm vang lên ấm áp và gợi cảm, khiến người nghe cảm thấy dường như cũng bị "lắc lư" theo nhạc đệm gợi nhớ đến tiếng ngân của ghita và măng đô lin trong các bản barcarola truyền thống.

Phần tiếp theo tâm trạng thể hiện trong âm nhạc trở nên vui tươi hơn và vô lo hơn, người nghe dường như thấy cả những nhịp chèo khua nước nhanh và vang.

Nhưng rồi sau đó tất cả lại trở về bình ổn, và giai điệu rất đẹp, khiến người ta cảm thấy yên lòng, cùng với phần đệm có cả giọng thứ réo rắt. Dường như đó là hai giọng song ca. Tiểu phẩm kết thúc bằng những nốt nhạc tắt dần - con thuyền đã đi xa, và cùng với nó những giọng ca cùng với tiếng sóng vỗ cùng dần tắt.

Wal
07-07-2008, 11:24
Jean Sibelius _ Symphony No. 2 in D major, Opus 43
(Giao hưởng số 2, giọng Rê trưởng, tác phẩm số 43)
Thể hiện: Dàn nhạc Philadelphia (chỉ huy:Vladimir Ashkenazy)
I- Allegretto (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Sibelius_the_symphony_Ashkenazy/CD2_sym2/01_Allegretto.mp3)
II- Tempo andante, ma rubato (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Sibelius_the_symphony_Ashkenazy/CD2_sym2/02_Tempo_andante_ma_rubato.mp3)
III- Vivacissimo (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Sibelius_the_symphony_Ashkenazy/CD2_sym2/03_Vivacissimo.mp3)
IV- Finale (Allegro moderato) (http://www.haikyoto.com/Music/Classic/Sibelius_the_symphony_Ashkenazy/CD2_sym2/04_Finale.mp3)

“Cứ mỗi lần đến Phần Lan biểu diễn, tôi lại có những ấn tượng rất sâu sắc về hình ảnh con người Sibelius, với sức mạnh và sức sống lớn lao, bao quát, với tầm suy tư không có giới hạn, với tài năng cảm nhận và tưởng tượng, và với sự gắn bó của ông đối với Tự Nhiên. Khi nói chuyện, Sibelius giống như một con người của Âm Nhạc, Triết Học, Tôn Giáo, hay kể cả những điều đơn giản nhất trong Cuộc Sống. Và cũng giống như Rembrandt, El Greco và nhiều họa sỹ khác đã tự họa chân dung của họ bằng màu sắc, thì ở Sibelius, có lẽ là một cách vô thức, ông đã tự họa chân dung của mình bằng những giai điệu trong bản Giao hưởng số 2 của ông. Âm nhạc của ông giống như một bài hát dành cho tất cả mọi người, và dành cho tất cả những khu rừng, những hồ nước trên đất nước ông. Ông hát những giai điệu phương Đông đẹp kỳ lạ, và những tâm hồn phương Bắc đầy vui tươi hồ hởi trong Cuộc sống và Nghệ thuật của Phần Lan. Phần Lan là nơi hòa trộn của rất nhiều dân tộc, cũng giống như Mỹ. Ngày nay, nước Mỹ đang là sự pha trộn của nhiều dân tộc, nhưng đất nước Phần Lan đã làm điều đó từ cách đây hàng thế kỷ, vào giai đoạn tiền sử. Ở Phần Lan, sự tương phản giữa những kiểu người mắt xanh da trắng với những người mắt đen mang dáng dấp phương Đông là rất đáng ngạc nhiên. Tất cả kho tàng văn hóa dân gian phong phú này và cả những đặc trưng cá nhân của con người Sibelius, đều có trong Giao hưởng số 2 của ông. Mặc dù có hình thức cổ điển nhưng bản giao hưởng lại là sự bộc lộ tính tự do, phóng túng và nồng nhiệt trong cảm nhận nội tâm của và sức tưởng tượng của Sibelius – đó chính là những gì tinh túy của đất nước Phần Lan. Sibelius vẫn giữ nguyên hình thức bốn chương của thể loại giao hưởng cổ điển nhưng lại lấp đầy chúng bởi một thứ âm nhạc bùng phát và cực kỳ độc đáo. Những tác phẩm âm nhạc lớn luôn có những chủ đề lớn – những chủ đề, hay những giai điệu này – được giữ lại trong trí nhớ của người nghe để rồi được hát lên hay được huýt sáo giống như thể cái gì đó rất thân thiết và gần gũi trong cuộc sống của những người yêu nhạc. Bản Giao hưởng này có nhiều đến gần như vô tận các chủ đề và nhạc điệu khác nhau, lúc thì mộc mạc, giống như những giọng nói của con người, lúc thì giống như những tiếng khóc tưởng tượng của Tự Nhiên – những đợt sóng âm thanh dồn dập, giống như cơn gió dữ dội tràn qua mặt hồ hay xuyên qua những tán cây lớn trong rừng thẳm. Vào một lúc khác, chủ đề lại được bắt đầu với một hình hài nhỏ bé, giống như một hạt giống hay mầm phôi, và nó bắt đầu lớn dần lên đến dạng hoàn thiện với sự bày tỏ và thông điệp âm nhạc của nó. Trong một số phần, bản Giao hưởng lại là một bầu không khí cô đơn, u buồn, mang cái vẻ xa xôi của xứ sở phương Bắc, và rồi đột nhiên, tất cả lại được biến chuyển thành một nhạc điệu ấm áp và dịu dàng của con người. Bản Giao hưởng này là rất đáng chú ý bởi những tuyến dài các chủ đề và tính đơn giản gần như nguyên thủy của chúng, tất cả giống như thể Tự Nhiên đang cất tiếng hát – những giọng hát sâu thẳm đang trào lên từ lòng đất – và tương phản với chúng là những giọng hát cao vời vợi đang đáp lại, một cảm nhận về sự xung đột, mâu thuẫn. Đôi khi mỗi nhạc cụ riêng lẻ dường như là đang nói chuyện với nhau trong một sự thân ái và đồng cảm – vào một lúc khác, một số lớn các nhạc cụ lại dường như là bị lôi kéo, xô đẩy theo một Định Mệnh không thể thay đổi. Phong cách điển hình của Sibelius là sự tương phản giữa tính hoang sơ và tính mềm mại tinh tế, giữa những âm sắc tối và sáng, để tạo nên một chủ đề diễn tả cả Định Mệnh và Hy Vọng, để vượt lên trên một trạng thái u buồn và một phông nền đơn điệu. Sự điển hình đó còn là những viễn cảnh bao la về một sự lớn mạnh ở hồi kết, tại đó tất cả các chủ đề được liên kết lại để đi đến sự bộc lộ cuối cùng, huy hoàng và chiến thắng, đó là nơi hội tụ của toàn bộ bản giao hưởng với tất cả sự ấm áp, sức mạnh, tình thương và tình yêu con người.” - Leopold Stokowski

Wal
08-07-2008, 21:46
Tác phẩm tuần sau (thứ 2):

"The Pines of Rome" Của Ottorino Respighi do "dịch giả" Chauduyphanvu translate, mời các bạn đón đọc, nghe và thảo luận :)

Wal
16-07-2008, 21:57
Xin lỗi vì sự chậm trễ :)

TÁC PHẨM
Pini di Roma

(Những cây thông La Mã)

Tác giả: Ottorino Respighi (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=237)
Thời gian sáng tác: năm 1924
Công diễn lần đầu: ngày 14/12/1924 tại Nhà hát Augusteo ở Rome,
do Bernardino Molinari chỉ huy
Tổng phổ: dành cho một dàn nhạc giao hưởng lớn gồm 3 flute, 2 oboe, English horn, 2 clarinet, bass clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, glockenspiel, bass drum, snare drum, ratchet, triangle, tambourine, cymbal, gong, harp, celeste, piano, organ, record player và dàn dây. Ngoài ra Respighi còn yêu cầu có 6 buccine (một loại trumpet cổ dùng trong chiến trận của La Mã nhưng thường người ta thay bằng 4 trumpet và 2 trombone đặt ngoài sân khấu)

Tác phẩm gồm 4 chương:
1 - I pini di Villa Borghese (Những cây thông của biệt thự Borghese)
2 - Pini presso una catacomba (Những cây thông gần một hầm mộ)
3 - I pini del Gianicolo (Những cây thông trên đồi Gianicolo)
4 - I pini della Via Appia (Những cây thông trên Đường Appia)

Dưới bóng của những nhà soạn nhạc lớn như Puccini (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=72), Rossini (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=74) và Verdi (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=82), nhiều nhà soạn nhạc Ý vào lúc bước ngoặt sang thế kỉ 20 nhận ra rằng với những người đồng hương của họ âm nhạc chỉ có nghĩa là opera (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=371). Ottorino Respighi được xem là nhà soạn nhạc người Ý đầu tiên trong thời kỳ này đạt được danh tiếng lớn với các tác phẩm viết cho dàn nhạc thuần túy. Ba tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Bộ ba La Mã gồm Fontane di Roma (Những đài phun nước La Mã, 1917), Pini di Roma (Những cây thông La Mã, 1924) và Feste Romane (Những lế hội La Mã, 1929).

Năm 1913, Respighi được bổ nhiệm làm giáo sư Nhạc viện St. Cecilia ở Rome. Với chức vụ này, ông có nhiều thời gian để soạn nhạc hơn và đã đạt được thành công đầu tiên vào năm 1917 với thơ giao hưởng (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=287) Fontane di Roma (Những đài phun nước La Mã). Respighi cũng hứng thú với việc giữ gìn những truyền thống âm nhạc Trung cổ (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=History&op=Detail&cid=375) và Phục hưng (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=History&op=Detail&cid=376). Vào cùng thời điểm Fontane di Roma được xuất bản, ông đã hoàn tất tác phẩm đầu tiên trong cái về sau sẽ là bộ ba tác phẩm cho đàn lute Antiche danze ed arie (Những điệu nhạc và Vũ khúc cổ xưa) mà về sau ông phối lại cho piano (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=511) và dàn dây.

Sau vài năm đi thưởng ngoạn phong cảnh để tìm kiếm ý tưởng, Respighi bắt tay vào soạn Pini di Roma năm 1924. Bản nhạc chứa đựng những kỹ năng phối âm dàn nhạc giàu màu sắc và kỹ năng sáng tác gợi liên tưởng cùng niềm hứng thú với âm nhạc cổ của ông, với những gợi nhắc tới thánh ca thời trung cổ và các giai điệu dân gian. Mặc dù chủ đề có vẻ đơn giản nhưng nó đòi hỏi cách chơi tinh xảo, khéo léo từ mỗi bè trong dàn nhạc với những chuỗi giai điệu "bất thường". Tổng phổ của nó cũng bao gồm những nhạc cụ "hiếm": 6 cây kèn buccinae, trumpet và trombone của thời trung cổ ở chương 4, kể cả thu âm tiếng hót thật của chim sơn ca ở cuối chương 3. Respighi ghi chú rằng các nhạc cụ đồng hiện đại có thể thay thế cho kèn buccinae, nhưng không gì có thể thay thế được bản thu âm tiếng chim thực sự như sau này ông đã giải thích: "Đơn giản vì tôi nhận ra rằng không có sự kết hợp nhạc cụ hơi nào có thể giả được tiếng chim hót thật sự". Respighi không hy vọng rằng khán giả Ý, vốn yêu thích opera, sẽ đón chào tác phẩm này. Trong những lần tập dượt cho buổi công diễn đầu tiên, ông nói : "Hãy mặc họ la ó... tôi không bận tâm".

Buổi công diễn lần đầu được tổ chức vào ngày 14/12/1924 tại Nhà hát Augusteo ở Rome. Như dự đoán, khán giả đã la ó phản đối vào lúc trumpet chơi vô điệu thức ở cuối chương 1 và lúc có tiếng chim sơn ca hót. Nhưng tiếng bộ đồng ca khúc khải hoàn ở chương 4 đã lôi kéo được khán giả và giành được một tràng vỗ tay hoan hô. Từ đó tác phẩm đã trở nên nổi tiếng khi một người bạn của Respighi là nhạc trưởng Arturo Toscanini (http://nhaccodien.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=165) giới thiệu nó tại Mỹ và chỉ huy buổi công diễn lần đầu tại New York năm 1926.

Hình ảnh bằng âm nhạc vô cùng đặc biệt và tổng phổ rực rỡ nhằm đạt được hiệu quả này của tác phẩm đã được nhiều nhà soạn nhạc Mỹ xem như một niềm cảm hứng. Thực vậy, Respighi đã rất chi tiết trong việc viết những dòng miêu tả bối cảnh ông hình dung ra cho mỗi chương (được viết ở phần trên của tổng phổ).

Chương 1 - I pini di Villa Borghese (Những cây thông của biệt thự Borghese). Respighi viết: "Bọn trẻ đang nô đùa trong rừng thông của biệt thự Borghese, chúng khiêu vũ thành vòng tròn, rồi giả làm những người lính diễu hành và chiến đấu, chúng phấn khích bởi tiếng reo hò của chính mình như bầy chim nhạn lúc chiều tối, đến và đi theo bầy.”


Khúc nhạc mở đầu một cách rực rỡ, chói lọi và tuôn chảy trong những cơn lốc âm thanh, với những đoạn ngắn kèn lệnh và bài hát thiếu nhi, gồm cả phiên bản tiếng Ý bài Ring-around-the-rosy do bộ đồng hay bộ gỗ thể hiện có sự nhấn manh bằng bộ gõ màu sắc (ratchet, triangle). Chương nhạc bắt đầu dựng lên một âm thanh cao trào khi kèn trumpet thổi một nốt nghịch tai.

Chương 2 - Pini presso una catacomba (Những cây thông gần một hầm mộ).Respighi viết tiếp: "Đột nhiên, cảnh vật thay đổi. Chúng ta thấy bóng các cây thông đang nghiêng mình trang hoàng cho lối vào một hầm mộ. Từ vực sâu, âm thanh của một bản thánh ca buồn rầu cất lên, trôi nổi trong không trung như một bài ca trang nghiêm và dần dần tan đi một cách bí ẩn.”


Chương nhạc bắt đầu với những hợp âm trang nghiêm ở giọng thấp của dàn dây, sau đó kèn trombone chơi một giai điệu nhẹ nhàng gợi nhớ lại một bản thánh ca thời Giáo hoàng Gregory mãi cho đến khi âm thanh của một trumpet từ ngoài sân khấu giới thiệu chủ đề thứ hai. Khi trumpet kết thúc, dàn dây bắt đầu một nhịp điệu nhịp nhàng chuyển từ 6/4 sang 5/4. Mặc dù nhịp điệu ngày càng mạnh nhưng hai chủ đề ban đầu vẫn còn: kèn đồng tiếp tục chơi bản thánh ca, sau đó là giai điệu của trumpet bên dưới dàn dây. Chương nhạc chấm dứt với khúc cadenza yên tĩnh êm dịu và mở ra một chương mới.

Chương 3 - I pini del Gianicolo (Những cây thông trên đồi Gianicolo).
Lời Respoghi : "Có một tiếng run rẩy trong bầu không khí - những cây thông trên đồi Janiculum đứng riêng biệt, nổi bật trong ánh trăng sáng ngời. Một chú chim sơn ca đang cất tiếng hót."

Kèn clarinet chơi một đoạn độc tấu dài, mềm mại trên những hợp âm của đàn dây. Flute và dàn dây phát triển thêm chủ đề này, sau đó oboe giới thiệu thêm một chủ đề trầm bổng và nhanh chóng được dàn dây tiếp sức. Mặc dù chương nhạc luôn giữ một dòng chảy theo đà tiến tới nhưng hiệu quả chung là bình thản và trầm ngâm, không bị khuấy động. Nó dâng lên cao cùng với những hợp âm rải rác đang tuôn trào của celeste, harp và piano, sau đó clarinet kéo một nốt thật dài và tiếng hót chim sơn ca cất lên trên nền âm thanh nhẹ nhàng của dàn dây. Chương nhạc kết thúc trong sự tĩnh lặng.

Chương 4 - I pini della Via Appia (Những cây thông trên Đường Appia). "Bình minh bắt đầu ló dạng trên Đường Appia, những cây thông cô độc đang đứng canh gác một vùng đất huyền ảo, tiếng bước chân khe khẽ đều đều không ngừng nghỉ. Nhà thơ như trông thấy một cảnh tượng huy hoàng trong quá khứ: tiếng kèn trumpet cất lên và dưới ánh bình minh huy hoàng, một đội quân tiến về phía con đường thiêng liêng và trèo lên Đồi Capitol trong niềm vui chiến thắng."

Đội quân trong chương cuối tiến đến, với bass clarinet và kèn đồng trầm cùng cất lên những đoạn rời rạc trong khi âm thanh cao hơn của dàn dây bắt đầu kéo xuống nửa cung. Một đoạn độc tấu English horn mở rộng đánh dấu buổi bình minh và các kèn đồng cùng cất lên, cả trên và ngoài sân khấu. Chương nhạc tiến đến một đoạn cao trào - và thính giả không thể không thấy hình ảnh của một cái gì đó lớn lao đang vui mừng, hân hoan chuyển động.


chauduyphanvu (tổng hợp)


Nguồn : http://en.wikipedia.org
http://www.barbwired.com

DOWNLOAD:
http://www.mediafire.com/?kyhv1trjaf0

Wal
09-08-2008, 13:20
TÁC GIẢ - TÁC PHẨM : Edvard Grieg _ Sonata for violin & piano No. 3 in C minor, Op. 45
(Sonata cho violin và piano số 3 giọng Đô thứ, tác phẩm số 45)

Sau gần 20 năm kể từ khi hoàn thành tác phẩm Violin sonata số 2, Grieg mới bắt tay vào sáng tác Violin sonata số 3 và tác phẩm này đã trở thành một trong những violin sonata nổi tiếng nhất của thời kì Lãng mạn.

Được viết trong khoảng thời gian từ năm 1886 đến 1887, có người cho rằng cảm hứng của Grieg khi sáng tác tác phẩm này xuất phát từ chuyến viếng thăm nhà soạn nhạc của nữ nghệ sĩ violin trẻ tuổi tài năng người Ý Teresina Tua tại ngôi nhà của nhạc sĩ gần Bergen. Tuy nhiên, trong lần đầu tiên công diễn tác phẩm này vào ngày 10 tháng 10 năm 1887 tại Leipzig thì phần violin do nghệ sĩ bậc thầy người Nga Adolf Brodsky đảm nhiệm và đích thân Grieg chơi piano.

Chương mở đầu của bản sonata khiến người nghe bắt gặp một Grieg đầy kịch tính và đam mê, một điều rất hiếm gặp trong các tác phẩm khác của ông. Chủ đề đầu tiên đầy cấp bách ở giọng Đô thứ được biến hóa trong phần phát triển (và cả trong phần coda) trong một giai điệu mới của cây đàn violin được phần hòa âm của cây đàn piano bao bọc.

Chương 2 cho ta thấy một Grieg thân quen hơn qua những giai điệu đặc trưng mang âm hưởng dân ca Na Uy (mà chúng thường được gọi với cái tên Griegian). Giai điệu trung tâm là một điệu nhảy ở giọng Mi thứ với tốc độ Allegro molto còn ở phía xa xăm là một giai điệu giản dị, dịu dàng như một bài hát ở giọng Mi trưởng.

Chương cuối của tác phẩm được viết theo thể sonata được cô đọng lại, không có phần phát triển trung tâm, dựa trên 2 chủ đề chính. Chủ đề 1 mang âm sắc mạnh mẽ, chủ đề 2 là giai điệu violin phóng khoáng. Hai chủ đề này được trang trí với những vòng hoa là những hợp âm rải phức tạp của cây đàn piano và bản sonata tiến về phía trước rồi kết thúc trong những âm thanh mạnh mẽ ở giọng Đô trưởng.


(Ai có tác phẩm này bổ sung giùm há :) )

Wal
18-08-2008, 14:06
Tuần này xin giới thiệu với các bản bản ballade nổi tiếng của Chopin. Trước đây mình ấn tượng khi nghe nó trong phim The pianist, đến bây giờ nó vẫn nằm trong top favorite.
Ballade No.1, Op.23 (Frederic Chopin)


Người dịch: chauduyphanvu
Tác giả: Frederic Chopin
Thời gian sáng tác: 1935-1936
Đề tặng: Viên đại sứ người Đức Baron de Stockhausen
http://www.usc.edu/dept/polish_music/composer/Chopin_portrait.jpg



Bản Ballade số 1 là bản đầu tiên trong 4 Ballade và thường được xem là một trong những tác phẩm vĩ đại của Chopin. Trước ông, không ai sáng tác ra thể loại nhạc nào được gọi là Ballade (Một thể loại luôn gắn liền với thơ). Một khi được Chopin sáng tạo ra, nó không còn phải tuân theo một quy tắc nào nữa và điều này giúp ông thoải mái hơn khi viết ra những giai điệu mới. Ông sử dụng nhiều kỹ thuật kết cấu và giai điệu trữ tình để viết nên một loại âm nhạc mạnh mẽ, anh hùng. Thể loại Ballade đánh dấu thời kỳ trưởng thành trong âm nhạc của ông, nó như chỉ dành riêng cho tài năng và kỹ thuật của ông. Một bản Ballade điển hình của Chopin bắt đầu với giai điệu ngọt ngào và trữ tình, sau đó âm nhạc chuyển dần sang bi thương một cách tự nhiên, theo cách ấy thì giai điệu được viết tiếp sẽ trở nên huyền ảo, mơ mộng. Ballade được xem là rất khó dựa trên cả âm nhạc và kỹ thuật, chúng thường nằm trong tiết mục biểu diễn của các Pianist hiện đại.


- James Huneker (Một nhạc sỹ và nhà bình phê bình nhạc người Mỹ) gọi tác phẩm này là "Odyssey trong tâm hồn Chopin" (Odyssey là một tác phẩm sử thi của Hy Lạp cổ đại). Ông viết bản Ballade đầu tiên này tại Vienna và hoàn tất tại Paris năm 1936. Dựa theo một số tài liệu văn học, bản Ballade này được truyền cảm hứng bởi một nhà thơ sống tại Paris cùng thời với Chopin tên Adam Mickiewicz.

http://chopin.files.wordpress.com/2007/12/chopin-ballade.jpg

- Bản nhạc được xây dựng trên hai chủ đề chính, chủ đề thứ nhất bắt đầu ở ô nhịp thứ 7 và chủ đề thứ hai bắt đầu ở ô nhịp 69. Nhịp điệu chính là 6/4, ngoại trừ khúc giới thiệu đầu là 4/4 và ở coda là 2/2. Mỗi phần của bài nhạc đều đòi hỏi nhiều kỹ thuật như chạy ngón phức tạp, hợp âm cực nhanh và rộng, các nốt ở quãng 8, và các hợp âm nửa cung ở phần cuối bài. Cấu trúc phức tạp của nó được lấy từ thể loại Sonata và Variation (Biến tấu). Như là một người kể chuyện, khúc mở đầu của bản nhạc tràn ngập cảm xúc ảm đạm, tối tăm. Vài phút sau, nhịp điệu tăng nhanh dần, và theo thời gian, những giai điệu đẹp đẽ và lãng mạn nhất của Chopin tuôn trào, chúng ta cảm nhận được vẻ anh hùng, cảm xúc mạnh mẽ. Chopin đã viết ra một giai điệu không thể nào quên của ông, đẹp đẽ, lãng mạn, chủ đề lượn vòng quanh những chuỗi nốt liên ba. Chủ đề chính trở lại nhanh chóng, nhưng chỉ là một chiếc cầu nối dựng nên những sự bày tỏ mạnh mẽ cho nhiều chủ đề luân phiên khác nhau, sau đó là những cảm xúc bi thương lên đến tột đỉnh - một điều đặc trưng trong âm nhạc Chopin. Giai điệu lại ảm đạm, tối tăm, bão tố dẫn đến một cái kết bi thảm và đầy lo âu, lấp lánh sắc màu và nhiều mâu thuẫn. Không phải bàn cãi, đây là một trong những sáng tác vĩ đại nhất của Chopin trong những năm đầu tại Paris. Và còn thêm 3 bản Ballade nữa, nhưng dường như chỉ bản số 4 Op.52 là có đủ khả năng sánh ngang bản Op.23 này.

------------
Tổng hợp từ các nguồn sau:
http://www.chopinmusic.net/en/works/ballades/
http://allmusic.com/cg/amg.dll?p=amg&sql=42:3004~T1
http://pocopoco.wordpress.com/2008/02/18/chopin-ballade-for-piano-no1-in-g-minor-op23/
http://wikipedia.org

-------------
DOWNLOAD:
Ballade No.1 in G Minor Op.23 (http://www.nhaccodien.info/forum/ballad/ChopinBalladeNo.1inGMinorOp.23JanuszOlejniczak.mp3 ) -Janusz Olejniczak, Piano

Wal
06-09-2008, 10:15
Pavarotti: Bừng sáng 9 nốt Đô huyền thoại

Hôm nay - 6/9/2008 là kỉ niệm tròn 1 năm ngày mất của Luciano Pavarotti, những người hâm mộ cùng nghe lại một trong những aria đã làm nên tên tuổi của Pavarotti. Một lần nữa chúng ta lại được thưởng thức các nốt Đô hùng vĩ và mạnh mẽ mà mỗi khi Pavarotti cất lên - "cả không gian xung quanh như bừng sáng".



Aria: Ah! mes amis... Pour mon âme (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/LaFilleDuRegiment.mp3)
Trích opera La Fille du Regiment (Người con gái của trung đoàn)
Âm nhạc: Gaetano Donizetti
Libretto: Georges Henri Vernoy de Saint-Georges & Jean-François Bayard
Thể hiện: Luciano Pavarotti (tenor) cùng dàn nhạc và hợp xướng nam Ambrosian Singers
(chỉ huy: Richard Bonynge)


*****
Năm 1966, tại nhà hát Royal Convent Garden - một trong những nhà hát danh giá nhất thế giới, có một sự kiện nổi bật. Đó là đêm diễn vở operaLa Fille du Regiment (Người con gái của trung đoàn) rất được yêu thích của Donizetti với sự xuất hiện của giọng soprano nổi tiếng Joan Sutherland và một tenor trẻ tuổi đang lên - Luciano Pavarotti.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/09/pava-laboheme-daylife-comok.jpg
Pavarotti trong vai Rodolfo, vở La Bohème (Giacomo Puccini)
Nguồn: daylife.com

Vai Rodolfo trong vở La Bohème của Puccini là “cuốn hộ chiếu” đưa Pavarotti đến các nhà hát opera nổi tiếng trên thế giới và là “mảnh đất màu mỡ” để xây dựng mối quan hệ với các ca sĩ nổi tiếng cũng như các nhạc trưởng uy tín. Nhưng sự vượt trội của Pavarotti so với các giọng tenor khác thì phải qua vai Tonio trong La Fille du Regiment mới được thể hiện.

Pavarotti đã có một đêm diễn xuất thần khiến khán giả (bao gồm cả gia đình hoàng gia Anh) như bị mê sảng. Cả khán phòng rung chuyển như sắp nổ tung và Pavarotti đã thực sự trở thành một tượng đài.
La Fille du Regiment, một vở opera của nhà soạn nhạc Ý nhưng lại có libretto bằng tiếng Pháp, là một trong những kiệt tác của Donizetti nói riêng và opera belcanto nói chung.

Opera belcanto – thể loại opera truyền thống của Ý, phát triển từ nghệ thuật “hát đẹp” (bel canto) của Ý và thực sự đạt đến đỉnh cao nhờ sự đóng góp của 3 nhà soạn nhạc tài năng Gioacchino Rossini, Vincenzo Bellini và Gaetano Donizetti.

Điểm đặc trưng của opera belcanto là những tuyến giai điệu tuyệt đẹp, trong sáng và đặc biệt là những đoạn nhạc màu sắc (coloratura) lướt nốt với tốc độ rất nhanh, những nốt cao trên mây và muôn vàn những kĩ thuật xử lý phức tạp để người ca sĩ có thể phô bày hết vẻ đẹp âm thanh của giọng cũng như nghệ thuật hát tinh xảo.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/09/pava-66.jpg

Pavarotti cùng các bạn diễn năm 1966 trong La Fille du Regiment


Ah! mes amis... Pour mon âme là aria trung tâm của cả vở La Fille du Regiment, thể hiện tâm trạng háo hức của Tonio khi được gia nhập trung đoàn từ sự dẫn dắt của tình yêu với Marie - "người con gái" của trung đoàn.

Ah! mes amis, quel jour de fête!
Je vais marcher sous vos drapeaux.
L"amour, qui m"a tourné la tête.
Désormais me rend un héros,
Ah! quel bonheur, oui, mes amis,
Je vais marcher sous vos drapeaux!
Qui, celle pour qui je respire,
A mes voeux a daigné sourire
Et ce doux espoir de bonheur
Trouble ma raison et mon coeur! Ah!
Ah! mes amis, quel jour de fête!
Je vais marcher sous vos drapeaux.

Pour mon âme, quel destin!
J"ai sa flamme et j"ai sa main!
Jour prospère! Me voici
Militaire et mari!


Trong đoạn kết của aria này, khi được những người lính chấp thuận tình cảm của mình với Marie, Tonio đã thể hiện niềm vui sướng tột độ của mình với 9 nốt Đô cao (c2) dồn dập, đặc biệt là nốt Đô cuối kéo dài, hát toàn giọng.

Nốt Đô cao vốn được coi là giới hạn của tenor và thường là nốt kết hoặc trong đoạn cao trào của mỗi aria dành cho tenor. Vì thế, việc làm sao hát đẹp được một nốt Đô hầu như là mục đích của tất cả những ca sĩ giọng tenor. Còn gì phấn khích hơn khi vào nhà hát để thưởng thức những nốt cao rực rỡ tròn đầy của những giọng tenor, soprano!


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/09/pava.jpg


Pavarotti luôn muốn tạo ra một thứ âm thanh mới riêng biệt, mới mẻ


và đầy cuốn hút từ giọng hát độc đáo của mình


Thành thực mà nói, giọng Pavarotti không phải là một giọng thuận với opera belcanto. Pavarotti sở hữu một giọng lirico-spinto tenor (nam cao trữ tình-kịch tính) sáng khỏe, chắc nịch. Trong khi những vai nam trong opera belcanto được viết với những kĩ xảo màu sắc thường phù hợp với giọng leggiero tenor (nam cao nhẹ) bay bổng, thanh thoát.

Điều khiến Pavarotti được giới phê bình cũng như những người hâm mộ đánh giá cao, và có thể bỏ qua những hạn chế trên chính bởi một âm sắc tự nhiên đẹp tuyệt đối cũng như những nốt cao sáng rực rỡ, chắc nịch mà hiếm giọng tenor nào cùng thời ông có thể sánh bằng. Thưởng thức nghệ thuật của Pavarotti không phải ở khả năng diễn xuất, hay động tác hình thể, mà là thưởng thức vẻ đẹp âm thanh của giọng hát.

Đó là một giọng hát "không mang màu sắc Ý truyền thống" như Pavarotti từng thú nhận. Pavarotti luôn muốn tạo ra một thứ âm thanh mới riêng biệt, mới mẻ và đầy cuốn hút từ giọng hát độc đáo của mình.

Khi Pavarotti trình diễn, nghe ông hát, bạn không nhất thiết phải hiểu lời, không cần phải nhìn biểu cảm của gương mặt, ánh mắt, cử động của cơ thể, bạn chỉ cần nghe thôi. Tất cả những gì đến với bạn là thứ âm nhạc thuần khiết đến từ thứ nhạc cụ tuyệt vời nhất trên thế gian – giọng hát. Ít người biết rằng, cảnh giới cao nhất đối với tất cả những nghệ sỹ chơi nhạc cụ là tạo ra một thứ âm thanh “như giọng hát”, một thứ âm thanh giàu tình cảm và gần gũi với con người.

Ngày 6/9/2008 hôm nay là kỉ niệm tròn 1 năm ngày mất của Luciano Pavarotti, chúng ta cùng nghe lại một trong những aria đã làm nên tên tuổi của Pavarotti. Đây là bản ghi âm studio được thực hiện vào năm 1967, chỉ một năm sau đêm diễn huyền thoại năm 1966.

Một lần nữa chúng ta lại được thấy gần như trọn vẹn giọng hát thời thanh xuân của một trong những giọng tenor đẹp nhất trong lịch sử. Một lần nữa chúng ta lại được nghe các nốt Đô hùng vĩ và mạnh mẽ mà mỗi khi Pavarotti cất lên, cả không gian quanh ta như bừng sáng.



Văn Phương



Lời dịch

Ôi! các bạn tôi, vui sao ngày hội!

Cùng các bạn tôi sắp bước dưới cờ.

Tình yêu đã thay đổi đầu óc này.

Biến tôi thành một người hùng từ đó.

Phải, các bạn ơi, hạnh phúc quá

Cùng các bạn tôi sắp bước dưới cờ!

Phải, người mà vì nàng tôi thở

Đã rủ lòng cười với nguyện ước của tôi

Và hi vọng về hạnh phúc dịu êm

Khiến cho tâm trí tôi khuấy động!

Ôi! các bạn tôi, vui sao ngày hội!

Cùng các bạn tôi sắp bước dưới cờ.




Vì linh hồn này. Định mệnh tuyệt vời!

Tôi có được bàn tay nàng cùng ngọn lửa!

Phơi phới ngày vui mừng hớn hở!

Có tôi đây: một anh lính, anh chồng!

Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//4736/index.aspx)

Wal
15-09-2008, 13:51
Những khúc nhạc chiều cho dàn dây (P.1)


Những serenade nổi tiếng nhất ra đời trong thế kỉ 18 chắc chắn là những serenade của Wolfgang Amadeus Mozart. Và trong số đó, bản “Eine kleine Nachtmusik” là một tác phẩm vô cùng quen thuộc đối với những người yêu nhạc Mozart nói riêng và nhạc cổ điển nói chung.


Bản nhạc: Serenade No.13 in G major K.525 Eine Kleine Nachtmusik
Dàn nhạc: Franz List Chamber Orchestra;
Nhạc trưởng: Janos Rolla


1. Allegro (http://boyunglee.com/music/mozart/divertimento-serenade/serenade13/MozartSerenadeNo.13inGK.525EineKleineNachtmusik.1. AllegroFranzListChamberOrchJanosRolla.mp3)
2. Romanze Andante (http://boyunglee.com/music/mozart/divertimento-serenade/serenade13/MozartSerenadeNo.13inGK.525EineKleineNachtmusik.2. RomanzeAndanteFranzListChamberOrchJanosRolla.mp3)
3. Menuetto Allegretto (http://boyunglee.com/music/mozart/divertimento-serenade/serenade13/MozartSerenadeNo.13inGK.525EineKleineNachtmusik.3. MenuettoAllegrettoFranzListChamOrchJanosRolla.mp3)
4. Rondo Allego (http://boyunglee.com/music/mozart/divertimento-serenade/serenade13/MozartSerenadeNo.13inGK.525EineKleineNachtmusik.4. RondoAllegoFranzListChamberOrchJanosRolla.mp3)


*****
Serenade (khúc nhạc chiều) có thể là một bản tình ca dành tặng cho một cá nhân, được biểu diễn dưới cửa sổ vào lúc chiều tối, đối lập với thể loại aubade (khúc nhạc sớm). Nhưng loại serenade quan trọng nhất và thịnh hành nhất trong lịch sử âm nhạc là một tác phẩm viết cho hòa tấu khí nhạc quy mô lớn gồm nhiều chương, gần giống với các thể loại divertimento và cassation.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/09/serenade-mozart-amazon.jpg

“Eine kleine Nachtmusik” thường xuyên
xuất hiện trong những CD
tuyển chọn nhạc Mozart
So với các thể loại tác phẩm nhiều chương viết cho hòa tấu lớn khác (giao hưởng chẳng hạn), serenade thường có tính chất nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Khi soạn serenade, nhà soạn nhạc coi trọng tính chất du dương hơn là việc phát triển chủ đề hay sức mạnh kịch tính.
Những serenade nổi tiếng nhất ra đời trong thế kỉ 18 chắc chắn là những serenade của Wolfgang Amadeus Mozart. Và trong số đó, bản Eine kleine Nachtmusik là một tác phẩm vô cùng quen thuộc đối với những người yêu nhạc Mozart nói riêng và nhạc cổ điển nói chung.
Serenade No. 13 cho đàn dây giọng Son trưởng K. 525, hay còn gọi là Eine kleine Nachtmusik được Mozart sáng tác tại Vienna vào năm 1787, cùng thời kỳ soạn opera Don Giovanni. Cái tên tiếng Đức “Eine kleine Nachtmusik” do chính Mozart đặt và có nghĩa là “một serenade nhỏ”.
So với các serenade trước đó của Mozart (soạn trong những năm ông ở Salzburg), Eine kleine Nachtmusik cần ít nhạc công hơn. Tác phẩm được viết cho một dàn nhạc thính phòng nhỏ gồm 2 violon, viola, cello và contrabass. Tuy nhiên ngày nay khi biểu diễn serenade này, người ta thường huy động nhiều nhạc công hơn cho mỗi bè nhạc cụ.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/09/Serenade.jpg

Bức tranh Serenade - Nguồn: aefraser.com

Chúng ta không biết chính xác Mozart soạn bản serenade này nhân sự kiện lễ lạt cụ thể nào. Có người cho rằng ông đã dùng cái hoa mĩ, tao nhã và hoàn hảo về hình thức của Eine kleine Nachtmusik như một cách hóa giải cho cái sáo rỗng và vụng về có chủ ý của tác phẩm Ein musikalischer Spass (Một trò đùa âm nhạc) K. 522 mà ông soạn 6 tuần trước đó.
Còn nhà âm nhạc học Alfred Einstein thì quả quyết rằng Mozart viết bản serenade này để đáp ứng một nhu cầu nội tâm. Nếu đúng thế thì đây là một điều hiếm thấy ở Mozart, một nhà soạn nhạc chẳng mấy khi sáng tác serenade mà không có một mục đích hay sự thúc đẩy nào đó từ bên ngoài, chẳng hạn như vấn đề tài chính.
Ban đầu Eine kleine Nachtmusik có 5 chương nhạc nhưng chương thứ 2 (một khúc minuet) về sau đã bị loại bỏ và tác phẩm còn 4 chương:
I. Allegro
II. Romanze: Andante
III. Menuetto: Allegretto
IV. Rondo: Allegro


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/09/MozartEineKleineNachtmusik-all-music-sheetsok.jpg

Trang đầu tổng phổ của“Eine kleine Nachtmusik”
với 4 khuông nhạc cho 4 bè nhạc cụ - Nguồn: all-music-sheets.com

Vào thời Mozart, Eine kleine Nachtmusik là một serenade không theo thông lệ vì chỉ viết cho nhạc cụ dây. Serenade thế kỉ 18 thường có sự tham gia của nhạc cụ hơi, được biểu diễn ngoài trời và thường bắt đầu và kết thúc bằng những chương nhạc mang tính chất hành khúc do các nhạc công hay phải diễu hành đến và rời khỏi nơi biểu diễn.
Đến thế kỉ 19, thể loại serenade đã chuyển thành tác phẩm hòa nhạc, ít liên quan đến việc biểu diễn ngoài trời trong những dịp lễ lạt tôn vinh. Những serenade chỉ soạn cho đàn dây xuất hiện nhiều hơn. Năm 1880, Tchaikovsky đã soạn Serenade cho dàn dây Op. 48 để tỏ lòng khâm phục những bản serenade của Mozart.


Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4788/index.aspx))

Wal
02-10-2008, 16:52
Tuần này xin giới thiệu cùng các bạn tác phẩm: Violin Concerto Op.64 của Mendelssohn. Đây cũng là tác phẩm Violin Concerto mình thích nhất :)

"Viên ngọc của trái tim" - món quà từ Meldenssohn

Sau rất nhiều năm tháng lịch sử biến động, cuối cùng nhà soạn nhạc Felix Mendelssohn cũng thực hiện được lời hứa "Soạn một bản violon concerto giọng Mi thứ!". Bản nhạc đã trở thành "Viên ngọc của trái tim" trong kho tàng âm nhạc Đức, làm say mê biết bao thế hệ người nghe nhạc.

***
Tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ 75 của mình, Joseph Joachim (1831–1907), một trong những nghệ sĩ violon có ảnh hưởng nhất mọi thời đại, đã nói với các vị khách: “Người Đức có 4 bản violon concerto. Bản vĩ đại và không thỏa hiệp nhất là của Beethoven. Bản của Brahms ganh đua quyết liệt với nó một cách nghiêm trang. Bản phong phú và có sức quyến rũ nhất là do Max Bruch viết. Nhưng bản nội tâm nhất, viên ngọc của trái tim, là bản của Mendelssohn.”


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/03/liveinternetru.jpg

"Violon concerto giọng Mi thứ" của Felix Mendelssohn
được coi là "Viên ngọc của trái tim" trong kho tàng âm nhạc Đức
Nguồn: liveinternet.ru

“Viên ngọc của trái tim” mà Joachim nói đến chính là bản Violon concerto giọng Mi thứ, Op. 64 của nhà soạn nhạc người Đức Felix Mendelssohn (1809–1847). Khi mới 12 tuổi, Joachim đã được trình diễn tác phẩm này trong vai trò soloist (nghệ sĩ độc tấu).
Mendelssohn đã viết bản concerto này dành tặng nghệ sĩ violon tài năng Ferdinand David, một người bạn thân của ông (trên danh nghĩa cũng là thầy dạy của Joachim - người được ông bảo trợ). Quãng thời gian đó, David là concertmaster (nghệ sĩ violon chính) của dàn nhạc Leipzig Gewandhaus mà Joachim là thành viên và Mendelsshohn được giao trọng trách chỉ huy từ năm 1835.
Năm 1838, Mendelssohn đã hứa soạn một bản violon concerto dành cho Ferdinand David. Trong một bức thư gửi David đề ngày 30/7/1838, Mendelsshohn viết: “Tôi muốn viết một bản violon concerto cho anh vào mùa đông tới. Một bản ở giọng Mi thứ đang lướt qua óc tôi và đoạn mở đầu của nó sẽ không để cho tôi yên ổn.”
Trong suốt thời gian soạn bản violon concerto này, Mendelssohn đã thư từ qua lại thường xuyên với David để nhận lời khuyên về tác phẩm. Đáp lại những thắc mắc của David năm 1839, Mendelssohn trả lời: “Anh thật là tốt khi thúc ép tôi về bản violon concerto! Nhưng đó là một nhiệm vụ không dễ dàng.”
Quả thật, phải mất 6 năm, Mendelssohn mới thực hiện xong lời hứa của mình. Một trong những nguyên nhân chậm trễ là do vị quốc vương mới lên ngôi năm 1840 của nước Phổ, Friedrich Wilhelm IV.
Đó là một người không thực tế và hơi điên rồ. Ông ta triệu tập hầu hết những nhà soạn nhạc nổi tiếng của Đức và vạch ra những kế hoạch phô trương cho Berlin - điềm báo trước cho những kế hoạch kỳ quái của Hitler sau này. Gia đình Mendensshohn đã chuyển đến thủ đô năm 1811 và giục giã ông rời Leipzig trở về nhà ở Berlin.
Khi kế hoạch của nhà vua sụp đổ thì Mendelsshohn đã lãng phí hai trong số vài năm buồn bã còn lại của cuộc đời. Đây chính là lý do chủ yếu khiến ông không thể hoàn thành được bản violon concerto cho đến tận năm 1844.
Thêm một điều không may mắn cho ông nữa: Mendelssohn bị ốm nên không thể chỉ huy buổi công diễn tác phẩm lần đầu tiên vào ngày 13/3/1845 tại Leipzig. Nhà soạn nhạc người Đan Mạch Niels Gade đã chỉ huy thay ông và phần độc tấu violon do người được đề tặng, Ferdinand David, đảm nhiệm.
Nét nhạc xao xuyến, rạo rực do đàn violon độc tấu ngay lúc bắt đầu chương I (Allegro molto appassionato) đã làm những người sành sỏi Saxon ngạc nhiên và vui thích. Bỏ qua đoạn trình bày kép theo thông lệ, Mendelsshohn để cho violon kéo dài một chủ đề chính trữ tình được bắt đầu ở ô nhịp thứ hai.
Giai điệu nồng nàn say đắm là đặc trưng nổi bật nhất của bản concerto nhưng sức hấp dẫn cân bằng là cách Mendelssohn phát triển. Ra khỏi phần mở đầu không theo thông lệ, một cấu trúc trong đó nghệ sĩ độc tấu và dàn nhạc quấn quýt một cách linh hoạt và đa dạng, hơn là chỉ đơn giản đảm nhiệm những bè đối lập với nhau một cách hào nhoáng.
Đây là một trong những tác phẩm viết cho dàn nhạc cuối cùng và giàu cảm hứng nhất của Mendelssohn (cùng với Elijah viết cho hợp xướng và dàn nhạc.) Mendelssohn đã đạt tới đỉnh cao của những cảm xúc thanh cao, tế nhị trong tác phẩm này. Âm nhạc của nó đầy sức lôi cuốn bởi tính chất nhiệt thành, say đắm lãng mạn chủ nghĩa, nguồn cảm hứng trữ tình, vẻ đẹp duyên dáng tuyệt vời của những giai điệu uyển chuyển ngập tràn tác phẩm.
Violon concerto giọng Mi thứ đã trở thành một tác phẩm trụ cột trong vốn tiết mục thể loại violon concerto. Mỗi năm, nó lại có mặt trong vô số các chương trình hòa nhạc lớn nhỏ khắp nơi trên thế giới. Giới phê bình xếp nó ngang hàng với các concerto xuất sắc của Beethoven, Brahms và Tchaikovsky.
Còn khán thính giả thì hầu như luôn bị nó mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên. Vì thế mà dù trong di sản âm nhạc của Mendelssohn có đến 7 bản concerto khác nhưng cụm từ “concerto của Mendelssohn” lại thường xuyên được ưu ái dùng để chỉ tác phẩm này mà thôi.




Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/3060/index.aspx)


-------------------------------

Các bạn có thể đọc tham khảo thêm ở một số trang của nước ngoài nói về tác phẩm này:
http://en.wikipedia.org/wiki/Violin_Concerto_(Mendelssohn (http://en.wikipedia.org/wiki/Violin_Concerto_%28Mendelssohn))
http://lasr.cs.ucla.edu/geoff/prognotes/mendelssohn/violinCon.html


DOWNLOAD:
Violin concerto



Nadja Salerno-Sonnenberg,Violin
New York Chamber Symphony Gerard Schwarz conduct



1. Allegro molto appassionato (http://boyunglee.com/music/mendelssohn/vc/MendelssohnViolinConcertoinEMinorOp64.I.Allegromol toappassionatoNadjaSalernoSonnenbergNYChamSym.mp3)
2. Andante (http://boyunglee.com/music/mendelssohn/vc/MendelssohnViolinConcertoinEMinorOp64.II.AndanteNa djaSalernoSonnenbergNYChamSym.mp3)
3. Allegretto non troppo-Allegro molto vivace (http://boyunglee.com/music/mendelssohn/vc/MendelssohnViolinConcertoinEMinorOp64.III.Allegret tonontroppoAllegromoltovivace.mp3)
Sara Jang, Violin
New York Philharmonic



2. Andante (http://boyunglee.com/music/mendelssohn/vc/MendelssohnViolinConcertoinEMinorOp64.II.AndanteSa raJang.mp3)


Có một bản thu âm chị này:
Viktoria Mullova - Beethoven, Mendelssohn - Violin Concertos


http://pixhost.eu/avaxhome/avaxhome/2008-06-02/55_2.jpg
Classical | APE + CUE | 1 CD, Covers | 255 MB | RS
Date: August 12, 2003
Composer: Ludwig van Beethoven, Felix Mendelssohn
Conductor: John Eliot Gardiner
Performer: Viktoria Mullova
Orchestra: Orchestre Revolutionnaire et Romantique
Tracklist
Violin Concerto in D major, Op. 61
01 - Allegro
02 - Larghetto
03 - Rondon
Violin Concerto in E minor, Op. 64
04 - Allgro molto
05 - Andante
06 - Allegro non troppo
Download - Beethoven, Mendelssohn: Violin Concertos (http://rapidshare.com/files/119503029/VMBeeMeVC.txt)

Có rất nhiều nghệ sĩ thu âm bản này, mình thích nhất là bản của Kogan chơi, tiếc là không có sẵn ở đây...

À, giới thiệu thêm 1 phiên bản chuyển soạn sang flute nữa, rất thú vị!

http://lamthanhthuy.multiply.com/music/item/30

Ran
03-10-2008, 11:34
Tôi đã rất may mắn khi lần đầu tiếp xúc với âm nhạc của Mendelssohn lại chính là concerto này. Đúng như Ngọc Anh viết “Còn khán thính giả thì hầu như luôn bị nó mê hoặc ngay từ lần thưởng thức đầu tiên”, vừa mới nghe giai điệu mở đầu, tôi đã thốt lên: “Tuyệt diệu!” Vừa dịu dàng, mê đắm, vừa thanh thoát, chừng mực. Dường như đấy là một bài ngợi ca dạt dào về tâm hồn, về vẻ đẹp đến thắt lòng của CON NGƯỜI. Không thể tin được khi viết concerto này (1844), người nhạc sĩ mới có 35 tuổi, rồi 3 năm sau, ông đã từ giã cuộc đời. Ông có linh cảm nào về cuộc sống ngắn ngủi của mình không mà âm nhạc của ông sớm vươn tới mọi ngõ ngách sâu kín của tâm hồn? Hay tạo hóa ghen tị vì ông thấu hiểu nhân gian đến thế nên không để ông được sống lâu hơn? Tôi chỉ biết một điều, âm nhạc của ông tràn đầy một vẻ đẹp sáng trong không thể nào diễn tả, dù ngay trong những đoạn xa vắng, da diết và chơi vơi nhất khi violin cất tiếng một mình. Kể từ đấy, với tôi, Mendelssohn là đại diện cho vẻ quý phái trong âm nhạc.

Cá nhân tôi cho rằng, đây là một concerto rất khó thể hiện được khí chất cần có. Tôi đã nghe vài bản thu âm. Isaac Stern chơi có vẻ hơi chói, gắt và làm kém đi vẻ trữ tình. Yehudi Menuhin dường như hơi cứng, chưa được thật sự thanh thoát. Maxim Vengerov thì ngọt ngào quá, ngọt ngào đến mức “mê lô”. Cũng có thể ấn tượng này do cách xử lý của dàn nhạc và nhạc trưởng trong các bản thu đó làm dày thêm. Các bạn khoan nóng tiết rằng tôi “múa rìu qua mắt thợ” nhé, hãy góp ý cho tôi đi. >:D< Những nghệ sĩ khác thì tôi chưa được nghe. Không biết Gil Shaham và Vadim Repin có ghi âm với concerto này chưa, tôi vẫn thầm mong hai violinist mà tôi yêu mến (thời nay) sẽ thật xuất sắc khi làm điều đó.

Cảm ơn Wal đã đưa lên diễn đàn một bài viết đầy tình cảm của Ngọc Anh. Có điều nhờ Wal chút xíu, vì câu mở đầu bài viết trên: “Người Đức có 4 bản violin concerto. Bản vĩ đại và không thỏa hiệp nhất là của Beethoven. Bản của Brahms ganh đua quyết liệt với nó một cách nghiêm trang. Bản phong phú và có sức quyến rũ nhất là do Max Bruch viết. Nhưng bản nội tâm nhất, viên ngọc của trái tim, là bản của Mendelssohn.” Nếu được, Wal cho bổ sung link của bản concerto của Max Bruch, để mọi người có dịp so sánh tức thì, Wal nhé! Tôi đã có dịp được nghe cả 4 bản này. Bản của Beethoven đứng riêng một cõi. Bản của Brahms ấm áp và tinh tế như toàn bộ âm nhạc của ông. Chương 1&2 bản của Bruch (Violin Concerto no.1 in G minor op.26, không biết có đúng bản được nói tới không?) làm cho tôi kinh ngạc và mê say. Các bạn thì thấy thế nào?

Wal
03-10-2008, 12:38
Xin giới thiệu thêm một vài video của các nghệ sĩ biểu diễn tác phẩm này.

Đây là bản do chị Janine Jansen chơi, điểm đặc biệt ở đoạn video này là nó có ghi đoạn chú thích ở bên dưới về tác phẩm này. Vừa thưởng thức, vừa biết thêm thông tin về tác phẩm trên.

http://www.youtube.com/watch?v=hLKXD_Ar5CM
http://www.youtube.com/watch?v=mbVI0qmzXB4
http://www.youtube.com/watch?v=3oL1jplPYNY
http://www.youtube.com/watch?v=mzswC5tvY-I

Còn bản này của Isaac Stern
http://www.youtube.com/watch?v=wQmxw_rwSDw

Và đây là của Arthur Grumiaux
http://www.youtube.com/watch?v=jQwK6jQPepQ

Cái này của Heifetz
http://www.youtube.com/watch?v=S3HnjQQR40I

Bản này của Joshua Bell, mình chưa nghe của anh này chơi VC này bao giờ cả!
http://www.youtube.com/watch?v=BNxg-hIVi0U


Không biết Gil Shaham và Vadim Repin có ghi âm với concerto này chưaĐáp án đây:
Có điều mình vẫn chưa tìm ra cái link để download:">!
http://g-ecx.images-amazon.com/images/G/01/ciu/56/59/b139c060ada076f79fa68110.L.jpg


Riêng Vadim Repin thì chưa có phát hành CD nào có bản VC trên (danh sách các Cd đã phát hành (http://www.vadimrepin.com/artistmicrosite/REPVA/recordings_discography.htms)), nhưng cũng đã có những buổi công diễn về bản violin concerto này. Bạn có thể xem ở những link dưới về thông tin này:
http://www.musicweb-international.com/SandH/2007/Jul-Dec07/concertgebouw3011.htm
http://www.musicweb-international.com/SandH/2004/Jan-Apr04/shostakovich14.htm




Cảm ơn Wal đã đưa lên diễn đàn một bài viết đầy tình cảm của Ngọc Anh. Có điều nhờ Wal chút xíu, vì câu mở đầu bài viết trên: “[highlight yellow]Người Đức có 4 bản violin concerto. Bản vĩ đại và không thỏa hiệp nhất là của Beethoven. Bản của Brahms ganh đua quyết liệt với nó một cách nghiêm trang. Bản phong phú và có sức quyến rũ nhất là do Max Bruch viết. Nhưng bản nội tâm nhất, viên ngọc của trái tim, là bản của Mendelssohn.[/highlight yellow]”Nếu được, Wal cho bổ sung link của bản concerto của Max Bruch, để mọi người có dịp so sánh tức thì, Wal nhé! Tôi đã có dịp được nghe cả 4 bản này. Bản của Beethoven đứng riêng một cõi. Bản của Brahms ấm áp và tinh tế như toàn bộ âm nhạc của ông. Chương 1&2 bản của Bruch (Violin Concerto no.1 in G minor op.26, không biết có đúng bản được nói tới không?) làm cho tôi kinh ngạc và mê say. Các bạn thì thấy thế nào?

Xin giới thiệu một boxset của chị Mutter, có đủ 4 bản Violin Concerto nổi tiếng này:

Great Violin Concertos

http://i17.tinypic.com/6fyrw1y.jpg

Performer: Anne-Sophie Mutter
CD title: Great Violin Concertos
Released date: October 25, 1990
Number of Discs: 4
Label: Deutsche Grammophon
Genre: Classical
Subgenre: Violin Concertos
Type: MP3 format sound
Quality: 320(cbr) Kbit
Channels: 44Khz, j.stereo
Total size: 466 mb
Info: Set covers
3% recovery record

Disc : 1 (Wolfgang Amadeus Mozart)
1. Concerto For Violin And Orchestra No.3 In G Major, K.216: Allegro
2. Concerto For Violin And Orchestra No.3 In G Major, K.216: Adagio
3. Concerto For Violin And Orchestra No.3 In G Major, K.216: Rondeau. Allegro
4. Concerto For Violin And Orchestra No.5 In A Major, K.219: Allegro aperto
5. Concerto For Violin And Orchestra No.5 In A Major, K.219: Adagio
6. Concerto For Violin And Orchestra No.5 In A Major, K.219: Rondeau. Tempo di Menuetto
Duration: 58:22
Total size: 133 mb

Disc : 2 (Ludwig van Beethoven)
1. Concerto For VIolin And Orchestra In D Major, Op.61: Allegro ma non troppo
2. Concerto For VIolin And Orchestra In D Major, Op.61: Larghetto
3. Concerto For VIolin And Orchestra In D Major, Op.61: Rondo. Allegro
Duration: 48:11
Total size: 110 mb

Disc : 3 (Felix Mendelssohn Bartholdy)
1. Concerto For Violin And Orchestra In E Minor, Op.64: Allegro molto appassionato
2. Concerto For Violin And Orchestra In E Minor, Op.64: Andante
3. Concerto For Violin And Orchestra In E Minor, Op.64: Allegro non troppo - Allegro molto vivace
Max Bruch
4. Concerto For Violin And Orchestra No.1 In G Minor, Op.26: Vorspiel. Allegro moderato - attacca
5. Concerto For Violin And Orchestra No.1 In G Minor, Op.26: Adagio
6. Concerto For Violin And Orchestra No.1 In G Minor, Op.26: Finale. Allegro energico - Presto
Duration: 56:30
Total size: 130 mb

Disc : 4 (Johannes Brahns)
1. Concerto For Violin And Orchestra In D Major, Op.77: Allegro non troppo - Brahms
2. Concerto For Violin And Orchestra In D Major, Op.77: Adagio - Brahms
3. Concerto For Violin And Orchestra In D Major, Op.77: Allegro giocoso, ma non troppo vivace - Poco piu presto - Brahms
Duration: 40:04
Total size: 92 mb

Details
Composer: Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven, Felix Mendelssohn, Max Bruch, Johannes Brahms
Conductor: Herbert von Karajan
Performer: Anne-Sophie Mutter
Orchestra: Berlin Philharmonic Orchestra (Berliner Philharmoniker)

Code:
http://rapidshare.com/files/44714335...part1.rar.html (http://rapidshare.com/files/44714335/Annie-greatVC_4C_90.part1.rar.html)
http://rapidshare.com/files/44717397...part2.rar.html (http://rapidshare.com/files/44717397/Annie-greatVC_4C_90.part2.rar.html)
http://rapidshare.com/files/44720605...part3.rar.html (http://rapidshare.com/files/44720605/Annie-greatVC_4C_90.part3.rar.html)
http://rapidshare.com/files/44723638...part4.rar.html (http://rapidshare.com/files/44723638/Annie-greatVC_4C_90.part4.rar.html)
http://rapidshare.com/files/44725992...part5.rar.html (http://rapidshare.com/files/44725992/Annie-greatVC_4C_90.part5.rar.html)
Các bạn có thể tải các link trực tiếp này nếu thấy khó chịu với link rapid:

Max Bruch (1838-1920)


Violin Concerto No.1 in G minor,Op.26
Nadja Salerno-Sonnenberg, Violin
Minnesota Orchestra, Edo De Waart, Conduct





1. Prelude Allegro Moderato (http://boyunglee.com/music/bruch/BruchConcertoNo1inGminorOp26IPreludeAllegroModerat o.mp3)


2. Adagio (http://boyunglee.com/music/bruch/BruchConcertoNo1inGminorOp26IIAdagio.mp3)


3. Finale:Allegro Energico (http://boyunglee.com/music/bruch/BruchConcertoNo1inGminorOp26IIIFinaleAllegroEnergi co.mp3)

Johannes Brahms(1833-1897)


Violin concerto in D Major Op. 77
Nadja Salerno-Sonnenberg, Violin
Minnesota Orchestra, Edo De Warrt cond.



1. Allegro non troppo (http://boyunglee.com/music/brahms/vc/BrahmsViolinConcertoinDmajorOp.77.1.Allegronontrop poNadjaSalernoSonnenbergMinnesotaOrch.mp3)


2. Adagio
(http://boyunglee.com/music/brahms/vc/BrahmsViolinConcertoinDmajorOp.77.2.AdagioNadjaSal ernoSonnenbergMinnesotaOrchEdoDeWarrt.mp3)

3. Allegro giocoso, ma non troppo vivace (http://boyunglee.com/music/brahms/vc/BrahmsViolinConcertoinDmajorOp.77.3.Allegrogiocoso manontroppoNadjaSalernoSonnenbergMinnesotaOrch.mp3 )



Ludwig Van Beethoven (1770-1827) http://www.nhaccodien.info/forum/_border/good_cor1.gifhttp://www.nhaccodien.info/forum/_border/good_cor2.gif
http://www.nhaccodien.info/forum/_icon/ball.gif
Violin Concerto (http://boyunglee.com/music/beethoven/vc/beethovenVC1heifetz.mp3)

Heifetz,violin
NBC Symhpony Orchestra,Toscanini Conduct


Chúc các bạn ngày cuối tuần vui vẻ ^_^
http://www.nhaccodien.info/forum/_icon/ballmv.gif (http://www.nhaccodien.info/forum/beethovenVC1heifetz.mp3) (http://boyunglee.com/music/beethoven/vc/beethovenVC1heifetz.mp3)
http://www.nhaccodien.info/forum/_border/good_cor3.gif

Wal
08-10-2008, 10:33
Dạ khúc cuối trước khi xa xứ
Nocturne No. 20 giọng Đô thăng thứ là nocturne cuối cùng Chopin viết trước khi xa xứ mà chẳng hề ngờ rằng, vì chiến tranh, ông sẽ không bao giờ còn được trở lại quê hương. Bản nhạc cũng đã xuất hiện trong một trường đoạn ấn tượng của bộ phim The Pianist.

Bản nhạc: Nocturne No. 20, giọng Đô thăng thứ (http://boyunglee.com/music/chopin/nocturn/14.nocturn20inCsharpminOpPosthClaudioArrau.mp3)
Tác giả: Frédéric Chopin
Thể hiện: Claudio Arrau
*****

Vào thế kỉ 18, nocturne (dạ khúc) là một thể loại soạn cho dàn nhạc thính phòng gồm nhiều chương gần giống với serenade thế kỉ 18, thường được chơi tại các bữa tiệc đêm. Các nocturne, mà tên tiếng Ý là notturno, chủ yếu lấy cảm hứng từ đêm hoặc gợi lên không khí của đêm.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/chopin-karadar-comok.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Chopin
Nguồn: kararda.com

Nhưng đến thế kỉ 19, một nhà soạn nhạc người Ireland là John Field đã sáng tạo ra kiểu norturne chỉ có một chương dành cho piano độc tấu. Các nocturne Lãng mạn của John Field mang đặc trưng giai điệu có thể hát lên được (cantabile) và sử dụng nhiều hợp âm rải.

Nhưng nhắc đến nocturne Lãng mạn thì không thể không nhắc đến tên tuổi Frédéric Chopin - người kế thừa và đưa thể loại này lên đỉnh cao. Trong số 21 bản nocturne của Chopin, hầu hết đều là các kiệt tác của thể loại nói riêng và của âm nhạc cho piano nói chung.

Cũng giống như với thể loại valse, nocturne được Chopin sáng tác trải dài suốt sự nghiệp. Ông viết bản nocturne đầu tiên vào năm 1827 khi còn là sinh viên tại Nhạc viện Warsaw. Bản nocturne cuối cùng được viết năm 1846 khi sức khỏe của ông suy giảm nghiêm trọng vì bệnh lao và lúc mối quan hệ yêu đương khá lâu dài của ông với nữ văn sĩ Pháp nổi tiếng George Sand sắp chấm dứt.

Các tác phẩm của Chopin không được xuất bản chính xác theo trình tự thời gian sáng tác. Vì thế đôi khi một tác phẩm mang số hiệu lớn (No hoặc Op) lại có thể được sáng tác trước một tác phẩm ở cùng thể loại có số hiệu nhỏ hơn. Bản Nocturne No. 20 giọng Đô thăng thứ là một trường hợp như vậy.

Nocturne No. 20 giọng Đô thăng thứ nằm trong số những tác phẩm cuối cùng được Chopin viết trước khi rời Ba Lan vào ngày 2 tháng 11 năm 1830. Giống như nhiều sáng tác thời kỳ đầu, nó không có số Op và chỉ được xuất bản khá lâu sau khi Chopin qua đời (đến tận năm 1870).

Mặc dù theo danh mục xuất bản nó mang số 20 (No. 20) nhưng thực tế đây lại là bản nocturne thứ hai, được viết cách bản nocturne thứ nhất (theo danh mục tác phẩm là Nocturne No. 19 Op. 72 giọng Mi thứ) khoảng 1 đến 2 năm. Hai nocturne đầu tiên này cũng chứa đựng niềm say đắm riêng tư và tính chất âu sầu như trong các norturne về sau này của Chopin.

Trong một cuốn sách tiểu sử Nicolo Paganini mà người viết bài này từng đọc, một thầy tu đã lên án Chopin và thứ âm nhạc thế tục của Chopin như sau: “Một con người lúc nào cũng âu sầu vì chưa đạt được những khát vọng trần tục. Còn những người đàn bà thì sau khi dự những buổi hòa nhạc tai hại đó về đã mất đi sự trong sạch của đức tin thiên bẩm và trong lòng tràn ngập những xúc cảm tội lỗi.”



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/The_Pianist_movieok.jpg

Poster bộ phim The Pianist
Trong phim có sử dụng Nocturne No.20 giọng Đô thăng thứ của Chopin
Nguồn: photobucket.com


Có thể coi đây là lời khen tặng đắt giá và khách quan nhất dành cho các nocturne của Chopin. Những trái tim mẫn cảm, nhất là của những thính giả nữ, có thể nào không rung động trước xúc cảm chân thành, dịu dàng mà cháy bỏng được thể hiện qua những giai điệu tuyệt đẹp và hòa âm độc đáo trong các nocturne của Chopin - người được mệnh danh là “nhà thơ của cây đàn piano”?

Nocturne No. 20 giọng Đô thăng thứ mở đầu bằng một đoạn introduction (giới thiệu) ngắn, vừa trang nghiêm vừa sầu não trong vẻ ngập ngừng và chậm rãi. Tiếp theo, chủ đề chính u sầu được trình bày với những nốt láy duyên dáng, gợi nhắc không khí tĩnh mịch của đêm tối.

Bầu không khí xúc cảm trở nên sáng sủa hơn nhưng vẫn không thể nào xua tan được tính chất hoang vắng mà giai điệu mở đầu tạo thành. Chủ đề chính trở lại ở nửa sau bản nocturne nhưng giờ đây nó day dứt hơn. Nỗi buồn dần trở thành nỗi thất vọng tràn trề khi âm nhạc dịu dàng tắt lặng kết thúc tác phẩm.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/pianist-offoffoff-comok.jpg

Adrien Brody đóng vai nghệ sỹ dương cầm trong The Pianist
Nguồn: offoffoff.com


Nếu đã từng xem bộ phim The Pianist (giành được 3 tượng vàng Oscar và 43 giải thưởng danh giá khác), bạn sẽ nhận ra Nocturne No. 20, giọng Đô thăng thứ trong một trường đoạn ấn tượng ngay đầu phim: Đài phát thanh Warsaw bị trúng bom Đức trong lúc Wladyslaw Szpilman (do Adrien Brody thủ vai) đang thu âm bản nhạc này tại đây.

Đạo diễn người Ba Lan Roman Polanski xây dựng bộ phim The Pianist dựa trên cuốn hồi ký cùng tên của nghệ sĩ dương cầm Ba Lan gốc Do Thái Wladyslaw Szpilman, người sống sót qua nạn tàn sát người Do Thái của Đức quốc xã trong thế chiến thứ hai.

Nocturne No. 20 giọng Đô thăng thứ là nocturne cuối cùng Chopin viết trước khi xa xứ mà chẳng hề ngờ rằng, vì chiến tranh, ông sẽ không bao giờ còn được trở lại quê hương. Vì điều đó mà các nhà làm phim chọn nó làm bản nhạc cuối cùng Wladyslaw Szpilman chơi trước khi trải nghiệm thế chiến khốc liệt nhất thế kỉ 20 - cuộc chiến mà Ba Lan là một trong những dân tộc chịu nhiều hi sinh mất mát nhất.

Nỗi niềm riêng tư trong nocturne của Chopin cũng là nỗi niềm chung của dân tộc Ba Lan và của những người yêu cái đẹp trên toàn cầu.



Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4962/index.aspx)



-----------------------------

Các bạn có thể tải Complete Nocturne tại đây (http://www.nhaccodien.info/forum/showpost.php?p=8751&postcount=14)do Pollini thể hiện.
Còn đây là link của bản thu âm Nocturne do Wladyslaw Szpilman chơi:
- Bản thu âm năm 1948 (http://www.bigosbar.com/sounds/szpilman-chopin-nocturne_no_20_op_posthmous_c_sharp_minor-rec_1948.mp3)
- Bản thu âm năm 1980 (http://www.bigosbar.com/sounds/szpilman-chopin-nocturne_no_20_op_posthmous_c_sharp_minor-rec_1980.mp3)

Ran
10-10-2008, 09:39
Trích của Ngọc Anh: Trong một cuốn sách tiểu sử Nicolo Paganini mà người viết bài này từng đọc, một thầy tu đã lên án Chopin và thứ âm nhạc thế tục của Chopin như sau: “Một con người lúc nào cũng âu sầu vì chưa đạt được những khát vọng trần tục. Còn những người đàn bà thì sau khi dự những buổi hòa nhạc tai hại đó về đã mất đi sự trong sạch của đức tin thiên bẩm và trong lòng tràn ngập những xúc cảm tội lỗi.”

Vị tu sĩ này thực là quá nghiêm khắc. Nhưng có lẽ vì ông ác cảm với cuộc sống phóng khoáng của George Sand hơn là vì âm nhạc của Chopin. Cũng có thể ông phiền trách nữ sĩ nửa dòng quý tộc nhưng lại mang tư tưởng cấp tiến vượt thoát khỏi thời đại của mình, mà tai hại hơn, chắc ông sợ ảnh hưởng đến chàng trai ngoan đạo Chopin (nếu vậy thì ông đã lầm).

Âm nhạc của Chopin, dù luôn dịu dàng, bay bổng và kỳ diệu như thơ ca, nhưng bao giờ chẳng mang một nỗi buồn lãng đãng? Có sự khao khát tự do rất nhẹ nhàng, sự dâng hiến tình yêu đầy tinh tế, sự khắc khoải xao xuyến trước cuộc đời, nhưng nào tôi có thấy vẻ trần tục đẩu đâu? Ngay cả Geogre Sand còn thốt lên với “ông tơ” Liszt khi gặp Chopin “đấy có phải là người trần gian đâu. Anh ấy là một thiên thần. Trần gian làm gì có người như vậy!”(*). Năm ấy, nàng mới 33 cái xuân xanh (hơn chàng 6 tuổi), nhưng đã kịp viết nhiều cuốn sách, kịp có hai con, kịp ly dị chồng, và kịp có bao nhiêu là… cuộc tình, với đủ mọi kiểu nhân cách và mọi cung bậc tình cảm, thì hẳn là nàng, với trí thông minh và sự sắc sảo của một nhà văn gần như đầu tiên khẳng định nữ quyền, không thể nói ngoa về chàng, dầu cho nàng có bị “sét đánh”!

Cái chất thơ lãng đãng đầy xáo động của âm nhạc Chopin, nếu có không vừa tai vị tu sĩ kia, chắc là vì quá lộ rõ nét cô đơn. Những người nghệ sĩ lớn, ai lại chẳng cô đơn, nhưng mỗi người sẽ có cách thể hiện của mình. Có thể phát triển thành chất anh hùng ca như Beethoven, thành triết lý cuộc đời sáng trong như Bach, thành tình yêu tha thiết tận cùng như Schubert, thì sao không thể khắc khoải “rất người” như Chopin? Có lẽ vì vậy mà ông “được” đánh giá như thế chăng?

Trở lại với dạ khúc của Chopin nói chung và Nocturne no.20 in C sharp minor nói riêng. Nơi cất lên thường là những salon quý tộc tao nhã ở “kinh đô ánh sáng”, nơi những ánh nến run rẩy trên những lượt váy mệnh phụ phập phồng. Với không gian ấy, những con người ấy, hẳn Chopin có lý khi muốn tạo dựng một bầu không khí như thánh đường, trang nghiêm và xúc động bởi vì một ai đó đang cất lên tiếng lòng, ngập ngừng, dịu ngọt mà làm ta bồi hồi. Như tiếng lòng của mỗi chúng ta.

Chắc bạn đã nghe Đặng Thái Sơn chơi dạ khúc này rồi? Tôi nghĩ có lẽ phong cách của ông rất hợp với nocturne của Chopin. Từng giọt piano như rơi len lỏi vào tim. Chập chờn, dìu dịu. Không gian âm nhạc mở ra vừa thiêng liêng lại dường như cơn gió vô hình mơn trớn làm sởn cả thịt da. Thôi chết, tôi lại “trần tục hóa” những gì cao vời mất rồi! “Trong lòng tràn ngập những xúc cảm tội lỗi”, tôi mỉm cười với âm nhạc của Chopin.

Mấy lời múa mép cho vui cửa vui nhà, mong các bậc tiền bối bỏ quá cho. Thất kính! Thất kính! :">

(*): Xem “George Sand – Nhà văn của tình yêu” – Nguyễn Xuân Khánh – NXB Phụ Nữ - 2001.

super_vịt
10-10-2008, 16:17
Violon concerto giọng Mi thứ, Op. 64 của Mendelssohn em thích nhất Heifezt chơi, còn Nocturne No.20 in C# minor em lại thích violin chơi hơn, nghe rất da diết, tình cảm :)

http://www.youtube.com/watch?v=b1tUdbknTeA

Wal
13-10-2008, 20:57
http://nhaccodien.info/forum/../images/Image/TTD_IMAGES/Bizet1.jpg


Nhân dịp kỷ niệm 170 năm ngày sinh Georges Bizet (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=46) (25/10/1838), xin giới thiệu đến các bạn tác phẩm:



A la voix d'un amant fidèle (Sérénade de Smith)
Trích opera “La jolie fille de Perth” (Người đẹp thành Ba Tư)
Âm nhạc: Georges Bizet
Libretto: Jules-Henri Vernoy de Saint-Georges & Jules Adenis
Thể hiện: Rockwell Blake (http://www.box.net/shared/il19vjp1aa)

http://i128.photobucket.com/albums/p190/kikiTriomphe/A.jpg
-------------








Tuần sau sẽ giới thiệu đến các bạn nghệ sĩ cello Pablo Casals (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=190), mời các bạn cùng chuẩn bị đề tài này để thảo luận hi! Tôi sẽ giới thiệu những bản thu âm đặc sắc của nghệ sĩ vĩ đại này!

HiLine
18-10-2008, 10:04
http://nhaccodien.info/forum/../images/Image/TTD_IMAGES/Bizet1.jpg


Nhân dịp kỷ niệm 170 năm ngày sinh Georges Bizet (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=46) (25/10/1838), xin giới thiệu đến các bạn tác phẩm:



A la voix d'un amant fidèle (Sérénade de Smith)
Trích opera“La jolie fille de Perth” (Người đẹp thành Ba Tư)
Âm nhạc: Georges Bizet
Libretto: Jules-Henri Vernoy de Saint-Georges & Jules Adenis
Thể hiện: Rockwell Blake (http://www.box.net/shared/il19vjp1aa)

http://i128.photobucket.com/albums/p190/kikiTriomphe/A.jpg
-------------








Tuần sau sẽ giới thiệu đến các bạn nghệ sĩ cello Pablo Casals (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=190), mời các bạn cùng chuẩn bị đề tài này để thảo luận hi! Tôi sẽ giới thiệu những bản thu âm đặc sắc của nghệ sĩ vĩ đại này!




Cái này có phải lấy từ trang chủ không nhỉ :D

Wal
18-10-2008, 10:12
Cái này có phải lấy từ trang chủ không nhỉ :D
Đúng rồi, mỗi khi trang chủ có bài mới đều sẽ được đăng vô mục này (nếu là bài viết về tác giả, tác phẩm).

Wal
19-10-2008, 23:59
Nhân kỷ niệm 35 năm ngày mất Pablo Casals (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=190) (22/10/1973), xin một chút nhìn lại về cellist này:

Pablo Casals

http://nhaccodien.info/images/Image/Casals1.jpg


1876 - 1973





“Với tôi Pablo Casals là nghệ sĩ cello vĩ đại nhất” - Mstislav Rostropovich.


Pablo Casals sinh ra tại Vendrell, một thị trấn nhỏ của xứ Catalan cách Barcelona 40 dặm về phía Tây Nam trong một gia đình có 11 anh chị em. Ông sinh ngày 29 tháng 12 năm 1876 nhưng vì một lý do nào đấy hai ngày sau bố ông mới báo với nhà thờ nên ngày sinh trong chứng minh thư của ông là ngày 31 tháng 12. Cha ông, Charles Casals, là một nhạc công chơi organ trong nhà thờ cũng như dạy hát và piano (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=511) cho dân cư trong vùng. Dòng họ Casals ở xứ Catalan có từ thế kỉ 16 và luôn được người dân địa phương trọng vọng.

Mới lên 4 tuổi, Casals đã được học piano, violin (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=552), flute và organ và lên 5 tuổi cậu đã tham gia vào dàn đồng ca của nhà thờ. Lên 6 tuổi Casals đã có thể đệm organ thay cha và có thể chuyển soạn một số tác phẩm cho đàn organ. Như mọi cậu bé khác Casals theo học ở trường làng và cậu đặc biệt yêu thích thể thao đồng thời luôn giành phần thắng trong các cuộc thi chạy và nhảy cao. Khi Casals lên 8 tuổi ông đã chơi violin rất tốt và đã biểu diễn “Air With Variations” của Charles Dancla trước công chúng. Do thói quen nhắm mắt và nghiêng đàn khi chơi violin nên Casals bị chúng bạn trêu là “nhạc sĩ mù”, điều này khiến cậu quyết định bỏ violin để học một nhạc cụ khác. Chính quyết định này đã khiến lịch sử của cây đàn cello (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=554) thay đổi hoàn toàn, thế giới sắp có một nghệ sĩ cello vĩ đại - người đặt nền móng cho nghệ thuật trình diễn cello hiện đại.
Tình cờ, một nhóm nhạc có tên “The Three Flats” đến biểu diễn tại thị trấn và Casals có cơ hội lần đầu tiên thấy cây cello và cậu nhờ bố làm cho mình một cây tương tự. Chẳng bao lâu sau Casals đã có thể chơi tất cả trên cây đàn “đồ chơi” mà cha mình làm cho và thường biểu diễn cho bạn bè và gia đình trong những dịp đặc biệt. Casals sau này luôn coi cây cello “đồ chơi” là báu vật và giữ bên mình cho đến cuối đời.

Năm 1887, nhà thờ của thị trấn có tổ chức một số buổi hòa nhạc của các nghệ sĩ nổi tiếng và cậu đã có cơ hội được nghe Jose Garcia biểu diễn nhạc cụ mà mình yêu thích. Lúc này Casals mới 10 tuổi, ấn tượng với tài năng của Jose Garcia cũng như thấy được tiềm năng vô tận của nhạc cụ này nên ông đòi cha mua cho mình một cây cello “thật sự”. Một năm sau mẹ Casals đưa ông đến Barcelona để theo học với Jose Garcia tại Municipal School. Tại đây Casals học hòa âm và đối vị với Roderedo, giám đốc nhạc viện và nhanh chóng có những tiến bộ vượt bậc thậm chí cậu còn đoạt giải nhất về lý thuyết cũng như sáng tác trong một cuộc thi. Sau 3 năm theo học với Jose Garcia, Casals đã trở thành một nghệ sĩ cello hoàn hảo và ông quyết định rời nhạc viện khi mới 15 tuổi.

Rời nhạc viện, Casals thường xuyên chơi cello trong các quán cafe ở Barcelona. Lúc này vẫn chưa có radio cũng như các bản thu âm nên cách thưởng thức nhạc duy nhất là nghe trực tiếp. Tài năng của cậu bé nhanh chóng chinh phục giới yêu nhạc và cậu sớm trở nên nổi tiếng.
Lúc này số lượng các tác phẩm viết cho cello chưa nhiều nên Casals bắt đầu phải tìm thêm các bản nhạc mới để bổ sung cho vốn tác phẩm ít ỏi của mình. Một lần cha cậu lên Barcerona thăm con trai đã đưa Casals đến một cửa hàng bán sách nhạc cũ nằm trên đường Calle Ancha. Chính tại đây, Casals lần đầu tiên thấy bộ Cello sonata của Ludwig van Beethoven (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=44) và 6 tổ khúc viết cho cello của Johann Sebastian Bach (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=42). Bị sự kì diệu, biến ảo trong âm nhạc của Bach mê hoặc, Casals đã lao vào tập luyện 6 tổ khúc này trong vòng 10 năm trước khi biểu diễn lần đầu.

Chính nhờ sự lao động, khám phá không biết mệt mỏi mà 6 tổ khúc của Bach trở thành kinh điển của nghệ thuật trình diễn cello hiện đại, là mục tiêu để chinh phục của các thế hệ nghệ sĩ cello sau này. Và cũng rất may cho chúng ta là sau này ông ghi âm tất cả 6 tổ khúc của Bach dẫu chất lượng âm thanh không được tốt.

Không những là người có công khai phá tổ khúc cho cello của Bach mà Casals còn có những cách tân về kĩ thuật chơi cello. Ngay từ nhỏ Casals đã luôn tìm tòi và phát triển kĩ thuật chơi cello sao cho khoa học nhất. Lúc bấy giờ kĩ thuật chơi cello vẫn còn nhiều hạn chế điển hình là kĩ thuât sử dụng vĩ, hoạt động của cánh tay phải còn hạn chế thậm chí người ta còn kẹp sách vào nách khi luyện tập. Casals cũng khắc phục các nhược điểm về cách xếp ngón giúp tay trái linh hoạt hơn cũng như tránh được các tạp âm khi di chuyển ngón trên cần đàn.


http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/555_1001_image_fnsp_blum_1905.jpg
Bức ảnh chụp năm 1906: từ trái sang phải: Pablo Casals, Mme Casals, Léon Blum và Suzanne Pereyra (sau này là vợ của Paul Dukas), Alfred Cortot, Thérèse Pereyra (sau này là vợ 2 của Léon Blum), Jacques Thibaud; người ngồi: Mme Léon Blum, Alfred Cortot và Grunebaum-Ballin, phía trên họ là Robert Blum và Colette Grunebaum


Nhà soạn nhạc Isaac Albeniz (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=149) sau khi nghe Casals chơi đàn đã rất mến mộ tài năng của ông và kết thân với gia đình Casals. Chính Albeniz là người giới thiệu Casals với bá tước Morphy, thư kí riêng của vua Alfonso XII nhờ ông giúp đỡ Casals. Morphy rất ấn tượng với tài năng của Casals nên đã giúp ông được biểu diễn trong lâu đài hoàng gia và nhập học tại nhạc viện Madrid. Casals theo học tại đây trong hai năm với các nghệ sĩ tài năng: ông học đối vị với nhạc sĩ tài năng Tomas Breton, học hòa tấu với nghệ sĩ violin nổi tiếng Jesus de Monasterio đồng thời cũng là giám đốc nhạc viện. Morphy hết sức quân tâm tới Casals và coi Casals như con trai, ông thường dành thời gian để dạy Casals toán học, triết học và các ngành nghệ thuật khác. Bá tước Morphy muốn Casals sau này sẽ trở thành nhà soạn nhạc tài năng chứ không phải thành một nghệ sĩ cello nên ông giúp Casals có được suất học bổng của hoàng hậu Tây Ban Nha để sang Brussels, Bỉ học chuyên ngành sáng tác.

Năm 18 tuổi Casals cùng mẹ sang Brussels (lúc này nhạc viện Brussels là trung tâm hàng đầu về giảng dạy âm nhạc, nhất là các nhạc cụ dây). Giám đốc nhạc viện Brussels ấn tượng đặc biệt với tài năng chơi cello của Casals và giới thiệu ngay ông với giáo viên đảm nhiệm khoa cello của trường Eduard Jacobs. Và đã có một chuyện thú vị xảy ra tại buổi gặp gỡ này cho ta thấy được cá tính khác thường của Casals: khi được mời đến lớp của Jacobs, các học sinh khác tỏ ra khinh thường với chàng thanh niên Tây Ban Nha thấp bé có mặt trong lớp mình. Còn Jacobs thì mỉa mai hỏi xem Casals có thể chơi được những gì và khi Casals trả lời một cách tự tin là ông có thể chơi tất cả các tác phẩm viết cho cello thì Jacobs gợi ý Casals chơi bản “Souvenir de Spa” của Adrien-François Servais, một bản nhạc đòi hỏi kĩ thuật hết sức phức tạp. “Hãy cho chúng tôi nghe thử” Jacobs cười mỉa mai. Casals tức giận nhưng vẫn bình tĩnh cầm đàn và biểu diễn. Những nốt nhạc đầu tiên làm cả Jacobs và các học viên khác câm lặng, họ như bị thôi miên trước tiếng đàn kì diệu cũng như kĩ thuật phi thường của Casals. Sau màn biểu diễn quá ấn tượng của Casals, Jacobs cho dừng lớp học và gợi ý riêng với Casals rằng nếu ông theo học nhạc viện thì hắn sẽ bố trí cho Casals giành giải nhất trong cuộc thi của trường. Thấy sự tầm thường trong tài năng cũng như tính cách của Jacobs, Casals thẳng thừng từ chối, ông rời nhạc viện và cùng mẹ sang Paris ngay sáng hôm sau. Hoàng hậu Tây Ban Nha sau khi nhận tin đã tức giận và thôi không giúp đỡ tài chính cho Casals nữa.

Sang Paris, Casals cùng mẹ thuê một căn hộ nhỏ và cuộc sống đắt đỏ ở Paris khiến cuộc sống của hai mẹ con vô cùng khó khăn. Casals chơi cello trong dàn nhạc của một rạp hát nhỏ và kiếm được rất ít tiền; mẹ ông đã phải bán cả mái tóc dài tuyệt đẹp của mình để lo cho con trai. Sau này Casals luôn biết ơn những gì mẹ đã hi sinh cho mình và luôn coi mẹ là vị Chúa của cuộc đời. Những khó khăn ở Paris làm Casals bị ốm và hai mẹ con quyết định về Barcelona.

Trở về Barcelona, mọi việc lại trở nên tốt đẹp với Casals, ông thay vị trí của thầy dạy cũ của mình Jose Garcia vừa mới nghỉ hưu tại nhạc viện. Ông còn được mời dạy tại nhạc viện Lycee và trở thành cellist số 1 của Barcelona Opera Orchestra. Trong 3 năm ở Bacerlona ông cùng hai nghệ sĩ violin Mathieu Crickboom, Galvez và nhạc sĩ, nghệ sĩ piano Enrique Granados lập nên nhóm tứ tấu đồng thời hàn gắn mối quan hệ với Morphy. Cũng chính bá tước Morphy tạo cơ hội cho Casals biểu diễn cho hoàng hậu Christina, người vẫn luôn ngưỡng mộ tài năng của ông. Sau buổi biểu diễn, hoàng hậu đã tặng một viên saphia trên vòng tay của mình cho Casals và ông đã gắn nó lên cây cello của mình. Casals cũng thường xuyên biểu diễn tại sòng bạc nổi tiếng tại Bồ Đào Nha nơi tập trung của giới thượng lưu lúc bấy giờ và ông còn được mời đến chơi cho gia đình hoàng gia. Danh tiếng của Casals giờ đã lan khắp bán đảo Iberia, điều kiện tài chính cũng tạm ổn nên Casals quyết định sẽ quay lại chinh phục Paris, trung tâm văn hóa của châu Âu lúc bấy giờ.

Mùa thu năm 1899, ông một mình quay trở lại Paris với thư giới thiệu của Morphy với nhạc trưởng nổi tiếng ở Paris lúc bấy giờ Charles Lamoureux. Sau khi nghe Casals chơi trong một buổi tập của dàn nhạc, Charles Lamoureux không tin nổi vào tai mình nữa và đề nghị Casals chơi trong buổi hòa nhạc đầu tiên của mùa diễn năm đó. Và Casals đã chơi bản concerto cho cello của Edouard Lalo vào ngày 12 tháng 11 làm cả Paris phải thán phục. Sau buổi ra mắt này tên tuổi của Casals trở nên nổi tiếng khắp thế giới, ông lưu diễn cùng dàn nhạc của Lamoureux đến nhiều thành phố lớn. Nhưng thật không may cho Casals là Charles Lamoureux lại đột ngột qua đời vào năm 1900, ông phải tự mình phát triển sự nghiệp. Tại Paris ông kết bạn với nhiều nghệ sỹ lớn lúc đó như Maurice Ravel (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=73), Camille Saint-Saens (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=75), Eugene Ysaye, Jacques Thibaud, Alfred Cortot…

Năm 1901, Casals lần đầu đến Mĩ, ông biểu diễn tới 80 thành phố trên khắp nước Mĩ và buộc phải ngừng chuyến lưu diễn tại California khi một tai nạn làm cánh tay trái của ông bị đau. Sau 4 tháng điều trị tay của ông dần hồi phục và Casals lại tiếp tục biểu diễn. Sau này khi trả lời phỏng vấn ông cho rằng thời gian điều trị chấn thương càng khiến ông thêm hiểu bản thân mình và ơn trời ông thấy tiếng đàn của mình mạnh mẽ và sâu lắng hơn trước!

Năm 1904, Casals lại quay lại nước Mĩ. Ông được mời tới Nhà Trắng chơi cho tổng thống Theodore Roosevelt và biểu diễn tại New York với Metropolitan Opera Orchestra. Cũng trong chuyến sang Mĩ này ông chơi bản “Don Quixote” do chính Richard Strauss (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=135) chỉ huy. Lúc này Casals 28 tuổi, với mái tóc đã hói nhận đươc nhiều lời mời biểu diễn hơn bất cứ một nghệ sĩ chơi cello nào lúc bấy giờ.
Không chỉ theo đuổi sự nghiệp solo, Casals cùng hai nghệ sĩ huyền thoại khác là Thibaud và Cortot lập nên nhóm trio danh tiếng của thế giới lúc bấy giờ. Nhóm thường xuyên chơi và thu âm các sáng tác của các nhạc sĩ đương thời cũng như các tác phẩm của các tác giả kinh điển cho tới năm 1937 và thật may mắn vì một số bản thu âm vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

http://www.rosenblumcoins.com/files/img/37d/874.jpg
Đồng xu có hình Casals


Năm 1905, Casals sang biểu diễn tại Nga lần đầu tiên. Lúc này tình hình chính trị ở Nga rất bất ổn bởi những cuộc đình công liên miên của công nhân phản đối Nga hoàng Nicholas. Trong một buổi biểu diễn của Casals đèn bỗng nhiên bị tắt và phải tiếp tục bằng cách thắp nến. Mặc dù khó khăn vậy nhưng ông luôn được khán giả yêu nhạc cũng như giới nghệ sĩ chào đón nhiệt tình. Sau này Casaals thường xuyên quay trở lại Nga biểu diễn và kết bạn với nhiều nghệ sỹ tên tuổi của Nga lúc bấy giờ như Nicolai Rimsky-Korsakov (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=142), Sergei Rachmaninov (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=134), Alexander Scriabin (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=144)… Cũng tại Nga ông chơi bản concerto cho violin và cello của Johannes Brahms (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=48) với nghệ sỹ violin vĩ đại người Bỉ Eugene Ysaye.

Người vợ đầu tiên của Casals là ca sĩ giọng soprano người Mĩ Susan Metcalfe và ông là người đệm đàn trong các buổi hòa nhạc của bà trên khắp thế giới. Đây có lẽ là thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời ông, thậm chí ông còn định từ bỏ sự nghiệp solo của mình. Nhưng do những xung khắc trong sự nghiệp nên hai người chia tay sau 14 năm gắn bó.
Là một nghệ sĩ biểu diễn tài năng, Pablo Casals không muốn bị cây đàn cello giới hạn, với ông âm nhạc mới là tất cả và ông luôn muốn trở thành một nhạc trưởng để phát huy tối đa sức sáng tạo của mình (trước ông đã có Arturo Toscanini (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=165), Sir John Barbirolli đều là những nhạc trưởng vĩ đại sau khi đã là các nghệ sĩ cello tài danh). Những năm 1920 ông trở về Barcelona và thành lập dàn nhạc riêng của mình Pablo Casals Orchestra. Khó khăn ban đầu là rất lớn do trình độ của các nhạc công còn thấp cộng với khó khăn về tài chính nhưng Casals đã cùng dàn nhạc của mình có buổi biểu diễn ra mắt vào ngày 13 tháng 10 năm 1920. Sau này Casals còn chỉ huy nhiều dàn nhạc lớn như London Symphony Orchestra, Vienna Philharmonic nhưng đối với Casals cảm giác tuyệt vời nhất vẫn là được cùng dàn nhạc của mình biểu diễn tại quê hương yêu dấu cho những người dân lao động của Barcelona.

Ngày 17 tháng 7 năm 1936, cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha nổ ra, chế độ độc tài của Franco được sự hậu thuẫn của Mussolini và Hitler đã khiến đất nước Tây Ban Nha chìm trong biển máu. Casals từ chối biểu diễn ở Đức để phản đối chính quyền Hitler đồng thời thường xuyên giúp đỡ những người tị nạn trong suốt cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Lúc nội chiến sắp diễn ra, Casals đang cùng dàn nhạc chuẩn bị biểu diễn bản giao hưởng số 9 (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=250) của Beethoven thì có một lá thư từ Bộ văn hóa gửi tới yêu cầu Casals hủy buổi biểu diễn và cho các nhạc công về nhà bởi sắp có chiến tranh. Casals đã hỏi các nhạc công xem nên biểu diễn hay thôi và tất cả cùng đồng ý sẽ tiếp tục biểu diễn bất chấp sự đe dọa của chính quyền và khi dàn hợp xướng hát “tất cả thế giới là anh em” ông đã không kìm được nước mắt. Trong những năm nội chiến ông nhiều lần bị đe dọa tính mạng nhưng nhờ uy tín của mình cũng như sự yêu quý của người dân nên ông đều thoát nạn.

Năm 1956, ông chuyến tới sống ở San Juan, Puerto Rico (nơi mẹ ông sinh ra) và ở đó cho đến cuối đời.

Mùng 3 tháng 8 năm 1957, khi đã 80 tuổi ông kết hôn với Marta Montañez Martinez, một học sinh của mình. Những năm cuối đời ông sáng tác và mở các lớp ngắn hạn tại nhiều nơi. Casals mất tại San Juan, Puerto Rico vào ngày 22 tháng 10 năm 1973 khi 97 tuổi mà không có cơ hội chứng kiến sự sụp đổ của chính quyền Franco và phải 3 năm sau ông được đưa về chôn cất tại quê hương. Năm 1976 nhân 100 năm ngày sinh của Casals, vua Juan Carlos I cho phát hành con tem có hình Casals để tưởng nhớ đến một nghệ sỹ vĩ đại của Tây Ban Nha cũng như của toàn nhân loại.


minhdo (tổng hợp)


Nguồn: http://www.cello.org
http://en.wikipedia.org

--------------

Dưới đây là một số bản thu âm nổi tiếng:

Cello Suites
tracklist & more info (http://www.amazon.com/Cello-Suites/dp/B000TENN4W/ref=sr_1_1?ie=UTF8&s=dmusic&qid=1224425567&sr=8-1)

Bộ đĩa này thu âm cũng khá lâu rồi (những năm 36-39), nó được xếp vào top 100 GRAMOPHONE CLASSICAL MUSIC GUIDE 2008 .

http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CoverFront.jpg

DOWNLOAD:

CD1:
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track01.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track01.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track02.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track02.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track03.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track03.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track04.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track04.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track05.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track05.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track06.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track06.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track07.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track07.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track08.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track08.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track09.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track09.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track10.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track10.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track11.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track11.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track12.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track12.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track13.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track13.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track14.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track14.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track15.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track15.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track16.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track16.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track17.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track17.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track18.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD1/Track18.mp3)

CD2:

http://geocities.com/icons/sound2.gif Track01.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track01.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track02.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track02.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track03.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track03.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track04.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track04.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track05.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track05.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track06.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track06.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track07.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track07.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track08.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track08.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track09.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track09.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track10.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track10.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track11.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track11.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track12.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track12.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track13.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track13.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track14.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track14.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track15.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track15.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track16.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track16.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track17.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track17.mp3)
http://geocities.com/icons/sound2.gif Track18.mp3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Casals_Cello_Suite/CD2/Track18.mp3)
------------

Và đây tập hợp những bản thu âm đầu tiên:

The Early Recordings 1925-1928

More info & tracklist (http://www.amazon.com/The-Early-Recordings-1925-1928/dp/B0014LT938/ref=sr_f3_1?ie=UTF8&s=dmusic&qid=1224430058&sr=103-1)

Giới thiệu về CD này (http://grapewrath.blogspot.com/2008/02/pablo-casals-early-recordings-1925-28.html)

http://ecx.images-amazon.com/images/I/51SJuUVVr4L._SS500_.jpg

DOWNLOAD (http://www.mediafire.com/?kkjmoizg3gz)

Tracklist:

1. Toccata in C, BWV 564/Adagio
2. Melody in F, Op. 3, No. 1
3. Moment musical, D. 780/3; Op. 94, No. 3
4. Nocturne in E-Flat, Op. 9, No. 2
5. Goyescas: Intermezzo
6. Après un rêve, Op. 7, No. 1
7. Spanish Dance
8. Le carnaval des animaux/Le cygne
9. Spanish Dance, Op. 54, No. 5 "Vito"
10. Jocelyn/Berceuse
11. Gavotte tendre
12. Prelude in D-Flat, Op. 28, No. 15 "Raindrop"
13. Mazurka, Op. 11, No. 3
14. Tannhauser/Lied an den Abendstern
15. Serenata napoletana, Op. 24, No. 2
16. Die Meistersinger/Preislied
17. Chanson villageoise, Op. 62, No. 2
18. Abendlied, Op. 85, No. 12
19. Petite Suite/Menuet
20. Romance, Op. 35
21. English Suite No. 6, BWV 811/Gavotte I: Musette

--------------------


Không chỉ theo đuổi sự nghiệp solo, Casals cùng hai nghệ sĩ huyền thoại khác là Thibaud và Cortot lập nên nhóm trio danh tiếng của thế giới lúc bấy giờ. Nhóm thường xuyên chơi và thu âm các sáng tác của các nhạc sĩ đương thời cũng như các tác phẩm của các tác giả kinh điển cho tới năm 1937 và thật may mắn vì một số bản thu âm vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.Bạn có thể tham khảo thêm về bản thu âm này tại đây (http://www.naxos.com/mainsite/blurbs_reviews.asp?item_code=8.110185&catNum=8110185&filetype=About%20this%20Recording&language=English)

http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/Cover-2.jpg

Download:
Part 1 (http://www.mediafire.com/?wxljmagmgza)
Part 2 (http://www.mediafire.com/?ufmfwz0tgyy)

Booklet (http://www.mediafire.com/?5oftwonyc5h)

---------------

Thật thiếu sót nếu không nhắc tới sự nghiệp chỉ huy của ông. Dưới đây là một đĩa LP do ong chỉ huy, với cellist Maurice Gendron (1920 - 1990)


http://i237.photobucket.com/albums/ff309/billinrio1/Casals.jpg

Haydn: Cello Concerto in D Major
Boccherini: Cello Concerto in B-flat Major
Orchestre des Concerts Lamoureux
Pablo Casals, cond.



DOWNLOAD:


http://rapidshare.com/files/150606640/Gendron_Casals.zip.002
http://rapidshare.com/files/150583186/Gendron_Casals.zip.001

http://rapidshare.com/files/150608213/Gendron_Casals.zip.003




Và đây là một số video cello cuite do ông chơi:
http://sugiero.blogspot.com/2007/06/video-pablo-casals-spanish-cellist.html

---------------
Chúc mọi người đầu tuần vui vẻ :)!
Và chúc chị em trong box 1 ngày 20/10 đầy hạnh phúc!!!

Wal
26-10-2008, 20:19
Tuần này, mình muốn giới thiệu cũng như muốn cùng các bạn tìm hiểu về tác phẩm Piano Sonatas số 23 của Beethoven, hay với cái tên gọi khác mà người đời đặt cho là Sonata Appassionata. :)



http://www.rock-hill.k12.sc.us/teachers/bves/jmccallum/mccallum/thinkquest/BeethovenPastoral.jpg




Piano Sonata No. 23 in F minor "Appassionata", Opus 57



(Sonata cho piano số 23 giọng Fa thứ "Appassionata", tác phẩm số 57)


Tác giả: Ludwig van Beethoven (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=44)
Thời gian sáng tác : 1804 - 1806
Đề tặng : công tước Franz von Brunswick
Thời lượng : khoảng 23 phút

Tác phẩm gồm 3 chương:
I. Allegro assai
II. Andante con moto - attacca
III. Allegro ma non troppo - Presto

Bản sonata (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=608) viết cho piano (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=511) số 23 giọng Fa thứ, tác phẩm số 57, thường được gọi là Sonata “Appassionata” được xem là một trong 3 sonata đỉnh cao thời kỳ “thành thục” của Beethoven, cùng với Sonata No. 26 “Les Adieux”, Op. 81a và Sonata No. 21 “Waldstein”, Op. 53 quen thuộc với tên gọi Sonata “Bình minh” bởi cảm hứng trong trẻo và tươi mới đem lại từ những giai điệu đầy sức sống. Tác phẩm được viết trong những năm 1804, 1805 và có lẽ cả trong năm 1806, đề tặng cho công tước Franz von Brunswick. Ấn phẩm đầu tiên xuất bản vào tháng 2 năm 1807 tại Vienna.

Ngoại trừ sonata số 8, “Pathétique” (Bi thương) được chính tác giả đặt tên, “Appassionata” cũng như “Moonlight”… là cái tên được nhà xuất bản gán cho và nhanh chóng được phổ biến bởi tính chất biểu cảm nhiệt thành toát ra từ nội dung. Cái tên này xuất hiện lần đầu trên ấn phẩm chuyển soạn sang cho piano 4 tay xuất bản năm 1838. “Appassionata” được đánh giá là một trong những bản sonata hay nhất của Beethoven, với khả năng biểu đạt chuyển động và cảm xúc rực rỡ. Cùng với sonata “Waldstein”, người ta cho rằng nó là được sáng tác từ nguồn năng lượng mới khai sinh cùng với Giao hưởng số 3 “Anh hùng” (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=241) - một cột mốc chói sáng ghi dấu những nét đặc trưng cấu trúc và biểu cảm trong âm nhạc Ludwig Van Beethoven.

Sau những giai đoạn làm việc căng thẳng và hoàn thành Sonata số 21 “Waldstein”, Beethoven đã dành thời gian mùa hè năm 1804 nghỉ tại khu suối nước nóng ở Baden thuộc Áo, cùng với học trò của ông là Ferdiand Ries. Đây cũng là thời gian ông bắt đầu ý tưởng cho 2 bản sonata mới là Piano sonata No. 22, Op. 54 và Piano sonata No. 23, Op. 57. Nhạc sĩ thuê phòng ở trong một làng tại Döbling phía bắc Vienna. Ông thường dành thời gian buổi chiều đi dạo trên những con đường ven rừng. Ries, người bạn đồng hành trong các cuộc đi dạo thời gian đó, đã kể lại câu chuyện về sự ra đời chương cuối bản sonata :

“Trong một lần đi dạo vào buổi chiều, chúng tôi đi xa đến nỗi gần như bị lạc và đến tận 8h tối mới trở về Döbling, trên đường về ông ấy bắt đầu hát khe khẽ, đôi khi cất giọng ồm ồm rất rõ một giai điệu trầm bổng, nhưng nghe không ra đâu vào đâu?! Khi tôi hỏi thì ông trả lời đó là chủ đề của chương cuối sonata Op. 57 vừa mới xâm chiếm trí óc ông. Trở về phòng, nhạc sĩ vội vã ngồi vào đàn, thậm chí quên bỏ mũ cũng như nhanh chóng quên cả sự có mặt của tôi. Ông chơi đàn và hát vang nhà với giai điệu sôi nổi mà theo lời ông là của chương cuối bản sonata số 23 trong gần 1 giờ đồng hồ. Cuối cùng ông đứng dậy, ngạc nhiên khi thấy tôi đứng đó và nói : “ Rất tiếc là tôi ko thể dạy anh được, hôm nay tôi đang có việc phải làm”…”

Chương đầu (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Beethoven_Piano_Sonatas_Barenboim/CD07/Track03.mp3), viết theo hình thức sonata-allegro, chuyển động nhanh sau phần mở đầu gây ngạc nhiên trong việc thay đổi tone và nhịp độ. Chủ đề mở đầu dựa trên 2 motif tương phản. Motif đầu trầm lắng nhưng mang điềm báo đáng ngại, motif thứ hai rất ngắn chỉ với 4 nốt nhưng được nhắc lại quả quyết và đầy khó chịu, được lặp lại có quy luật gợi nhớ đến âm hình “định mệnh gõ cửa” trong chương 1 bản Giao hưởng số 5 (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=243) của nhạc sĩ sau này. Ngay sau hình ảnh đầy ám ảnh mang dáng vẻ của một thế lực đen tối này, motif đầu được nhắc lại ở giọng Son giáng trưởng tạo nên tương phản. Phần tóm tắt chủ đề 1 là đoạn chơi khá mạnh với sự hân hoan chiến thắng chuyển sang giọng Fa trưởng với sự thay đổi ví trí trên phím piano. Chủ đề 2 xuất hiện như là sự đảo ngược tự do của chủ đề chính mang màu sắc thanh thản và nét đẹp nhẹ nhàng. Tiếp đó là phần phát triển khi mà các chủ đề va chạm nhau, mâu thuẫn đẩy dần lên cao trào với sự chiếm ưu thế của chủ đề 1. Cũng như trong Sonata “Waldstein”, đoạn coda kéo dài một cách bất bình thường, chứa đựng phần ứng tác hợp âm rải trải rộng trên bàn phím piano. Việc tác giả lựa chọn giọng Fa được nhanh chóng làm sáng tỏ khi nhận thấy chương này thường xuyên sử dụng các tông tối và sâu của những nốt Fa thấp nhất trên đàn piano, cũng là nốt thấp nhất mà Beethoven đã sử dụng trong sáng tác sonata.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/a/ab/Opus57partiture.png

(Đoạn đầu của chương 2)


Chương 2 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Beethoven_Piano_Sonatas_Barenboim/CD07/Track04.mp3)được xem như phần lắng dịu giữa 2 cơn bão. Chìm trong không khí ấm áp và thân tình, khá đồng nhất về giai điệu tương phản với sự phức tạp đan xen của chuyển động cũng như tính chất âm nhạc của chương trước. Không khí này có được nhờ cấu trúc chỉ gồm 1 chủ đề và các biến tấu với nhịp độ chậm, yên tĩnh và có tính chất tụng ca ở giọng Rê giáng trưởng. Chủ đề này gồm có 2 đoạn tám nhịp đều đặn được nhắc lại, đoạn thứ 2 bắt đầu ở giọng La giáng trưởng. Các khúc biến tấu lần lượt là :


Biến tấu đầu tương tự như chủ đề gốc, nhấn nhịp khác thường ở tay trái.
Biến tấu 2 là sự tô điểm thêm cho chủ đề chính với 16 nốt.
Biến tấu 3 với tốc độ nhanh, thêm vào 30 nốt. Thay cho việc nhắc lại, tay trái và tay phải mỗi bên đảm nhiệm một phần của chủ đề chính khi trở lại.
Biến tấu 4, đoạn nhắc đi nhắc lại chủ đề gốc với một chút thay đổi, thay thế đoạn kết ở nốt lặng, cặp đôi khép lại ở hợp âm quãng 7 giảm (ở tay phải?!), đầu tiên chơi pianissimo rất nhẹ, tính chất âm nhạc tươi mới, trong vắt… như gạn lọc, tẩy rửa… lúc đầu ở tay phải, rồi tiếp nối với cả 2 tay, sau một giây lát dường như ngơi nghỉ bất ngờ chơi rất mạnh, vang như tiếng sấm (so sánh theo mức độ tương phản với phần trước) và chuyển sang chương 3 không có đoạn nghỉ (attacca). Beethoven cũng đã kết chương 3 của Giao hưởng số 5 trong khi trạng thái căng thẳng vẫn chưa chấm dứt, để rồi chương 4 nối tiếp với tiếng kèn đồng hân hoan chiến thắng. Cũng như vậy, ở đây cũng có một đoạn kết không đuợc giải quyết hoàn toàn, nhưng sự trì hoãn lâu hơn so với bản Giao hưởng số 5.

Chương 3 (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Beethoven_Piano_Sonatas_Barenboim/CD07/Track05.mp3) cũng dựa trên hình thức sonata – allegro nhưng có nhiều biến đổi khác thường, chỉ có phần thứ 2 là được chủ định sẽ nhắc lại. Chương này được dựa trên chủ đề có tính chất chuyển động không ngừng (perpetuum mobile)* với 16 nốt luân chuyển liên tục mà chỉ được ngắt quãng trong đoạn trình bày và đoạn coda. Đoạn coda xuất hiện với chủ đề hoàn toàn mới dựa trên hình thức nhịp đôi. Chuyển động của cảm xúc dẫn đến đỉnh điểm ở giọng Fa thứ án ngữ một cách vững chắc với sự hỗ trợ từ những âm át quãng bảy. Chương này là một tổ hợp giàu cảm xúc với nhịp bước gấp gáp, nếu không muốn nói là một cơn bão táp âm thanh.

Sonata “Appasionata” trong đời sống :

Sức mạnh lôi cuốn của những cảm xúc, của dòng chuyển động âm thanh xuyên suốt qua mối quan hệ phức tạp và đa dạng giữa các yếu tố trong bản sonata, đã gợi lên những liên tưởng về những cuộc đấu tranh cùng nỗ lực vượt lên trên sự rối loạn và hỗn mang, bằng sức mạnh của lòng nhiệt thành, của tình cảm chân thật. Đó cũng là lý do khiến Lenin - nhà cách mạng xã hội của thế kỷ 20 rất yêu thích tác phẩm này. Maxim Gorky kể lại rằng Lenin luôn tự nhận mình không có khả năng phê bình âm nhạc cũng như điều kiện thưởng thức âm nhạc, nhưng luôn yêu thích và sẵn sàng nghe Sonata “Appasionata” bất cứ lúc nào, với một suy nghĩ xuất phát từ cảm nhận chân thành, nhưng cũng tự nhận là có phần ngây thơ rằng “hãy xem, con người có thể sáng tạo ra những điều kỳ diệu như thế nào”.

Nếu như các sonata nổi tiếng khác như số 8 “Pathétique”, số 14 “Moonlight” (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=431) hay cho đến sonata No. 26 “Les Adieux”… nổi trội với nét trữ tình sâu lắng, bổ sung những nét mềm mại vào bức chân dung Beethoven vốn được dựng lên từ những nét cấu trúc vững chãi chắc khỏe của các bản giao hưởng (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=595), thì Sonata “Appasionata” lại như một phần thuộc về âm hưởng hào hùng của các bản giao hưởng kia, được tạo nên từ nguồn chất liệu đơn giản song mang lại những ấn tượng cảm xúc lớn lao không kém.

Chú thích : * perpetuum mobile (tiếng Latin) được hiểu là một đoạn nhạc đặc trưng bởi sự chuyển động không ngừng của các nốt với nhịp nhanh. Toàn bộ hoặc một phần đáng kể thường được nhắc đi nhắc lại mà không bị giới hạn bởi số lần. Kỹ thuật này cũng xuất hiện trong chương cuối Piano Sonata No. 17 “Tempest” (Bão táp) của Beethoven, hay trong Piano sonata No. 2 của Frédéric Chopin (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=50)… và được thể hiện bởi dàn nhạc như trong chương cuối Concerto (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=188) cho dàn nhạc của Béla Bartok (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=43). Trong một vài trường hợp, thể canon cũng có thể được chơi theo kiểu moto perpetuo, lúc đó được gọi là canon perpetuus.



Redvector (tổng hợp)


Nguồn : http://en.wikipedia.org
http://www.bbc.co.uk/radio3/classical

---------------

Một bài viết khác:

Sonata Appassionata, Beethoven, 1804

Bản sonata này là một tác phẩm vĩ đại về sự đấu tranh quyết liệt giữa hai thế lực Thiện và Ác, giữa Định Mệnh và Ý Chí của con người.
Schidler, một học trò của Beethoven, có hỏi: "Thưa thầy, bản sonata này nói gì, con không hiểu." Beethoven trả lời: "Con hãy đọc Bão táp của Shakespeare, thì sẽ hiểu ta."

Chương I: Beethoven mệnh danh chương mở đầu này là "Số phận gõ cửa." Trong các sonata của mình, ngay ở chương đầu, Beethoven thường đã thể hiện một cách tài tình sự tương phản giữa hai thế lực, làm cho tác phẩm của ông chứa đầy kịch tính. Mở đầu, các hợp âm rải (điệu thứ) ở âm vực thấp vang lên, nghe âm u, bí hiểm. Đi kèm với nét nhạc này là những giai điệu nghe xao động, lo lắng. Tiếp theo đó, một tiết nhạc ngắn, trầm trầm, lặp đi lặp lại, như tiếng gõ cửa của số mệnh; bóng đen huyền bí cứ bám theo con người, một cách ngoan cố. Cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt. Con người có khi quyết tâm chiến thắng, có lúc lại hoang mang, dao động, nhưng rồi chính những tình cảm nhân ái giữa con người với con người, chính những cái đẹp trong cuộc sống đã giúp con người lấy lại lòng tin để lại vùng lên, quyết tâm chiến thắng kẻ thù, hay số mệnh. Nét nhạc càng trở nên hùng dũng, thể hiện ý chí của con người; chủ đề "uy hiếp" tuy vẫn theo sát, nhưng phai mờ dần.

Chương II: Đối lập với nét nhạc tương phản, căng thẳng ở chương I là những hợp âm trong sáng, hiền hoà, đem lại những giây phút lặng lẽ, thanh bình. Bỗng dưng, một hợp âm chói tai vang lên như một tiếng kêu thất thanh, báo hiệu sự trở lại của những thế lực đen tối. Cuộc đấu tranh lại tiếp diễn.

Chương III: Những cơn gió gào, bão táp nổi lên, điên cuồng, như muốn thách thức ý chí của con người.


(Theo Nguyễn Lang, Bước Đầu Tìm Hiểu Âm Nhạc)


-----------

Mời các bạn thưởng thức tác phẩm này do Barenboim trình diễn:

1. Piano Sonata No.23 in F minor, Op.57 -"Appassionata" - 1. Allegro assai
(http://nghenhaccodien.info/music/classic/Beethoven_Piano_Sonatas_Barenboim/CD07/Track03.mp3) 2. Piano Sonata No.23 in F minor, Op.57 -"Appassionata" - 2. Andante con moto
(http://nghenhaccodien.info/music/classic/Beethoven_Piano_Sonatas_Barenboim/CD07/Track04.mp3) 3. Piano Sonata No.23 in F minor, Op.57 -"Appassionata" - 3. Allegro ma non troppo (http://nghenhaccodien.info/music/classic/Beethoven_Piano_Sonatas_Barenboim/CD07/Track05.mp3)

Sheet của tác phẩm đây nếu ai có nhu cầu tập:
Piano Sonata No.23 (http://imslp.org/wiki/Piano_Sonata_No.23,_Op.57_%28Beethoven,_Ludwig_van %29)

-------------
*Tuần sau: Chủ đề của tháng 10

tranminhchinh
30-10-2008, 22:58
Câu chuyện về những hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ (Phần 1)
Turkish March" của W.A. Mozart bạn nghe hôm nay không phải được chơi trên một cây piano có “cần bấm Thổ”. Nhưng nghe những hợp âm rải tốc độ nhanh bằng tay trái mô phỏng tiếng trống trầm cũng không kém phần thú vị.

DOWNLOAD (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Mozart%20_%20Turkish%20March.MP3)


Bản nhạc : Turkish March (Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ)
Trích Piano Sonata No. 11 giọng La trưởng, K. 331
Tác giả : Wolfgang Amadeus Mozart
*****

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/mozart.jpg

Mozart vào khoảng năm 1780,
(Tranh của Johann Nepomuk della Croce)
Nguồn: wikipedia.org

Theo danh mục tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart, chỉ riêng trong mùa hè năm 1778, ông đã viết tới 5 bản sonata cho đàn piano (các bản số 8, 10, 11;12 và 13).
Với thông lệ sáng tác sonata thời cổ điển, chương đầu của một bản sonata được viết theo hình thức sonata còn các chương tiếp theo có thể được viết theo các hình thức khác. Nhưng Piano Sonata số 11, giọng La trưởng, K. 331. lại là một biệt lệ vì không có chương nào trong số 3 chương ở hình thức sonata cả.
Chương thứ nhất gồm một chủ đề cùng sáu biến tấu. Chương thứ hai - trung tâm của tác phẩm, là một điệu minuet cùng một đoạn trio. Còn chương thứ ba ở hình thức rondo “theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ” (Alla Turca).
Chương Alla Turca, còn được gọi là Turkish Rondo hay Turkish March, thường được tách ra khỏi bản sonata để biểu diễn độc lập. Chương nhạc ngắn nhất của bản sonata này đã trở thành một trong số những khúc nhạc nổi tiếng nhất của Mozart. Hơn nữa, Turkish March còn là điển hình cho một trào lưu ảnh hưởng phong cách thời Mozart - phong cách Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngoài Piano Sonata số 11, Mozart cũng sử dụng phong cách Thổ Nhĩ Kỳ trong một số tác phẩm khác như vở opera Die Entführung aus dem Serail (Bắt cóc khỏi hậu cung) và Violin Concerto số 5.
Các nhà soạn nhạc trường phái Cổ điển Vienna khác (trong đó có hai tên tuổi lớn là Haydn và Beethoven) cũng sử dụng phong cách âm nhạc thịnh hành này trong tác phẩm của họ.
Phong cách Thổ Nhĩ Kỳ có lẽ là phong cách phương Đông đầu tiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến âm nhạc phương Tây. Phong cách Thổ Nhĩ Kỳ mà các nhà soạn nhạc thời Cổ điển sử dụng hao hao giống phong cách của các ban quân nhạc đế chế Ottoman, đặc biệt là các ban nhạc vệ binh vua Thổ (Turkish Janissary bands). Âm thanh đặc trưng của những ban nhạc này là sự kết hợp giữa các trống trầm, chuông, kẻng ba góc, cymbal và các nhạc cụ khác.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/hanhkhucthonhikywiki.jpg

Hình ảnh một ban quân nhạc Ottoman - Nguồn: wikipedia.org

Một sự thúc đẩy quan trọng cho trào lưu ảnh hưởng phong cách từ âm nhạc Thổ xảy ra vào năm 1699 khi hai đế chế Áo và Ottoman đàm phán Hiệp ước Karlowitz. Để ăn mừng việc ký kết thành công hiệp ước, đoàn ngoại giao Thổ đã mang theo một ban nhạc vệ binh vua Thổ cùng những nghệ sĩ biểu diễn khác tới Vienna để trình diễn trong một vài ngày.
Những mô phỏng xảy ra trước tiên ở các ban quân nhạc châu Âu. Rồi nhiều nhà soạn nhạc cổ điển châu Âu ở thế kỉ 18 cũng bị hấp dẫn bởi phong cách Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là vai trò quan trọng được giao cho các nhạc cụ bộ đồng và bộ gõ trong các ban quân nhạc Thổ.
Vào khoảng bước ngoặt chuyển sang thế kỉ 19, âm nhạc theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ phổ biến đến mức những nhà làm đàn piano đã chế tạo ra những chiếc piano đặc biệt có “cần bấm Thổ” hay còn gọi là “cần bấm quân đội”, “cần bấm Janissary". Khi người chơi nhấn cần bấm này, một chiếc chuông sẽ rung lên hoặc một búa có đệm lót sẽ đập vào bảng cộng hưởng để mô phỏng tiếng trống trầm.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/turkishmarchmozart.gif

Phần đầu bản nhạc "Turkish March" của W.A. Mozart - Nguồn: everynote.com

Ở một số đàn piano, cả hai hiệu ứng này đều xảy ra khi sử dụng cần bấm. Theo Edwin M. Good, “cần bấm Thổ” rất phổ biến để chơi Turkish March của Mozart và khá nhiều nghệ sĩ piano thời đó hân hoan sử dụng cần bấm này để điểm tô cho tác phẩm.
Turkish March bạn nghe hôm nay không phải được chơi trên một cây piano có “cần bấm Thổ”. Nhưng nghe những hợp âm rải tốc độ nhanh bằng tay trái mô phỏng tiếng trống trầm cũng không kém phần thú vị.
Một điều quan trọng là qua Turkish March, chúng ta được làm quen với phong cách Thổ Nhĩ Kỳ và sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận với những tác phẩm âm nhạc cổ điển quy mô lớn có những đoạn nhạc sử dụng phong cách này.


Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2233/index.aspx)
--------------------
Hì, bài này post theo yêu cầu của chị yêu!



Câu chuyện về những hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ (Phần 2)
Ngày này của 337 năm về trước - 17/12/1770, thiên tài âm nhạc người Đức Ludwig van Beethoven đã ra đời. Thưởng thức "Turkish March" với giai điệu rộn rã, hào hứng cũng là một cách thú vị để nhớ về ông với tài năng âm nhạc tuyệt vời!

DOWNLOAD (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Beethoven%20_%20Turkish%20March.wma)
Bản nhạc: Turkish March (Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ)
Trích nhạc nền cho vở kịch “Tàn tích của thành Athens” Op.113
Tác giả: Ludwig van Beethoven
Thể hiện: Dàn nhạc St Luke’s (chỉ huy : Dennis Russell Davies)
***

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/beethoven.jpg
Chân dung Ludwig van Beethoven
(Tranh vẽ của Joseph Karl Stieler năm 1820)
Nguồn: wikipedia.org
Âm nhạc cổ điển theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ luôn có nhịp điệu sôi nổi và thường là một kiểu hành khúc. Mozart đã dùng những hợp âm rải tốc độ nhanh bằng tay trái trên piano để mô phỏng tiếng trống trầm trong Turkish Marchrộn rã của mình.
Còn khi âm nhạc theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ được phối cho dàn nhạc, các nhà soạn nhạc sử dụng thêm những nhạc cụ gõ trước đó không có trong dàn nhạc thời Cổ điển, tiêu biểu là trống trầm, chuông, kẻng ba góc, cymbal. Và điều này được thể hiện rõ ràng trong Turkish Marchcủa Beethoven.
Cũng giống như bản nhạc của Mozart, Turkish Marchcủa Beethoven đã được tách ra từ một tổng thể để biểu diễn độc lập.
Nhưng nếu như Turkish Marchcủa Mozart là một chương của sonata thì Turkish Marchcủa Beethoven là một tiết mục trong bộ nhạc nền viết cho vở kịch “Tàn tích của thành Athens” Opus 113.
Vào năm 1811, thành phố Pest của Hungary (sáp nhập với Buda năm 1873) chuẩn bị khai trương một nhà hát lớn mới. Lễ khánh thành nhà hát được kết hợp với lễ kỉ niệm ngày lễ đặt tên của hoàng đế Francis II vào ngày 5 tháng 10.
Để có tác phẩm trình diễn cho dịp này, những người có thẩm quyền đã hướng tới nhà viết kịch nổi tiếng August von Kotzebue và nhà soạn nhạc lỗi lạc Ludvig van Beethoven.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/thein-brassde.jpg

Kẻng ba góc (triangle) trong dàn nhạc
Nguồn: thein-brass.de
Kotzebue đã viết hai vở kịch “Tàn tích của thành Athens” và “Vua Stephen”, ngập tràn những lời ca tụng hoàng gia. “Tàn tích của thành Athens” mô tả thành phố Pest như một phiên bản tân tiến hơn thành Athens cổ xưa. Trong đó, Kotzebue dựng lên câu chuyện tưởng tượng về nữ thần Minerva thức dậy sau giấc ngủ dài 2000 năm. Minerva thấy thành Athens đã đổ nát và những dấu tích văn hóa cuối cùng của nó được bảo tồn ở Hungary.
Beethoven không quan tâm lắm tới việc tâng bốc những bậc quyền thế. Thế nhưng ông hứng thú bất cứ cái gì có liên quan đến nhà hát và hơn nữa ông cũng cần tiền. Beethoven đã viết nhạc nền cho cả hai vở kịch, tổng cộng có 19 tiết mục.
Cho dù lễ khánh thành nhà hát đã được hoãn tới tận tháng 2 năm sau đó và Beethoven không cần phải vội vã, phần âm nhạc vẫn được hoàn thành rất sớm - chỉ trong ba tuần của tháng 8 và tháng 9 năm 1811.
Ngoài 2 overture cho 2 vở kịch, Turkish Marchlà tiết mục duy nhất trong số 19 tiết mục nói trên thường được tách ra để biểu diễn độc lập trên sân khấu hòa nhạc. Nó trở nên quen thuộc với thính giả còn vì trước đó, vào năm 1809, Beethoven đã viết một bộ 6 biến tấu cho đàn piano Opus. 76 với chính chủ đề Turkish Marchnày.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2007/12/maxmallestcom.jpg
Trống trầm (bass drum) trong dàn nhạc
Nguồn: maxmallest.com
Những nhạc cụ gõ mà Beethoven sử dụng trong Turkish March dần dần được dùng trong dàn nhạc giao hưởng mà không nhất thiết phải gợi lên một bầu không khí kiểu Thổ Nhĩ Kỳ.
Đến thời gian Beethoven viết giao hưởng số 9 “Hướng tới niềm vui”, phong cách Thổ Nhĩ Kỳ không còn thịnh hành trong đời sống âm nhạc như trước. Nhưng ở chương cuối của bản giao hưởng, ông vẫn sử dụng một số nhạc cụ gõ trong các ban quân nhạc Thổ.
Cho tới cuối thế kỉ 19, các tác giả giao hưởng đã thoải mái sử dụng những nhạc cụ gõ này trong tổng phổ. Vậy là qua một chặng đường dài, những nhạc cụ này đã trở thành món quà quý giá mà truyền thống quân nhạc Thổ Nhĩ Kỳ tặng cho âm nhạc cổ điển phương Tây.


Ngọc Anh
(Tuần Việt Nam) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2285/index.aspx)

Bài này giá trị thật...đã bấm nút Thank..:D

Wal
04-11-2008, 07:52
Tiệc tùng cùng Water Music


Nếu bạn đang lên thực đơn âm nhạc cho bữa tiệc sắp tới cùng bạn bè và cảm thấy hơi nhàm chán với các vũ khúc thành Vienna của gia đình Strauss thì tổ khúc cho dàn nhạc thời Baroque như Water Music là một lựa chọn đáng lưu tâm, và ắt hẳn sẽ khiến cả những thực khách sành sỏi phải trầm trồ hài lòng.


Bản nhạc: OVERTURE (LARGO - ALLEGRO) (DOWNLOAD) (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/WaterMusic.mp3)
Trích Tổ khúc Water Music No. 1, HWV 348
Tác giả: George Frideric Handel
Thể hiện: Nhóm hòa tấu The English Concert (chỉ huy: Trevor Pinnock)
*****

Vào ngày 17 tháng 7 năm 1717, vua George I của nước Anh tổ chức một bữa tiệc thượng lưu trên sông Thames. Và tất nhiên, tiệc tùng của các ông hoàng bà chúa - dù tổ chức ở trên sông, cũng không thể thiếu được âm nhạc.

Tờ Daily Courant miêu tả cảnh hội hè đình đám trên sông Thames ngày đó như sau: "có nhiều thuyền của giới thượng lưu tham dự và số thuyền lớn đến mức dàn kín cả mặt sông; người ta dùng một con thuyền của phường hội Luân Đôn để chở các nhạc công, 50 người cả thẩy, chơi nhạc suốt hành trình từ Lambeth... Bản giao hưởng hay nhất, được sáng tác đặc biệt cho dịp này là của Mr. Handel mà đức vua thích đến nỗi đòi chơi đi chơi lại những 3 lần."


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/watemusic1-aulos-orgok.jpg

Nguồn: aulos.org

Mr Handel mà tờ Daily Courant nhắc đến chính là nhà soạn nhạc George Frideric Handel (1685 – 1759). Handel sinh cùng năm và cũng là người Đức như Johann Sebastian Bach (1685 – 1750) nhưng con đường lập thân, lập nghiệp của hai ông rất khác biệt về không gian.

Bach cả đời không rời Đức còn Handel thì sang Ý rồi sang Anh. Phần lớn cuộc đời và sự nghiệp của Handel trải qua ở nước Anh (ông nhập quốc tịch Anh năm 1727).

Năm 1710, George I (lúc đó mới chỉ là hoàng thân xứ Hanover) đã hào phóng phong cho “nhạc sĩ lang thang” Handel một chức vụ trong triều đình mình. Tuy nhiên Handel thực sự chưa bao giờ làm tròn nhiệm vụ soạn nhạc cho triều đình George I. Vì thế sau khi George I tới Luân Đôn và đăng quang vua Anh vào năm 1714, Handel khá miễn cưỡng khi phải đối mặt với vị ân nhân này.

Bữa tiệc trên sông Thames năm 1717 là một cơ hội tuyệt vời để Handel cải thiện vị thế của mình trong con mắt hoàng gia Anh. Chỉ tội cho các nhạc công mệt nhoài khi phải chơi lại nhiều lần tác phẩm dài hàng giờ.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/handel-mucd-deok.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc
George Frideric Handel
Nguồn:mucd.de
Ở thời Baroque, một bản giao hưởng là một tác phẩm hòa tấu chỉ của các nhạc cụ mà không có bè giọng hát – loại tác phẩm này được những người Ý khởi xướng. Từ giao hưởng cũng được áp dụng để chỉ phần mở đầu khí nhạc hoặc phần ngưng nghỉ trung gian (interlude) trong các thể loại thanh nhạc lớn như cantata, opera và oratorio.

Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi tờ Daily Courant gọi tác phẩm "được sáng tác đặc biệt cho dịp này" là "bản giao hưởng". Ngày nay những người yêu nhạc Handel biết đến nó với cái tên Water Music (Nhạc nước).

Trong danh mục tác phẩm của Handel, Water Music là bộ 3 tổ khúc cho dàn nhạc mang ký hiệu HWV 348-350, lần lượt ở các điệu thức Fa trưởng; Rê trưởng và Sol trưởng. Water Music là một trong hai tác phẩm cho dàn nhạc nổi tiếng nhất của Handel, cùng với tổ khúc Music for the Royal Fireworks (Âm nhạc cho lễ hội pháo hoa hoàng gia, HWV 351).

Water Music được mở đầu bằng một Overture Pháp rồi đến một loạt các chương nhạc mang tính vũ khúc như minuet, bourré... Handel sử dụng các nhạc cụ thời Baroque có thể mang lên thuyền được (vì thế không có harpsichord). Ngoài ra, các nhạc cụ hơi-gỗ và nhạc cụ đồng đã phát huy được lợi thế của chúng trong không gian mở.

Trình tự các chương nhạc trong Water Music mà ngày nay chúng ta nghe không hoàn toàn giống với trình tự mà vua George I cùng quần thần nghe ngày ấy. Handel đã sắp đặt để các chương chậm, êm ái được chơi khi thuyền rồng và thuyền chở nhạc công ở gần nhau còn các chương nhanh và ầm ĩ hơn được chơi khi hai thuyền này xa nhau.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/WaterMusic1-opusarteok.jpg

Những người khách du ngoạn trên sông Thames ngày nay vẫn được
thưởng thức bộ tổ khúc Water Music - Nguồn: opusarte.com

Cũng theo tờ Daily Courant, các chương nhạc thuộc tổ khúc Water Music No. 3 giọng Sol trưởng HWV 350, với âm điệu êm ái hơn của các đàn dây và flute, được dành để biểu diễn trong bữa tiệc tối tự chọn tại biệt thự của huân tước Ranelagh ở Chelsea, nơi có một buổi hòa nhạc khác kéo dài đến tận 2 giờ sáng.

Nếu bạn đang lên thực đơn âm nhạc cho bữa tiệc sắp tới cùng bạn bè và cảm thấy hơi nhàm chán với các vũ khúc thành Vienna của gia đình Strauss thì tổ khúc cho dàn nhạc thời Baroque là một lựa chọn đáng lưu tâm. Các tác phẩm thuộc thể loại kết hợp giữa khía cạnh nghệ thuật và khía cạnh giải trí như Water Music của Handel hay các Tổ khúc cho dàn nhạc của Bach (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4517/index.aspx) hẳn sẽ khiến các thực khách sành sỏi phải trầm trồ.


Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5015/index.aspx)



-------------------
Mời các bạn cùng thưởng thức toàn bộ tác phẩm:

http://ecx.images-amazon.com/images/I/5159K203PQL._SS500_.jpg



Performer: English Concert, English Concert and Choir
Conductor: Trevor Pinnock
Composer: George Frederick Handel



01. Water Music Suite No. 1 in F major - Overture Largo - Al.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/01.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Overture%20Largo%20-%20Al.mp3)
02. Water Music Suite No. 1 in F major - Adagio e staccato.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/02.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Adagio%20e%20staccato.mp3)
03. Water Music Suite No. 1 in F major - Allegro.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/03.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Allegro.mp3)
04. Water Music Suite No. 1 in F major - Andante.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/04.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Andante.mp3)
05. Water Music Suite No. 1 in F major - Presto.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/05.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Presto.mp3)
06. Water Music Suite No. 1 in F major - Air.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/06.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Air.mp3)
07. Water Music Suite No. 1 in F major - Menuet.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/07.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Menuet.mp3)
08. Water Music Suite No. 1 in F major - Bourree. Presto.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/08.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Bourree.%20Presto.mp3)
09. Water Music Suite No. 1 in F major - Hornpipe.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/09.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Hornpipe.mp3)
10. Water Music Suite No. 1 in F major - Finale.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/10.%20Water%20Music%20Suite%20No.%201%20in%20F%20m ajor%20-%20Finale.mp3)
11. Water Music Suite No. 2 in D major - Allegro.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/11.%20Water%20Music%20Suite%20No.%202%20in%20D%20m ajor%20-%20Allegro.mp3)
12. Water Music Suite No. 2 in D major - In Hornpipe manner.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/12.%20Water%20Music%20Suite%20No.%202%20in%20D%20m ajor%20-%20In%20Hornpipe%20manner.mp3)
13. Water Music Suite No. 2 in D major - Menuet.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/13.%20Water%20Music%20Suite%20No.%202%20in%20D%20m ajor%20-%20Menuet.mp3)
14. Water Music Suite No. 2 in D major - Lentement.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/14.%20Water%20Music%20Suite%20No.%202%20in%20D%20m ajor%20-%20Lentement.mp3)
15. Water Music Suite No. 2 in D major - Bourree.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/15.%20Water%20Music%20Suite%20No.%202%20in%20D%20m ajor%20-%20Bourree.mp3)
16. Water Music Suite No. 3 in G major (Untitled).mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/16.%20Water%20Music%20Suite%20No.%203%20in%20G%20m ajor%20%28Untitled%29.mp3)
17. Water Music Suite No. 3 in G major - Presto.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/17.%20Water%20Music%20Suite%20No.%203%20in%20G%20m ajor%20-%20Presto.mp3)
18. Water Music Suite No. 3 in G major - Menuet.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/18.%20Water%20Music%20Suite%20No.%203%20in%20G%20m ajor%20-%20Menuet.mp3)
19. Water Music Suite No. 3 in G major - (Untitled).mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/19.%20Water%20Music%20Suite%20No.%203%20in%20G%20m ajor%20-%20%28Untitled%29.mp3)
20. Water Music Suite No. 3 in G major - Country Dance.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/20.%20Water%20Music%20Suite%20No.%203%20in%20G%20m ajor%20-%20Country%20Dance.mp3)
21. Water Music Suite No. 3 in G major - Country Dance.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2001/HANDEL,%20Georg%20Frideric%20-%20The%20Water%20Music%20Suites/21.%20Water%20Music%20Suite%20No.%203%20in%20G%20m ajor%20-%20Country%20Dance.mp3)

Đọc thêm thông tin về tác phẩm trên wikipedia:
http://en.wikipedia.org/wiki/Water_Music_(Handel (http://en.wikipedia.org/wiki/Water_Music_%28Handel))

Wal
10-11-2008, 13:42
Concerto Mùa thu của Vivaldi

Cũng giống như 3 concerto khác của Bốn Mùa, trong Concerto Mùa Thu viết ở giọng Fa trưởng, Vivaldi đã sử dụng các kỹ thuật bậc thầy của violon và các hiệu quả sống động từ dàn nhạc để tạo ra hình tượng âm nhạc

Bản nhạc: CONCERTO "MÙA THU" (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/VivaldifourSeasonConcertoNo.3.F.I.No.24.Autumn.2.A dagio.3.Allegro.mp3)
Trích tổ khúc “Bốn Mùa”
Tác giả: Antonio Vivaldi (http://www.nhaccodien.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=83)
Thể hiện: Lorin Maazel (violon) và Dàn nhạc quốc gia Pháp
*****

Không xa lắm so với thời điểm vua George I cùng hoàng gia Anh hân hoan nghe Water Music (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5015/index.aspx) của George Frideric Handel (1685 – 1759) trên sông Thames, hoàng gia Pháp mà đứng đầu là vua Louis XV cũng hoan hỉ với món quà âm nhạc tương tự từ một người ngoại quốc.

Nhà soạn nhạc người Ý Antonio Vivaldi (1678 – 1741) đã viết tặng hoàng gia Pháp 3 serenade. Trong số đó, bản La senna festeggiante (Tiệc sông Seine) viết năm 1720 và mang đậm phong cách Pháp thời đó, được đề tặng cho vua Louis XV.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/vivaldi-lifeinitaly-comok.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Antonio Vivaldi - Nguồn: lifeinitaly.com

Nhờ 3 serenade này, danh tiếng của Vivaldi ở Pháp càng được củng cố hơn. Trước đó, các concerto Le quattro stagionni (Bốn mùa) của ông đã được đón nhận nhiệt liệt ở Pháp, nơi mà quan niệm về việc dùng âm nhạc mô phỏng thiên nhiên được chấp nhận và phát huy.

Vivaldi có lẽ là người sáng tác nhiều concerto nhất trong mọi nhà soạn nhạc lớn của châu Âu. Ông từng khoe rằng có thể sáng tác một bản concerto nhanh hơn thời gian một người chép nhạc có thể chép xong phân phổ cho các nhạc công trong dàn nhạc.

Năm 1725, nhà xuất bản âm nhạc Le Cène ở Amsterdam, Hà Lan cho in một tuyển tập concerto mới của Vivaldi có tên Il cimento dell"armonia e dell"inventione (Thử nghiệm hòa âm và sáng tác) Op. 8. 12 concerto trong Op. 8 đều viết cho violon độc tấu, dàn dây và phần đệm basso continuo. Mở đầu tập này là bộ 4 concerto Le quattro stagionni (Bốn mùa) gồm La primavera (Xuân); L"estate (Hạ); L"autunno (Thu); L"inverno (Đông).


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/autumm-imageshack-usok.jpg

Mùa thu - Nguồn: imageshack.us

Các concerto Bốn Mùa được Vivaldi đề tặng Veenceslao Monzinm, một vị bá tước người Bohemia. Nhà soạn nhạc viết trong lời đề tặng: "Vì các concerto này có thể nói về bất cứ cái gì, tôi nghĩ thật đúng đắn khi xuất bản chúng cùng với những bài thơ sonnet kèm theo và lời giảng nghĩa cho mọi tác phẩm được viết ra. Tôi cảm thấy chúng sẽ được xem là hoàn toàn mới mẻ".

Như vậy, in cùng 4 concerto là 4 bài thơ thể sonnet miêu tả từng mùa (có thể Vivaldi là tác giả của các sonnet này). Bốn Mùa là một trong những đại diện của âm nhạc chương trình thời kỳ Baroque.

Cũng giống như 3 concerto khác của Bốn Mùa, trong Concerto Mùa Thu viết ở giọng Fa trưởng, Vivaldi đã sử dụng các kỹ thuật bậc thầy của violon và các hiệu quả sống động từ dàn nhạc để tạo ra hình tượng âm nhạc, minh họa những gì bài sonnet đi kèm miêu tả.

Chương Allegro mở đầu Concerto Mùa Thu miêu tả một ngày hội làng tưng bừng với các bài ca và vũ điệu. Ở đó có những người nông dân đang ăn mừng một vụ mùa bội thu, có những người đang đốt cháy mình bằng thứ đồ uống tuyệt hảo của thần Bacchus (Thần Rượu Nho).


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/10/Lavendimia_Goya_lou.jpg

Bức tranh La Vendimia (Thu hoạch nho) của Francisco de Goya
Nguồn: wikimedia.org

Chương II - Adagio molto, không chứa đoạn violon solo, tả cảnh những đồ đệ của thần Bacchus lăn ra ngủ lúc đương chè chén.

Concerto Mùa Thu kết thúc bằng một chương Allegro khác. Âm nhạc mô tả một cảnh đi săn đầy hứng thú. Các thợ săn xuất hiện lúc bình minh và lên đường với bầy chó, súng và kèn. Violon độc tấu ngụ ý tiếng kèn săn trong khi các cây violon khác ở quãng âm thấp hơn trong dàn nhạc thể hiện tiếng bầy chó săn gầm gừ rượt theo con thú đang lẩn trốn.

Rất nhiều thính giả nhạc cổ điển đã rất hứng thú với Bốn mùa của Vivaldi hay Bốn mùa của Tchaikovsky (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/3880/index.aspx) ngay cả khi chưa biết nội dung các lời thơ in kèm bản nhạc. Họ kết hợp âm nhạc cùng trải nghiệm của bản thân để vẽ nên bộ tranh Tứ Quý của riêng mình.

Qua bộ Bốn mùa cùng nhiều concerto khác, Vivaldi đã minh chứng được sức sống và năng lực thể hiện hiện bằng khí nhạc của mình. Ở Weimar, Johann Sebatien Bach vĩ đại cũng tìm thấy sự lôi cuốn mạnh mẽ từ âm nhạc của Vivaldi. Điều này được thể hiện qua việc Bach chuyển soạn cho đàn phím (một cách sáng tạo chứ không chỉ sao chép bình thường) nhiều concerto khí nhạc của Vivaldi.




Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5086/index.aspx))



DOWNLOAD thêm:
http://hlash.udm.ru/pub/aro/sono/muziko/Classical/Antonio%20Vivaldi/

Wal
18-11-2008, 22:06
Ngày 6/11 vừa rồi là kỷ niệm 115 năm ngày mất của Peter Ilyich Tchaikovsky ( (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81)1840 - 1893) (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81), mãi lo đến mấy chuyện khác mà quên khuấy đi mất topic này, để "treo" mãi đến đêm Thứ Ba :(. Xin cáo lỗi cùng các bạn vì sự chậm trễ này :">!

Nếu các bạn chưa biết rõ về Tchaikovsky thì có thể vào đây (http://nhaccodien.info/modules.php?name=Author&op=Detail&cid=181)để tìm hiểu đôi chút về ông.

Được biết nhiều qua các tác phẩm nổi tiếng như ballet, giao hưởng, piano concerto, violin concerto, hay suite The season với khúc hát chèo thuyền (tháng 6) mà nhiều người biết đến... Nay xin giới thiệu thêm cho các bạn một tác phẩm viết cho dàn nhạc nổi tiếng không kém: Overture 1812 (*) của ông.



TÁC PHẨM

1812 Overture, in E flat major, Op 49

(Overture 1812, giọng Mi giáng trưởng, tác phẩm số 49)

Tác giả: Pyotr Ilyich Tchaikovsky (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81)
Thời gian sáng tác: năm 1880
Công diễn lần đầu: ngày 20/8/1882 tại Thánh đường Chúa Cứu thế, Moscow
Thời lượng: khoảng 14 phút
Tổng phổ: tác phẩm được viết cho một đội kèn đồng quân đội cùng một nhóm nhạc cụ giao hưởng gồm piccolo, 2 flute, 2 oboe, cor anglais, 2 clarinet giọng Si thứ, 2 bassoon, 4 horn giọng Fa, 2 cornet giọng Si thứ, 2 trumpet giọng Mi thứ, 3 trombone, tuba, timpani, triangle, tambourine, snare drum, một số cymbal, bass drum, carillon (đôi khi dùng các tubular bell), cannon (đôi khi dùng tiếng ghi âm đại bác thật hoặc thay bằng một bass drum hay tam-tam trong khán phòng), dàn dây. Trong một số buổi biểu diễn trong khán phòng, phần bè đội kèn đồng phải thay thế bằng một organ.



http://www.classicalvietnam.info/images/Image/TTD_IMAGES/alanbrooke_concert_1812_overture.jpg

Overture 1812, tên đầy đủ là “Overture Ngày hội năm 1812”, giọng Mi giáng trưởng, tác phẩm số 49 (tên tiếng Pháp là “Ouverture solennelle 1812”), là một overture (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=566) cho dàn nhạc của Pyotr Iiyich Tchaikowsky để tưởng niệm cuộc xâm lược thất bại của quân Pháp vào nước Nga và cuộc rút lui đã huỷ diệt đại quân Napoleon tiếp sau đó, một sự kiện đánh dấu năm 1812 như một bước ngoặt trong các cuộc chiến tranh của Napoleon. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất bởi một loạt những tiếng đại bác, đôi khi được trình diễn, đặc biệt là tại các lễ hội ngoài trời, dùng một hay nhiều khẩu đại bác thật. Khi biểu diễn trong nhà hát, các dàn nhạc có thể dùng máy tính hay dàn trống khổng lồ để tạo tiếng súng. Mặc dù tác phẩm thực ra không có sự liên hệ lịch sử nào với chiến tranh Anh - Mỹ năm 1812, nhưng tại Mĩ, tác phẩm vẫn thường xuyên được biểu diễn cùng những bản nhạc mang tinh thần yêu nước khác; Đây là bản nhạc chính yếu trong ngày lễ 4 tháng 7 (quốc khánh Hoa Kỳ). Tác phẩm này là một trong không đến mười bản nhạc có dùng tiếng súng và đại bác trong phần bè và cũng là một trong số rất ít tác phẩm cần đến sự góp mặt của carrilon (chuông chùm).

Mặc dù còn khá xa với tác phẩm quan trọng và ấn tượng nhất của Tchaikovsky, Overture 1812 rõ ràng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Bản thân Tchaikovsky không cảm thấy nhiều nhiệt huyết lắm với việc sáng tác overture này và nếu không phải vì miễn cưỡng được giao phó một overture tưởng nhớ trong lễ kỉ niệm thứ 70 chiến thắng của Nga trước quân Napoleon.

Bối cảnh lịch sử

Ngày 7/9/1812, từ khoảng cách 120 km (khoảng 75 dặm) về phía tây Moscow ở Borodino, quân của Napoleon giáp mặt với quân của tướng Kutuzov đang ở thế kháng cự có phối hợp duy nhất của Nga chống lại đội quân Pháp dường như bất khả chiến bại. Trận chiến ở Borodino gây ra số thương vong lớn ước tính khoảng 100000 người mà vẫn bất phân thắng bại. Tuy nhiên, nó đã thực sự đập tan được cuộc xâm lược của Pháp.

Với nguồn quân nhu trống rỗng và đường tiếp tế bị trải dài quá mức, lực lượng đã suy yếu của Napoleon di chuyển vào Moscow, bị bao vây mà không thể kháng cự. Mong đợi Sa hoàng Alexander đầu hàng có điều kiện, thay vào đó quân Pháp lại thấy mình đang ở trong một thành phố cằn cỗi và hoàng tàn đã bị quân Nga san phẳng hoàn toàn trước khi rút lui.

Thiếu nơi đồn trú mùa đông, Napoleon thấy cần phải rút quân. Bắt đầu vào ngày 19/10 và kéo dài đến tháng 12, quân đội Pháp phải đối mặt với một số trở ngại rất lớn trên đường dài rút quân khỏi Nga : nạn đói, thời tiết giá lạnh và lực lượng quân đội của Nga đã chặn hết mọi đường rút lui. Bị Napoleon bỏ rơi vào tháng 12, đội quân lớn nhất từng thấy đã suy yếu chỉ còn một phần mười so với lực lượng ban đầu lúc tiến đến Ba Lan.

Nhiệm vụ sáng tác overture

Năm 1880, Thánh đường Chúa Cứu thế, được sự uỷ nhiệm của Sa hoàng Alexander II về lễ tưởng niệm chiến thắng đánh bại quân xâm lược Pháp, đã gần được hoàn thành ở Moscow. Lễ kỉ niệm đăng quang lần thứ 25 của Sa hoàng cũng sắp đến vào năm 1881. Triển lãm nghệ thuật và công nghiệp Moscow cũng dự tính diễn ra vào năm 1882.

Mùa xuân năm 1880, người bạn đồng thời là cố vấn dày kinh nghiệm của Tchaikovsky, Nikolai Rubinstein, đã gợi ý về việc sáng tác một tác phẩm lớn mang tính tưởng niệm để sử dụng trong những hoạt động lễ hội có liên quan. Công việc được uỷ thác cho tổ chức mà ngày nay chúng ta gọi là Hội Chữ thập Đỏ. Tchaikovsky bắt đầu làm việc cho dự án vào ngày 12/10/1880 và hoàn thành nó sáu tuần sau đó. Người ta lên kế hoạch công diễn tác phẩm tại quãng trường trước thánh đường, với một nhóm kèn đồng hỗ trợ cho dàn nhạc, những tiếng chuông thánh đường cùng những người khác dưới phố Moscow chơi “Zvons on cue” (một thứ chuông cổ của Nga), tiếng đại bác thật đệm thêm vào, được bắn từ một bàn điều khiển công tắc để đạt được sự chính xác như tổng phổ yêu cầu mà mỗi phát bắn được viết với ý đồ đặc biệt.



http://www.classicalvietnam.info/images/Image/TTD_IMAGES/Christ_the_saviour_demonstration_for_overture_1812 .jpg

Giữa lúc ấy, Tchaikovsky đã than phiền với mạnh thường quân Nadezhda von Meck của mình rằng ông không phải là một “người pha chế các bản nhạc lễ hội” và rằng bản Overture có thể sẽ rất “khoa trương và ầm ĩ nhưng thiếu giá trị nghệ thuật, bởi lẽ tôi viết nó mà không có nhiệt tình lẫn tình yêu”. Việc này đã bổ sung ông vào đội ngũ những nghệ sĩ đôi lúc lại phê bình chính tác phẩm của mình dù nó là một trong số những bản nhạc được trình diễn và ghi âm nhiều nhất trong danh mục tác phẩm của ông.

Cấu trúc âm nhạc

Trong tổng phổ Overture, Tchaikovsky đã cho xuất hiện mười sáu phát đại bác. Bắt đầu bằng bản thánh ca buồn “God Preserve Thy People” (Chúa chở che những đứa con của người) vốn là bài quốc ca cũ của nước Nga, tác phẩm gợi lên bức tranh phong cảnh đồng quê và những người lính, khắc hoạ cảnh khốn cùng ngày một nặng nề của dân tộc Nga dưới bàn chân của quân xâm lược Pháp. Tại thời điểm quyết định của cuộc chiến - trận Borodino - xuất hiện 5 tiếng đại bác của Nga đương đầu với một chuỗi những khúc La Marseillaise (http://blog.360.yahoo.com/blog-XNUGwbU4daU7x4D4bc.qTvhfjlw-?cq=1&p=125#comments) lặp đi lặp lại một cách khoa trương. Không khí trầm lắng xuống nhờ đoạn giãn của bộ dây tái hiện sự tiêu hao lực lượng tiếp sau đó của quân đội Pháp, tiếp theo bằng hồi chuông chiến thắng và hân hoan lặp lại bài thánh ca “Chúa chở che những đứa con của người” khi Moscow bốc cháy để tránh trở thành nơi đồn trú mùa đông của quân Pháp. Một cảnh rượt đuổi âm nhạc xuất hiện, nổi lên bài thánh ca “Chúa cứu Sa hoàng”, tiếp đó vang lên như sấm 11 tiếng đại bác. Để chuẩn bị cho sự an toàn và chính xác về vị trí của những phát bắn - bây giờ cũng như vào năm 1880 - cần sử dụng 16 khẩu pháo nạp đằng nòng bởi nếu nạp lại đạn cho một khẩu để có được 16 phát bắn dù chỉ là những động tác tương tự kéo dài hai phút cũng sẽ không đạt được sự an toàn cũng như chính xác cần có. Riêng thời gian chậm trễ cũng phá vỡ việc thực hiện ý đồ của những phát súng.

Liệu Tchaikovsky có từng nghe tác phẩm như ông sáng tác ?

Những nhà nghiên cứu âm nhạc được hỏi ý kiến vào một phần ba cuối của thế kỉ đã không chỉ ra rằng tác giả đã từng được nghe bản Overture được biểu diễn một cách đích thực đúng như kế hoạch năm 1880. Người ta nói Tchaikovsky đã xin phép để biểu diễn tác phẩm y như dự tính ở Berlin nhưng bị từ chối. Buổi biểu diễn ông chỉ đạo ở Mĩ và tour diễn châu Âu hình như được thực hiện với những phát bắn giả tạo hoặc không chính xác, nếu với những phát bắn thật hoàn toàn, một tục lệ phổ biến sẽ còn lại đến ngày nay.

Antal Dorati và Erich Kunzel là những nhạc trưởng đầu tiên đã khuyến khích tính xác thực của những phát bắn được viết trong bản nhạc trong những buổi hoà nhạc sống, bắt đầu ở New York và Connecticut với một phần thu âm của Dorati và Kunzel ở Cincinnati vào năm 1967 cùng sự hỗ trọ của J. Paul Barnett, South Bend, Indiana. Trong số này thì bản của Dorati hay hơn và là một sự trình diễn trung thực hơn được ghi âm cho hậu thế trong đĩa Mercury Records. Dorati sử dụng carillon thực được yêu cầu trong bản nhạc và chúng được rung lên gần như zvon được biết đến sau này. Nghệ thuật “Zvon ringing” gần như mất đi sau Cách mạng Nga và tín ngưỡng vô thần sau đó. Bản thu của Dorati cũng dùng thần công Pháp thật trong giai đoạn 1812 của Trường đại học quân đội Mĩ West Point.

Lịch sử ghi âm

Bản thu Cleveland năm 1927 bao gồm hàng tá “phát bắn” trống bass hú họa vào những khoảnh khắc cuối tác phẩm. Một bản thu của dàn nhạc Nhà hát Opera Hoàng thực hiện khoảng cùng thời gian đó không hề có tiếng súng. Nhiều bản thu phong phú ngày nay có đặc trưng khai pháo hiện đại và độc đáo tuân thủ chính xác tổng phổ, những khúc tùy hứng khác và tiếng chuông khủng khiếp từ những chùm chuông ống làm giả tiếng zvon. Bản thu bước ngoặt của Antal Dorati năm 1955, hãng đĩa Minneapolis Mercury (phát hành năm 1957, thu ở West Point, New York USA và dùng harkness carillon của đại học Yale (lúc đó gần như là chuông chùm) ở Harford, Connecticutt, USA sử dụng một khẩu thần công Pháp bắn lồng vào 16 lần như được sáng tác, và quả là một sự tiến bộ trong tính xác thực so với bản thu âm đầu tiên của tác phẩm, một mặt đĩa trình diễn bản Overture và mặt kia tường thuật kỳ công để hoàn thành tác phẩm. Bản thu của Dorati được đánh giá là trình diễn hay nhất đến ngày nay (2007) và xứng đáng để thêm vào thư viện của bạn. Những bản thu sau này được thực hiện bằng tất cả các cách trên một cách phong phú. Ban kèn đồng Black Dyke Mills cũng thu âm bản chuyển soạn tác phẩm cho ban kèn đồng. Bản thu này bao gồm những phát bắn đại bác như được tác giả viết. Năm 1990, trong lễ hội kỉ niệm 150 năm ngày sinh của Tchaikovsky trên toàn thế giới, bản Overture được thu âm trong thành phố thời thanh niên của tác giả với St. Petersburg Philharmonic dùng 16 khẩu đại bác nạp đạn đằng nòng như được viết trong tổng phổ năm 1880. Tác phẩm được trình diễn trong tầm nghe của mộ tác giả.




preswan (dịch)


Nguồn : http://en.wikipedia.org
(*) Đọc thêm: thể loại Overture (http://nhaccodien.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=566)


DOWNLOAD:
Không biết ai có bản thu âm có tiếng đại bác thật không nhỉ :D;;). Nghe bản thu âm này tiếng đại bác như thật ấy!!!
Trans-Siberian Orchestra - 1812 Overture (Tchaikovsky).mp3 (http://mmacfiles.net/WebsiteDocs/music/Classical/Trans-Siberian%20Orchestra%20-%201812%20Overture%20%28Tchaikovsky%29.mp3)

Và đây của Frazier Horn Sextet, nghe chán lắm :(, mất đi cả tinh thần & không khí của 1812:
1812 overture.mp3 (http://www.all-art.org/music/music_files/tchaikovsky/1812overture.mp3)

Và đây:

Overture 1812 - Budapest Philharmonic Orchestra, Conducted by Zaltan
Kovats (http://boyunglee.com/music/Tchaikovsky/favoritetchaikovsky/Tchaikovsky1812OvertureOp.49BudapestPhilOrchZaltan Kovats.mp3)
Tạm thời có những link trực tiếp ấy đã, sẽ post thêm một số bản âm khác cho mọi người đối chiếu và thưởng thức! ;)

Wal
18-11-2008, 22:06
Ngày 6/11 vừa rồi là kỷ niệm 115 năm ngày mất của Peter Ilyich Tchaikovsky ( (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81)1840 - 1893) (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81), mãi lo đến mấy chuyện khác mà quên khuấy đi mất topic này, để "treo" mãi đến đêm Thứ Ba :(. Xin cáo lỗi cùng các bạn vì sự chậm trễ này :">!

Nếu các bạn chưa biết rõ về Tchaikovsky thì có thể vào đây (http://nhaccodien.info/modules.php?name=Author&op=Detail&cid=181)để tìm hiểu đôi chút về ông.

Được biết nhiều qua các tác phẩm nổi tiếng như ballet, giao hưởng, piano concerto, violin concerto, hay suite The season với khúc hát chèo thuyền (tháng 6) mà nhiều người biết đến... Nay xin giới thiệu thêm cho các bạn một tác phẩm viết cho dàn nhạc nổi tiếng không kém: Overture 1812.



TÁC PHẨM

1812 Overture, in E flat major, Op 49

(Overture 1812, giọng Mi giáng trưởng, tác phẩm số 49)

Tác giả: Pyotr Ilyich Tchaikovsky (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=81)
Thời gian sáng tác: năm 1880
Công diễn lần đầu: ngày 20/8/1882 tại Thánh đường Chúa Cứu thế, Moscow
Thời lượng: khoảng 14 phút
Tổng phổ: tác phẩm được viết cho một đội kèn đồng quân đội cùng một nhóm nhạc cụ giao hưởng gồm piccolo, 2 flute, 2 oboe, cor anglais, 2 clarinet giọng Si thứ, 2 bassoon, 4 horn giọng Fa, 2 cornet giọng Si thứ, 2 trumpet giọng Mi thứ, 3 trombone, tuba, timpani, triangle, tambourine, snare drum, một số cymbal, bass drum, carillon (đôi khi dùng các tubular bell), cannon (đôi khi dùng tiếng ghi âm đại bác thật hoặc thay bằng một bass drum hay tam-tam trong khán phòng), dàn dây. Trong một số buổi biểu diễn trong khán phòng, phần bè đội kèn đồng phải thay thế bằng một organ.



http://www.classicalvietnam.info/images/Image/TTD_IMAGES/alanbrooke_concert_1812_overture.jpg

Overture 1812, tên đầy đủ là “Overture Ngày hội năm 1812”, giọng Mi giáng trưởng, tác phẩm số 49 (tên tiếng Pháp là “Ouverture solennelle 1812”), là một overture (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=566) cho dàn nhạc của Pyotr Iiyich Tchaikowsky để tưởng niệm cuộc xâm lược thất bại của quân Pháp vào nước Nga và cuộc rút lui đã huỷ diệt đại quân Napoleon tiếp sau đó, một sự kiện đánh dấu năm 1812 như một bước ngoặt trong các cuộc chiến tranh của Napoleon. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất bởi một loạt những tiếng đại bác, đôi khi được trình diễn, đặc biệt là tại các lễ hội ngoài trời, dùng một hay nhiều khẩu đại bác thật. Khi biểu diễn trong nhà hát, các dàn nhạc có thể dùng máy tính hay dàn trống khổng lồ để tạo tiếng súng. Mặc dù tác phẩm thực ra không có sự liên hệ lịch sử nào với chiến tranh Anh - Mỹ năm 1812, nhưng tại Mĩ, tác phẩm vẫn thường xuyên được biểu diễn cùng những bản nhạc mang tinh thần yêu nước khác; Đây là bản nhạc chính yếu trong ngày lễ 4 tháng 7 (quốc khánh Hoa Kỳ). Tác phẩm này là một trong không đến mười bản nhạc có dùng tiếng súng và đại bác trong phần bè và cũng là một trong số rất ít tác phẩm cần đến sự góp mặt của carrilon (chuông chùm).

Mặc dù còn khá xa với tác phẩm quan trọng và ấn tượng nhất của Tchaikovsky, Overture 1812 rõ ràng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Bản thân Tchaikovsky không cảm thấy nhiều nhiệt huyết lắm với việc sáng tác overture này và nếu không phải vì miễn cưỡng được giao phó một overture tưởng nhớ trong lễ kỉ niệm thứ 70 chiến thắng của Nga trước quân Napoleon.

Bối cảnh lịch sử

Ngày 7/9/1812, từ khoảng cách 120 km (khoảng 75 dặm) về phía tây Moscow ở Borodino, quân của Napoleon giáp mặt với quân của tướng Kutuzov đang ở thế kháng cự có phối hợp duy nhất của Nga chống lại đội quân Pháp dường như bất khả chiến bại. Trận chiến ở Borodino gây ra số thương vong lớn ước tính khoảng 100000 người mà vẫn bất phân thắng bại. Tuy nhiên, nó đã thực sự đập tan được cuộc xâm lược của Pháp.

Với nguồn quân nhu trống rỗng và đường tiếp tế bị trải dài quá mức, lực lượng đã suy yếu của Napoleon di chuyển vào Moscow, bị bao vây mà không thể kháng cự. Mong đợi Sa hoàng Alexander đầu hàng có điều kiện, thay vào đó quân Pháp lại thấy mình đang ở trong một thành phố cằn cỗi và hoàng tàn đã bị quân Nga san phẳng hoàn toàn trước khi rút lui.

Thiếu nơi đồn trú mùa đông, Napoleon thấy cần phải rút quân. Bắt đầu vào ngày 19/10 và kéo dài đến tháng 12, quân đội Pháp phải đối mặt với một số trở ngại rất lớn trên đường dài rút quân khỏi Nga : nạn đói, thời tiết giá lạnh và lực lượng quân đội của Nga đã chặn hết mọi đường rút lui. Bị Napoleon bỏ rơi vào tháng 12, đội quân lớn nhất từng thấy đã suy yếu chỉ còn một phần mười so với lực lượng ban đầu lúc tiến đến Ba Lan.

Nhiệm vụ sáng tác overture

Năm 1880, Thánh đường Chúa Cứu thế, được sự uỷ nhiệm của Sa hoàng Alexander II về lễ tưởng niệm chiến thắng đánh bại quân xâm lược Pháp, đã gần được hoàn thành ở Moscow. Lễ kỉ niệm đăng quang lần thứ 25 của Sa hoàng cũng sắp đến vào năm 1881. Triển lãm nghệ thuật và công nghiệp Moscow cũng dự tính diễn ra vào năm 1882.

Mùa xuân năm 1880, người bạn đồng thời là cố vấn dày kinh nghiệm của Tchaikovsky, Nikolai Rubinstein, đã gợi ý về việc sáng tác một tác phẩm lớn mang tính tưởng niệm để sử dụng trong những hoạt động lễ hội có liên quan. Công việc được uỷ thác cho tổ chức mà ngày nay chúng ta gọi là Hội Chữ thập Đỏ. Tchaikovsky bắt đầu làm việc cho dự án vào ngày 12/10/1880 và hoàn thành nó sáu tuần sau đó. Người ta lên kế hoạch công diễn tác phẩm tại quãng trường trước thánh đường, với một nhóm kèn đồng hỗ trợ cho dàn nhạc, những tiếng chuông thánh đường cùng những người khác dưới phố Moscow chơi “Zvons on cue” (một thứ chuông cổ của Nga), tiếng đại bác thật đệm thêm vào, được bắn từ một bàn điều khiển công tắc để đạt được sự chính xác như tổng phổ yêu cầu mà mỗi phát bắn được viết với ý đồ đặc biệt.

http://www.classicalvietnam.info/images/Image/TTD_IMAGES/Christ_the_saviour_demonstration_for_overture_1812 .jpg

Giữa lúc ấy, Tchaikovsky đã than phiền với mạnh thường quân Nadezhda von Meck của mình rằng ông không phải là một “người pha chế các bản nhạc lễ hội” và rằng bản Overture có thể sẽ rất “khoa trương và ầm ĩ nhưng thiếu giá trị nghệ thuật, bởi lẽ tôi viết nó mà không có nhiệt tình lẫn tình yêu”. Việc này đã bổ sung ông vào đội ngũ những nghệ sĩ đôi lúc lại phê bình chính tác phẩm của mình dù nó là một trong số những bản nhạc được trình diễn và ghi âm nhiều nhất trong danh mục tác phẩm của ông.

Cấu trúc âm nhạc

Trong tổng phổ Overture, Tchaikovsky đã cho xuất hiện mười sáu phát đại bác. Bắt đầu bằng bản thánh ca buồn “God Preserve Thy People” (Chúa chở che những đứa con của người) vốn là bài quốc ca cũ của nước Nga, tác phẩm gợi lên bức tranh phong cảnh đồng quê và những người lính, khắc hoạ cảnh khốn cùng ngày một nặng nề của dân tộc Nga dưới bàn chân của quân xâm lược Pháp. Tại thời điểm quyết định của cuộc chiến - trận Borodino - xuất hiện 5 tiếng đại bác của Nga đương đầu với một chuỗi những khúc La Marseillaise (http://blog.360.yahoo.com/blog-XNUGwbU4daU7x4D4bc.qTvhfjlw-?cq=1&p=125#comments) lặp đi lặp lại một cách khoa trương. Không khí trầm lắng xuống nhờ đoạn giãn của bộ dây tái hiện sự tiêu hao lực lượng tiếp sau đó của quân đội Pháp, tiếp theo bằng hồi chuông chiến thắng và hân hoan lặp lại bài thánh ca “Chúa chở che những đứa con của người” khi Moscow bốc cháy để tránh trở thành nơi đồn trú mùa đông của quân Pháp. Một cảnh rượt đuổi âm nhạc xuất hiện, nổi lên bài thánh ca “Chúa cứu Sa hoàng”, tiếp đó vang lên như sấm 11 tiếng đại bác. Để chuẩn bị cho sự an toàn và chính xác về vị trí của những phát bắn - bây giờ cũng như vào năm 1880 - cần sử dụng 16 khẩu pháo nạp đằng nòng bởi nếu nạp lại đạn cho một khẩu để có được 16 phát bắn dù chỉ là những động tác tương tự kéo dài hai phút cũng sẽ không đạt được sự an toàn cũng như chính xác cần có. Riêng thời gian chậm trễ cũng phá vỡ việc thực hiện ý đồ của những phát súng.

Liệu Tchaikovsky có từng nghe tác phẩm như ông sáng tác ?

Những nhà nghiên cứu âm nhạc được hỏi ý kiến vào một phần ba cuối của thế kỉ đã không chỉ ra rằng tác giả đã từng được nghe bản Overture được biểu diễn một cách đích thực đúng như kế hoạch năm 1880. Người ta nói Tchaikovsky đã xin phép để biểu diễn tác phẩm y như dự tính ở Berlin nhưng bị từ chối. Buổi biểu diễn ông chỉ đạo ở Mĩ và tour diễn châu Âu hình như được thực hiện với những phát bắn giả tạo hoặc không chính xác, nếu với những phát bắn thật hoàn toàn, một tục lệ phổ biến sẽ còn lại đến ngày nay.

Antal Dorati và Erich Kunzel là những nhạc trưởng đầu tiên đã khuyến khích tính xác thực của những phát bắn được viết trong bản nhạc trong những buổi hoà nhạc sống, bắt đầu ở New York và Connecticut với một phần thu âm của Dorati và Kunzel ở Cincinnati vào năm 1967 cùng sự hỗ trọ của J. Paul Barnett, South Bend, Indiana. Trong số này thì bản của Dorati hay hơn và là một sự trình diễn trung thực hơn được ghi âm cho hậu thế trong đĩa Mercury Records. Dorati sử dụng carillon thực được yêu cầu trong bản nhạc và chúng được rung lên gần như zvon được biết đến sau này. Nghệ thuật “Zvon ringing” gần như mất đi sau Cách mạng Nga và tín ngưỡng vô thần sau đó. Bản thu của Dorati cũng dùng thần công Pháp thật trong giai đoạn 1812 của Trường đại học quân đội Mĩ West Point.

Lịch sử ghi âm

Bản thu Cleveland năm 1927 bao gồm hàng tá “phát bắn” trống bass hú họa vào những khoảnh khắc cuối tác phẩm. Một bản thu của dàn nhạc Nhà hát Opera Hoàng thực hiện khoảng cùng thời gian đó không hề có tiếng súng. Nhiều bản thu phong phú ngày nay có đặc trưng khai pháo hiện đại và độc đáo tuân thủ chính xác tổng phổ, những khúc tùy hứng khác và tiếng chuông khủng khiếp từ những chùm chuông ống làm giả tiếng zvon. Bản thu bước ngoặt của Antal Dorati năm 1955, hãng đĩa Minneapolis Mercury (phát hành năm 1957, thu ở West Point, New York USA và dùng harkness carillon của đại học Yale (lúc đó gần như là chuông chùm) ở Harford, Connecticutt, USA sử dụng một khẩu thần công Pháp bắn lồng vào 16 lần như được sáng tác, và quả là một sự tiến bộ trong tính xác thực so với bản thu âm đầu tiên của tác phẩm, một mặt đĩa trình diễn bản Overture và mặt kia tường thuật kỳ công để hoàn thành tác phẩm. Bản thu của Dorati được đánh giá là trình diễn hay nhất đến ngày nay (2007) và xứng đáng để thêm vào thư viện của bạn. Những bản thu sau này được thực hiện bằng tất cả các cách trên một cách phong phú. Ban kèn đồng Black Dyke Mills cũng thu âm bản chuyển soạn tác phẩm cho ban kèn đồng. Bản thu này bao gồm những phát bắn đại bác như được tác giả viết. Năm 1990, trong lễ hội kỉ niệm 150 năm ngày sinh của Tchaikovsky trên toàn thế giới, bản Overture được thu âm trong thành phố thời thanh niên của tác giả với St. Petersburg Philharmonic dùng 16 khẩu đại bác nạp đạn đằng nòng như được viết trong tổng phổ năm 1880. Tác phẩm được trình diễn trong tầm nghe của mộ tác giả.




preswan (dịch)


Nguồn : http://en.wikipedia.org
(*) Đọc thêm: thể loại Overture (http://nhaccodien.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=566)


----------------


DOWNLOAD:

Không biết ai có bản thu âm có tiếng đại bác thật không nhỉ :D;;). Nghe bản thu âm này tiếng đại bác như thật ấy!!!
Trans-Siberian Orchestra - 1812 Overture (Tchaikovsky).mp3 (http://mmacfiles.net/WebsiteDocs/music/Classical/Trans-Siberian%20Orchestra%20-%201812%20Overture%20%28Tchaikovsky%29.mp3)

Và đây của Frazier Horn Sextet, nghe chán lắm :(, mất đi cả tinh thần & không khí của 1812:
1812 overture.mp3 (http://www.all-art.org/music/music_files/tchaikovsky/1812overture.mp3)

Và đây:
Overture 1812 - Budapest Philharmonic Orchestra, Conducted by Zaltan
Kovats (http://boyunglee.com/music/Tchaikovsky/favoritetchaikovsky/Tchaikovsky1812OvertureOp.49BudapestPhilOrchZaltan Kovats.mp3)
Tạm thời có những link trực tiếp ấy đã, sẽ post thêm một số bản âm khác cho mọi người đối chiếu và thưởng thức! ;)

http://www.hymn.ru/god-save-in-tchaikovsky/index-en.html

martenzi
18-11-2008, 23:02
Trong tổng phổ nghe nói ghi là đệm trống lớn hết cỡ, cho nên liên tưởng đến tiếng đại bác, và người ta làm tiếng đại bác thật !
Hình như link 1 là tiếng đại bác thật đấy, vì tiếng trong bản thu này rền như sấm ! Chứ nếu đệm bằng drum bass thì nghe "gọn" hơn nhiều !
Hình như trên thế giới cũng hơi lạm dụng đại bác cho bản này thì phải :D chắc ít dịp dùng.

xem mấy bác Nhật Bản dàn dựng nè, nhộn thật !
http://au.youtube.com/watch?v=w-4SRvGUtn8

Còn Gala tại Leningrad kỉ niệm 150 ngày sinh tác giả, quay DVD đàng hoàng nhé !

Part 1:
http://au.youtube.com/watch?v=VTfN5I3dFPg

Part 2: (bắn đại bác ì xèo)
http://au.youtube.com/watch?v=jCem9BC1k9w

http://au.youtube.com/watch?v=w-4SRvGUtn8

Wal
24-11-2008, 16:24
Dạo này trên diễn đàn bàn luận về Opera hình "chìm" hẳn :(, thích opera nhưng "rìu cùn" quá nên không dám "múa" :">, nhờ mod YIH và Phucphan "bơm" cho chị Bartoli này nhé ;;)






http://www.nhaccodien.info/images/Image/2008/bartoli-1.jpg (http://www.mediafire.com/?ymjkzknhnjd)


(http://www.mediafire.com/?ymjkzknhnjd)
Aria Costanza: Agitata da due venti (http://www.mediafire.com/?ymjkzknhnjd)

Trong vở Griselda,RV 718 (1735)
Âm nhạc: Antonio Vivaldi (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=Author&op=Detail&catid=83)
Libretto: Carlo Goldoni/ Apostolo Zeno
Thể hiện: Cecilia Bartoli (http://www.nhaccodien.info/forum/../modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=227) (mezzo-soprano),
nhóm hoà tấu Sonatori de la Gioiosa Marca


Agitata da due venti,
freme l'onda in mar turbato
e 'l nocchiero spaventato
già s'aspetta a naufragar.
-
Dal dovere da l'amore
combattuto questo core
non resiste e par che ceda
e incominci a desperar.

Dịch nghĩa:
Ngiêng ngả giữa hai trận cuồng phong
Sóng trào dâng, biển điên gầm thét
Anh lái run sợ trong vô vọng
Chờ thuyền đắm thôi nữa là xong.
-
Tình yêu-bổn phận, chọn điều chi?
Trái tim ta muốn như tan vỡ
Dứt tình , chống mệnh, đều không thể
Chỉ còn nỗi tuyệt vọng ê hề.


-------------


Giới thiệu thêm 1 CD cho các fan của chị này:


http://pic.avaxhome.ws/media/images/B000A6T1HC.jpg


Song title

01. All'arme Si Accesi Guerrieri
02. Mentre Io Godo In Dolce Oblio
03. Un Pensiero Nemico Di Pace
04. Vanne Pentita A Piangere
05. Sparga Il Senso Lascivo Veleno
06. Caldo Sangue
07. Come Nembo Che Fugge Col Vento
08. Ecco Negl'orti Tuoi...Che Dolce Simpatia
09. Qui Resta...L'alta Roma
10. Lascia La Spina Cogli La
11. Ahi! Qual Cordoglio...Doppio Affetto
12. Si Piangete Pupille Dolente
13. Ahi Quanto Cieca...Come Foco Alla Sua Sfera
14. Disserratevi Oh Porte D'averno
15. Notte Funesta...Ferma L'ali

DOWNLOAD:

http://rapidshare.com/files/132630182/Cecilia05.part1.rar
http://rapidshare.com/files/132638217/Cecilia05.part2.rar

Wal
01-12-2008, 08:50
Tuần này xin giới thiệu cùng các bạn 1 tác phẩm nổi tiếng của Rachmaninoff: Vocalise Op.34 No.14, đây là tác phẩm được chuyển soạn lại khá nhiều. Bài này thành viên Rachmaninoff ấp ủ để viết nhưng mãi không tìm đủ tài liệu tiếng Anh để viết thành một bài hoàn chỉnh. Chị Sáo đã thực hiện điều mong ước này của Rach :).
-------------------------

TÁC PHẨM

Vocalise, Op 34 No.14

(Tiểu phẩm thanh nhạc cho giọng soprano và dương cầm)

Tác giả: Sergei Rachmaninov (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=134)
Thể loại: Tiểu phẩm thanh nhạc dành cho giọng nữ cao (soprano) và dương cầm
Giai đoạn hoàn thành: tháng 4 năm 1915
Đề tặng: Antonhina Nhezdanova
Trình diễn lần đầu: ngày 25/01/1916 do Antonhina Nhezdanova hát cùng dàn nhạc của S. A. Kuxevitsky.

http://www.musicnotes.com/images/productimages/mtd/MN0040571.gif
Tác phẩm Vocalise được chuyển soạn cho Piano của Schultz



Sergei Vasilevich Rachmaninov (1873-1943) là nghệ sĩ dương cầm và chỉ huy dàn nhạc người Nga, nhà soạn nhạc lỗi lạc của thế kỷ XX. Một trong số những sáng tác của ông được biết tới nhiều nhất có tiểu phẩm “Vocalise”.

Vocalise là tên gọi một thể loại thanh nhạc – đây là ca khúc không lời, để hát vocalise các ca sĩ sử dụng duy nhất nguyên âm. Đó thường là những bài tập hay khúc ca luyện giọng nhằm phát triển kỹ thuật thanh nhạc – các phương pháp xướng âm khác nhau như legato, staccato, non legato, luyện sự linh hoạt chất giọng và hát những bản cantilen có giai điệu du dương. Không chỉ là tài liệu phát triển kỹ thuật thanh nhạc, về cơ bản vocalise đóng vai trò làm bộc lộ những đặc trưng âm sắc giọng hát người ca sĩ, phát triển khả năng sử dụng tính năng động của chất giọng, nhằm mục đích giúp người ca sĩ trình bày những ca khúc có lời một cách nghệ thuật và truyền cảm. Nhiều nhà soạn nhạc và giáo viên thanh nhạc đã viết các bản vocalise như M. Glinka (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=58), giáo viên thanh nhạc người Ý G. Concon và G. Panovki. Một số bản vocalise đã xuất hiện dưới dạng các tác phẩm biểu diễn, thí dụ “Vocalise-Étude en forme de Habanera” của M. Ravel (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=73), “Concerto for Voice and Orchestra” của R. Glière, “Sonata-vocalise” và “Suite-Vocalise” của N. Metner. Và ở đây “Vocalise” của Sergei Rachmaninov cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.

Có một nghịch lý là người ta thường không được nghe nguyên bản “Vocalise” của Rachmaninov như một tiểu phẩm thanh nhạc. Thay vào đó tác phẩm đã có rất nhiều bản soạn lại dành cho những tập thể nhạc công khác nhau (từ giao hưởng đến thính phòng, đồng ca), đồng thời “Vocalise” đã được viết lại cho hầu hết các loại nhạc cụ. Có được sự phong phú trong thể loại nhạc cụ chơi có lẽ chính bởi “Vocalise” của Rachmaninov đã tặng cho người chơi nhạc những khả năng độc đáo thể hiện vẻ đẹp âm sắc của mỗi nhạc cụ cùng tài nghệ biểu diễn cantilen của người ca sĩ.


http://ak.buy.com/db_assets/large_images/631/60398631.jpg
Cover một Đĩa tuyển chọn các tác phẩm được chuyển soạn từ tác phẩm Vocalise của Rachmaninoff



Lịch sử xuất hiện tác phẩm này cũng khá thú vị. “Vocalise” nằm trong tập Opus 34 gồm 14 tình ca được Rachmaninov viết vào tháng 6 năm 1912. Tháng 9 năm đó nhà xuất bản của A. Gutheil đã mua lại toàn tập “Mười bốn tiểu phẩm thanh nhạc, Opus 34” và cho in vào năm 1913. Nhưng nếu tính từ thời điểm những phác họa “Vocalise” đầu tiên hồi mùa xuân năm 1912 thì nhà soạn nhạc đã phải mất 3 năm để hoàn thành tiểu phẩm này. Thậm chí tác giả còn đề thời gian hoàn thành bản thảo cuối cùng (tức bản hiệu đính thứ 2 của “Vocalise”) muộn hơn nữa – tháng 9/1915. Đã có nhiều bản sửa đổi “Vocalise” do chính Sergei Rachmaninov thực hiện viết ở những giọng khác nhau như cis-moll, es-moll, e-moll (đô thăng thứ, mi giáng thứ và mi thứ).

Mùa xuân năm 1915, Antonhina Nhezdanova một nữ ca sĩ opera (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=371) Nga nổi tiếng đã được Rachmaninov đưa xem bản thảo đầu tiên của “Vocalise”. Cũng lúc đó sau khi nghe những lời nhận xét góp ý của bà, nhà soạn nhạc đã dùng bút chì sửa một số chỗ trong bè thanh nhạc, đồng thời điểm thêm vài sắc thái và nét bổ sung cho bản tổng phổ. Sergei Rachmanhinov còn mất thêm một thời gian để chuẩn bị cho phương án cuối cùng của bản nhạc, đã có những khác biệt rõ rệt so với ban đầu và trong đó là việc đổi giọng từ es-moll thành cis-moll (mi giáng thứ thành giọng đô thăng thứ). “Vocalise” được tái bản dưới dấu in của nhà xuất bản A. Gutheil (1915) đề tặng nữ ca sĩ A. V. Nhezdanova. Ngày 25/01/1916 trước sự có mặt của tác giả, Antonhina Nhezdanova đã trình bày bản “Vocalise” cùng dàn nhạc của S. A. Kuxevitsky. Tỏ lòng biết ơn nữ ca sĩ, Rachmaninov đã tặng bà bản thảo viết tay phương án đầu tiên. Kể từ đó gần 8 chục năm bản thảo của chính tác giả được lưu giữ trong thư viện của Nhezdanova (sau khi bà mất năm 1950 – nơi bà ở đã trở thành Nhà bảo tàng lưu niệm). Năm 1995 bản viết tay này được nhượng lại cho Bảo tàng trung tâm Văn hóa Âm nhạc Quốc gia mang tên M. I. Glinka.

Những hồi tưởng của chính nữ ca sĩ với những dòng kể về tác phẩm “Vocalise”:

“Vào giai đoạn những năm cuối khi Sergei Vasilevich còn sống ở Matxcova tôi đã có hạnh phúc nhận được sự chú ý đặc biệt từ phía ông: Rachmanhinov đã viết cho tôi và đề tặng tôi bản “Vocalise” tuyệt vời. Đó là tác phẩm hay và tài nghệ, được viết với phong cách và sự hiểu biết nghệ thuật cao gợi nên cảm xúc mạnh mẽ. Khi tôi lấy làm tiếc là ca khúc không có lời đệm Rachmaninov đã trả lời thế này:

- Cần lời để làm gì, với chất giọng và khả năng biểu diễn của mình, cô có thể thổ lộ tốt hơn và nhiều hơn những lời nói của người khác.

Nhà soạn nhạc đã nói một cách nghiêm túc và đầy thuyết phục và tôi thực sự cảm động, chỉ còn biết hết lòng bảy tỏ sự cảm ơn sâu sắc vì những lời khen ngợi và thái độ đặc biệt mà ông đã dành cho tôi… Bản thảo viết tay “Vocalise” mà Sergei Rachmaninov đã trao tặng tôi trước lần trình diễn đầu tiên vẫn được tôi cất giữ như một hồi ức quí báu về nhà soạn nhạc thiên tài”.

Một câu chuyện cảm động khác kể về tình cảm của chính tác giả đối với bản “Vocalise” của mình do nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại thế kỷ XX Nathan Milshtein (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=121) kể lại:

“Một lần không hẹn trước, tôi cùng Pyachigorsky đến nhà Rachmanhinov – như mọi khi vào khoảng tầm 4 giờ chiều. Pyachigorsky là nghệ sĩ cello (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=554), còn tôi chơi vĩ cầm (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=552). Một gia nhân mở cửa cho chúng tôi, khẽ nói rằng ông chủ đang ngủ. Tôi cùng Pyachigorsky rón rén bước vào phòng khách. Chúng tôi thấy trên giá nhạc là bản “Vocalise” của Rachmanhinov mà chúng tôi đều biết rất rõ. Không hề thỏa thuận cả hai chúng tôi đều rút nhạc cụ ra khỏi hộp và bắt đầu cùng đứng khẽ chơi “Vocalise” hòa nhịp cách nhau đúng một quãng tám (octava). Bỗng Rachmanhinov bước vào phòng. Vẫn chưa tỉnh ngủ trông ông giống như một người bị bắt giam với mái tóc cua cắt ngắn trong bộ đồ ngủ sọc, cổ áo chưa kịp bẻ. Im lặng ông bưới tới bên chiếc dương cầm (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=511) và cũng đứng như chúng tôi, khẽ đệm theo điệu nhạc – nhưng đệm một cách tuyệt vời! Khi chúng tôi cùng kết thúc bản “Vocalise”, Rachmanhinov cũng lại không nói lời nào bước ra khỏi phòng với những giọt lệ trong mắt…”

Có một bản “Vocalise” cũng của tác giả được Dàn nhạc giao hưởng Philadelphia (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=141) chơi ngày 20/04/1929 dưới sự chỉ huy của chính Rachmanhinov. Sớm hơn nữa (năm 1918) Sergei Rachmanhinov đã viết trong một bức thư gửi M. Altshuler: “Cách đây mấy hôm ở đây đã chơi “Vocalise” giống như tôi đã viết cho ông, có nghĩa là 10 ca sĩ đứng hát trước dàn nhạc, ngoài ra có thêm 6 cặp chơi violin số môt và số hai. Như thế cả thảy là 22 nhạc công vĩ cầm. Hay vô cùng. Sẽ còn hay hơn nữa nếu số ca sĩ là 50 người hay 150”.




Sáo (dịch)
Nguồn: http://www.liveinternet.ru
http://files.school-collection.edu.ru

-------------
Tham khảo thêm ở trang wikipedia để biết thêm thông tin về các tác phẩm được chuyển soạn lại:
http://en.wikipedia.org/wiki/Vocalise_(Rachmaninoff)

-------------
Phần âm thanh sẽ được post bài sau vì nó khá đồ sộ đủ để thành 1 bài viết, các bạn kiên nhẫn chờ trong ngày hôm nay nhé! Sẽ rất thú vị đấy!

Wal
01-12-2008, 17:06
Đây là những bản thu âm Vocalise của Rachmaninoff :)!

Tác phẩm dành cho giọng hát:
Rachmaninov - Vocalise - Inessa Galante (http://www.mediafire.com/download.php?okjtwuzqjtk)
Rachmaninov - Vocalise - Anna Moffo.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?gjtivzxgimm)
Rachmaninov, Vocalise Kathleen Battle.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?jzmz0kohmdl)
Rachmaninov - Vocalise Natalie Dessay.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?dznnmnd3n4o)

Chuyển soạn cho dàn nhạc:

Có một bản “Vocalise” cũng của tác giả được Dàn nhạc giao hưởng Philadelphia (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=141) chơi ngày 20/04/1929 dưới sự chỉ huy của chính Rachmanhinov. Sớm hơn nữa (năm 1918) Sergei Rachmanhinov đã viết trong một bức thư gửi M. Altshuler: “Cách đây mấy hôm ở đây đã chơi “Vocalise” giống như tôi đã viết cho ông, có nghĩa là 10 ca sĩ đứng hát trước dàn nhạc, ngoài ra có thêm 6 cặp chơi violin số môt và số hai. Như thế cả thảy là 22 nhạc công vĩ cầm. Hay vô cùng. Sẽ còn hay hơn nữa nếu số ca sĩ là 50 người hay 150”.
Nó đây:
Rachmaninov-arr_Vocalise-orchestra (Chỉ huy năm 1929) (http://www.mediafire.com/download.php?w5mzy3mnztz)

Một bản của Ormandy chỉ huy:
Rachmaninov - Vocalise (orquestal) Ormandy.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?jyymwinwomd)

Và một bản không biết dàn nhạc nào chơi :(:
Rachmaninoff: Vocalise (http://www.mediafire.com/download.php?5jy2hdm0rzc)

Cho nhạc thính phòng:
Rachmaninov - Vocalise - Bolshoi Theatre Violin Ensemble (http://www.mediafire.com/download.php?lamogn2gnml)

Bản chuyển soạn cho Cello:
Rachmaninov, S. - Vocalise. Cello & Piano. Op.34.14. (Rostropovich & Dedyukhin. 1959 (http://www.mediafire.com/download.php?jwjvnmjnz0j))
07.-Rachmaninov_ Vocalise, Op. 34_Rostropovich.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?5g2kjyd2fwl) (Bản thu sau)
Rachmaninov-- Vocalise Op.34 No.14 -- Lentamente. Molto Cantabile (Mischa Maisky & Pavel Gillov) (http://www.mediafire.com/download.php?jqy0nig2tzg)
05.- Rachmaninov - Vocalise -Yo-YO Ma Mcferrin.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?ncndqin5xiz)
* Bản thu này khá thú vị, mình thích sự phối hợp giữa 2 người này khi chơi Vocalise, ban đầu nghe thấy nó hơi "lạ lẫm" nhưng nghe nhiều thì thì bị thu hút hẳn!

Bản chuyển soạn cho Violin:
Rachmaninov - Vocalise - Leonid Kogan & Svetlanov Bolshoi (http://www.mediafire.com/download.php?hnxhimgdyaj)
itzhak perlman - Rachmaninov Vocalis.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?mhzmzimezzu)

Bản chuyển soạn cho Tuba:
Rachmaninov - Vocalise - Tuba - Eduardo Nogueroles (http://www.mediafire.com/download.php?tmdd5yyj2fz)

Chuyển soạn cho piano:
Rachmaninov - Vocalise (version piano) (http://www.mediafire.com/download.php?nuazzmqinzc) (Không biết nghệ sĩ chơi)
04.-Rachmaninov - Vocalise (versión piano Ashkenazy (http://www.mediafire.com/download.php?wvmlwt4m3mw)

Đây là video do E.Giles chơi, bạn nên xem clip này:
Emil Gilels plays Rachmaninov's Vocalise Op.34.mp4 (http://www.mediafire.com/download.php?z1ym3mnyuqn)

Bản chuyển soạn cho Theremin:
Rachmaninov -Theremin - Clara Rockmore - 01 - Vocalise.mp3 (http://www.mediafire.com/download.php?ozjjimnz3hz)

Thoạt đầu cứ ngỡ đó là một giọng ca nếu không biết nghệ sĩ chơi, hoặc nếu chưa từng thưởng thức Clara chơi sẽ rất dễ nhầm tưởng... bởi nhạc cụ ấy có tên là Theremin - một nhạc cụ điện tử phát ra âm thanh pha trộn gần giống như tiếng của cello, violin và cả giọng hát của con người.

Bạn có thể tham khảo thêm về chị ấy ở đây:
http://en.wikipedia.org/wiki/Clara_Rockmore
Và tham khảo thêm nhạc cụ này ở đây:
http://en.wikipedia.org/wiki/Theremin

Đây là bản thu của chị ấy khi chơi The Swan của Saint-Sanens (tìm clip chơi Vocalise không thấy :()

http://www.youtube.com/watch?v=pSzTPGlNa5U



Đây là một vài bản trên Youtube:
Của dàn Stuttgart Radio Symphony Orchestra
DOWNLOAD VIDEO (http://www.mediafire.com/?sharekey=a171a3bb9b04af10ab1eab3e9fa335ca87e2c3d9 476ec826)

http://www.youtube.com/watch?v=Gg0GkaGs-tM


Video của chị Dame Kiri Te Kanawa

http://www.youtube.com/watch?v=fW630zFA93Y&NR=1

yes_Iam_here
01-12-2008, 20:01
"...Trong số đó Nezhdanova (http://classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=213)đặc biệt chơi thân với nhà soạn nhạc Sergei Rachmaninov (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=134), khi ông còn đang cộng tác với Bolshoi dưới cương vị nhạc trưởng. Thực ra họ đã gặp nhau từ 1899, khi hai người còn theo học tại nhạc viện Moscow. Quí mến tài năng và nhân cách của nhau, Nezhdanova được Rachmaninov viết tặng rất nhiều romance (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=500) chúng đều được Nezhdanova biểu diễn với một thái độ trân trọng tuyệt đối. Nezhdanova kể lại: “Rachmaninov là một tài năng thiên phú, một người đàn ông lịch thiệp và có học vấn cao, thật là một vinh hạnh lớn lao khi được cộng tác với ông. Tôi thường xuyên hát những ca khúc trữ tình của ông trong các buổi hòa nhạc, dường như là tôi đã bị hút hồn bởi vẻ đẹp tươi mát của chúng. Là một nghệ sỹ piano tài năng, Rachmaninov vẫn thường đệm đàn cho tôi trong những buổi biểu diễn như vậy… Năm 1915, ông ấy mang cho tôi một bản tình ca ông ấy mới sáng tác. Giai điệu tuyệt vời của nó gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ, và tôi nói, thật là tiếc vì bài hát vẫn chưa có lời. Rachmaninov trả lời: “Cô chẳng cần từ nào để thể hiện những gì đẹp đẽ nhất trong con người cô cả”, và đấy chính là câu chuyện về sự ra đời của tác phẩm Vocalise bất hủ...."
(Nguồn (http://classicalvietnam.info/modules.php?name=ArtOrg&op=DetailArt&catid=213))
Đoạn này nếu nhớ k0 nhầm là dịch từ vor.ru thì phải, :D . Tieecs laf Nezhdanova lại k0 thu âm tp này.

Wal
08-12-2008, 20:39
Đông đến rồi! Nhanh thật, vừa mới than Thu... Hì, đông này mời các bạn cùng thửng thức tác phẩm Winterreise - hành trình mùa đông, một trong những tác phẩm nổi tiếng của Schubert. Ta hãy cùng theo bước chàng trai trong chuyến hành trình này qua một số tác phẩm nhỏ trong tập ấy nhé!



Hành trình mùa đông hay chàng trai chạy trốn tình yêu

Toàn bộ tập bài hát Winterreise là câu chuyện về một chàng trai quyết định trốn chạy khỏi người mình yêu, rời bỏ ngôi làng nơi cô gái đang sống và ra đi ngay giữa một đêm mùa đông đầy tuyết và hoang vắng. Mùa đông như thế - dường như càng khắc nghiệt hơn với bi kịch của một trái tim đang tan nát.

Tác phẩm: Winterreise, D. 911 (Winter Journey - Hành trình mùa đông)
Tác giả: Franz Schubert (Áo)
Phổ thơ: Wilhelm Müller (24 Lieder)
Biểu diễn: Dietrich Fischer-Dieskau (giọng Baritone – nam trung)
Piano: Jörg Demus
****

Winterreise (Winter Journey) - Cuộc hành trình mùa đông là tập thơ gồm 24 bài của nhà thơ lãng mạn người Đức Wilhelm Müller. Tập thơ được biết đến rộng rãi qua phần phổ nhạc của nhà soạn nhạc tài năng người Áo Franz Schubert (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2556/index.aspx) – khi đó mới 30 tuổi.
Trước đó Schubert đã phổ nhạc cho một tập thơ khác của Wilhelm Müller, Die Schone Mullerin (D.795, Cô con gái xinh đẹp của người thợ xay) và sau này là Schawanengesang (D. 957, Những bài hát của chim thiên nga).


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/11/winter-photocase-com.jpg

Nguồn: photocase.com

Toàn bộ tập bài hát là câu chuyện về một chàng trai quyết định trốn chạy khỏi người mình yêu, rời bỏ ngôi làng nơi cô gái đang sống và ra đi ngay giữa một đêm mùa đông đầy tuyết và hoang vắng. Mùa đông như thế - dường như càng khắc nghiệt hơn với bi kịch của một trái tim đang tan nát. Tuyệt vọng và cô đơn, giận hờn và ngạo nghễ.

Một chặng đường rất dài qua 24 lieder (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2556/index.aspx) là một câu chuyện kể. Mở đầu bằng bài hát Chúc ngủ ngon! (Gute Nacht!) – một lời chia tay dịu dàng và đau buốt trước khi anh tạm biệt cô và lên đường trong đêm tối. Cô không thuộc về anh. Cô đã yêu người khác rồi, và họ còn sắp làm đám cưới nữa chứ, anh phải đi thôi.

(http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Winterreise%201.mp3)
Lied 1: Gute Nacht (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Winterreise%201.mp3)




Ta đã đến đây như người xa lạ
Và cứ thế rời đi
Chỉ có tháng Năm an ủi
Bằng sắc hoa dịu dàng

Em nói yêu ai thế?
Đám cưới nào nữa đây?
Thế giới chuyển màu xám
Mưa tuyết phủ trắng đường

Ta chẳng thể lựa chọn thời gian
Để bắt đầu cuộc hành trình cô độc
Anh sẽ tìm thấy con đường mình bước
Dù là trong bóng đêm

Tình yêu thích lang thang
Chúa đã làm như thế
Dù anh hay người khác

Em yêu, hãy ngủ ngon !
Chẳng đánh thức em đâu
Anh không làm như thế
Bước chân đi thật khẽ
Trước cánh cửa đóng rồi

"Ngủ ngon, em yêu nhé!"
Chỉ còn dòng chữ thôi
Viết trên cánh cổng gỗ sồi
Như trái tim anh vậy

Từ cái đêm chia tay ấy, chàng trai lang thang trong vô định. Con đường đi xa vùng đất này sao mà dài đến thế, anh ngắm nhìn chiếc chong chóng gió, anh ngắm nhìn ánh trăng bạc chiếu xuống mặt đất, trò chuyện với cây cỏ, dòng sông, hay những con vật anh gặp trên đường. Một nỗi cô đơn dài hơn đêm bao phủ.

Lied thứ 4 Cóng lạnh (Erstarrung) – Trên con đường rời khỏi ngôi làng, anh tìm kiếm trên nền tuyết trắng dấu chân của người yêu, nơi họ thường đi dạo cùng nhau tay trong tay giữa những cánh đồng hoa và cỏ xanh mơn mởn.

Anh muốn hôn lên mặt đất và mặc kệ nước mắt nóng bỏng đang rơi, cho đến khi băng tan chảy để có thể nhìn lại nơi anh và cô đã đặt chân lên. Nhưng những bông hoa đã chết bởi giá lạnh của mùa đông, giống như trái tim anh vậy.


Lied 4: Erstarrung (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Winterreise4.mp3)



Tuyệt vọng tìm trên tuyết
Dấu vết đôi chân nàng
Nơi cánh tay em đang ôm choàng

Băng qua đồng cỏ xanh mơn mởn
Ta muốn hôn mặt đất
Qua tuyết băng lạnh lùng
Với nước mắt rơi, nóng bỏng
Chạm tới mặt đất trong
Nơi ta tìm thấy niềm hy vọng, tươi như cánh hoa
Hay thấy cỏ mềm xanh mượt?

Nhưng những bông hoa đã chết rồi
Lớp đất cằn khô trắng
Sẽ chẳng còn kí ức
Theo đuổi tận nơi này
Nơi nỗi đau ngừng lại
Chẳng còn ai nhắc về nàng nữa, phải không?

Bóng hình em đóng băng
Trong tim ta ngưng đập
Khi nào bừng tỉnh giấc
Hình bóng có chảy tan?!


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/11/fischer-dieskaudietrich-polarmusicprize-comok.jpg

Nghệ sĩ Opera Dietrich Fischer-Dieskau
Nguồn: polandmusicprize.com

Bản thu âm mà bạn đang nghe được trình bày bởi Dietrich Fischer-Dieskau – một trong những nghệ sĩ Opera tài năng nhất mọi thời đại – ông vua baritone màu sắc của thể loại lieder. Chỉ có thể nói một điều duy nhất: Dietrich Fischer-Dieskau thực sự là một tượng đài lớn của thanh nhạc cổ điển.

Ảnh hưởng của ông đến thế hệ những người biểu diễn cũng như khán giả yêu nhạc toàn thế giới lớn đến mức ngày nay nếu người ta nói về Lieder thì cái tên Fischer-Dieskau luôn hiện ra như một chuẩn mực hoàn mĩ.
Khả năng kiểm soát và điều tiết hơi thở của ông khiến cho bài hát mềm mại, ấm áp và vẫn thể hiện dầy dặn cảm xúc của từng câu từ. Ngay cả những đoạn ngắt nhịp hay ngắt câu của ông cũng thể hiện chính xác rung động của lời thơ – như thể ông đã lặng ngắm, đã đắm mình trong suy tưởng và đang nói lên tâm trạng của chính mình.

Lied thứ 19 – Con đường đã khá xa rồi, anh sắp rời khỏi ngôi làng – Ảo ảnh (Täuschung) là khi anh nhìn thấy ánh trăng phản chiếu trên con đường đầy tuyết anh đang đi, hay một nơi nghỉ chân ấm áp, hoặc thậm chí là gương mặt của một người đã lừa dối anh.


Lied 19: Täuschung (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Winterreise%2019.mp3)



Ánh sáng nào lấp lánh nhảy bên ta
Như bạn đường thân thiết
Quyến rũ kẻ lang thang
Ta mê mải dõi nhìn

A! Ta – một người lang thang khốn khổ
Vui sướng khi rơi vào trò đùa vui
Ánh sáng rực rỡ và mái nhà yên ấm
Xa thật xa tuyết lạnh, sợ hãi hay đêm đen
Và chỉ có tâm hồn đang yêu
Ảo ảnh mới có thể dối lừa như thế
Bằng một chiến thắng quá đỗi ngọt ngào.

Có lẽ chỉ Chúa mới biết tại sao Schubert lại yêu thích thể loại lieder đến như vậy. Có thể bởi ông đã trải qua tuổi thơ và cuộc sống đầy khó khăn, khi đó tính chất lãng mạn, nhạy cảm trong tâm hồn đã đưa ông đến với lieder và ghi dấu ấn của mình đậm nét.

Lieder thường được xem là thể loại sáng tác chủ yếu của giới nhạc sĩ nghiệp dư cuối thế kỷ 18. Thời kì đó giới soạn nhạc, sáng tác, phê bình xem nhạc kịch hoặc nhạc lễ mới là hình thức âm nhạc nghệ thuật cao nhất về thanh nhạc. Nhưng Franz Schubert - người được mệnh danh là Hoàng tử của Lieder (Prince of Lieder) - đã thay đổi vận mệnh của thể loại này.

Trong cuộc đời tài hoa bạc mệnh chỉ vỏn vẹn 31 năm, Schubert đã để lại cho hậu thế hơn 600 bài hát, lối cách tân trong cách phổ thơ (không chỉ phổ thơ rập theo từng khổ như truyền thống-strophic setting), những thủ pháp biểu đạt, đồng thời khơi gợi một dòng mạch sáng tác cho cả một di sản lieder đồ sộ với sự đóng góp vĩ đại của những nhà soạn nhạc truyền thống âm nhạc Áo- Đức sau này, như Robert Schumann , Brahms, Hugo Wolf , Mahler hay Webern...

Đó là thành tựu phi thường mà lịch sử âm nhạc phương Tây mãi còn ghi nhớ.


little* fire
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5452/index.aspx)




-------------------
Tải trọn bộ tác phẩm Winterreise ở đây (http://www.nhaccodien.info/forum/showthread.php?t=1603)
Tải các tác phẩm lieder của schubert do Dietrich Fischer-Dieskau trình bày ở đây (http://www.nhaccodien.info/forum/showpost.php?p=22491&postcount=1281)

Bagiai_Bach
20-12-2008, 18:17
đĩa này là 1 trong vài "đĩa gối đầu giường" của mình, cám ơn Wal đã post phần lời dịch.

Chibura
22-12-2008, 07:25
vẫn cái cố hữu kiểu post bài cùng 1 topic. Đề nghị đồng chí Wal post bài theo từng topic riêng nhé. Chứ thế này mỗi lần lật trang tìm bài oải lắm. Hic hic =_=

Wal
22-12-2008, 13:03
Bất tử như tình yêu của Mimì

Musetta, với cá tính mạnh mẽ hơn Mimì, đã quyết định rời bỏ Marcello vì không thể chịu đựng nghèo khổ thêm nữa. Còn Mimì đau yếu thì vì quá nặng lòng với Rodolfo nên thanh thản trút hơi thở cuối cùng tại căn phòng áp mái nơi tình yêu của cô và Rodolfo nảy nở, dù trước đó Rodolfo chủ ý rời bỏ cô vì mong cô được sống.

Trích đoạn trong Màn I opera La Bohème
Âm nhạc: Giacomo Puccini
Libretto: Giuseppe Giacosa & Luigi Illica
Thể hiện: Luciano Pavarotti (tenor) và Mirella Freni (soprano)
*****
(http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Act%20I%2010%20_%20O%20Soave%20Fanciulla%20_%20by% 20Pava%20and%20Freni.wma)
Aria: (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Act%20I%2010%20_%20O%20Soave%20Fanciulla%20_%20by% 20Pava%20and%20Freni.wma)Che gelida manina (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Act%20I%2010%20_%20O%20Soave%20Fanciulla%20_%20by% 20Pava%20and%20Freni.wma)
(Bàn tay nhỏ nhắn mới giá lạnh làm sao!)


Bài viết mừng Noel và kỉ niệm 150 năm ngày sinh Giacomo Puccini: 22/12/1858 – 22/12/2008

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/12/laboheme4-classicalautographs-com.jpg

Pavarotti và Freni trong La Bohème
Nguồn: classicalautographs.com

Tại một căn phòng áp mái ở Khu Latin, Paris vào đêm Giáng sinh, khi những người bạn cùng phòng trọ tới quán Café Momus gần đó thì chàng thi sĩ Rodolfo ở lại một mình để hoàn tất bản thảo dở dang.

Bỗng có tiếng gõ cửa và cô hàng xóm Mimì bước vào, trên tay cô là ngọn nến mới bị tắt cần châm lại lửa.

Có thể vì vẻ đẹp trong sáng của Mimì, có thể vì dư vị của ly rượu vang vừa uống, có thể vì nỗi cô đơn của nhiều Giáng sinh đã qua dồn tụ lại, có thể vì cây nến trong phòng Rodolfo cũng đã "tình cờ" bị tắt mà Rodolfo đã nắm lấy bàn tay run rẩy của Mimì để thổ lộ những ước mơ của mình dưới ánh trăng mờ chiếu vào căn phòng áp mái.
Che gelida manina (Bàn tay nhỏ nhắn mới giá lạnh làm sao!), aria của Rodolfo (giọng tenor), không chỉ nổi tiếng trong giới thưởng thức opera mà còn nổi tiếng trong văn hoá đại chúng, cùng với nhiều aria khác trong opera của Puccini như O Mio Babbino Caro (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4554/index.aspx) hay Nessun Dorma.

Cuộc sống đơn độc nhưng không kém phần thơ mộng của Mimì ở căn phòng áp mái màu trắng cạnh đó cũng được cô tâm sự với Rodolfo qua aria Sì, mi chiamano Mimì:

Vâng, mọi người gọi em là Mimì,
Nhưng tên thật của em là Lucia.

Chuyện của em ngắn thôi:
Em dệt lụa và vải lanh
Ngay tại nhà hay ở ngoài...
Cuộc sống của em lặng lẽ nhưng hạnh phúc.
Và trò tiêu khiển của em
Là làm những bông hồng bông huệ.
Em yêu thích những thú vui này.

Những vật hấp dẫn ngọt ngào đến thế,
Chúng nói về tình yêu về mùa xuân,
Về những giấc mơ và cảnh mộng
Và những vật tên gọi nên thơ...
Anh có hiểu em không?
......


Duo O soave fanciulla (Ôi cô gái xinh đẹp) (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Act%20I%208%20_%20%20Che%20Gelida%20Manina%20_%20b y%20Luciano%20Pavarotti.mp3)

Và tình yêu giữa Mimì và Rodolfo đã bắt đầu như thế! Niềm vui khi tìm được nhau trong cuộc đời được họ thể hiện qua duo O soave fanciulla (Ôi cô gái xinh đẹp). Tay trong tay, họ cùng nhau rời căn phòng áp mái và tới quán cà phê với các bạn. Đây cũng là duo kết thúc màn 1 vở opera 4 màn La Bohème của nhà soạn nhạc Ý Giacomo Puccini (1858 – 1924).


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/12/laboheme3-daylife-comok.jpg

Rolando Villazon và Anna Netrebko trong màn 1 vở La Bohème
(nhà hát Metropolitan Opera) - Nguồn: daylife.com

Gần nửa đêm, ngày 10 tháng 12 năm 1895, Puccini buông bút sau khi hoàn tất vở opera La Bohème. Ông đã quá xúc động bởi cái chết của Mimì mà ông sáng tạo. Ông kể lại: "Đứng giữa phòng làm việc, cô đơn trong cái tĩnh lặng của đêm, tôi bắt đầu khóc như một đứa trẻ, cứ như thể tôi vừa trông thấy đứa con đẻ của mình chết đi."

Khi lên sân khấu cúi chào khán giả sau một buổi trình diễn vở opera La Bohème của Puccini tại nhà hát La Scala tháng 1 năm 1963, nhạc trưởng Herbert von Karajan cũng đã rơi lệ. Đó là buổi diễn ra mắt La Scala của ca sĩ giọng soprano Mirella Freni trong vai Mimì dưới đũa chỉ huy của Karajan. Ông thú nhận với Freni: "Đây là lần thứ hai tôi khóc. Lần đầu là khi mẹ tôi mất."


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/12/LaBoheme-alexwg-orgok.jpg

Cover của đĩa opera La Bohème
Nguồn: amazon.com
Trong lịch sử trình diễn và thu âm La Bohème, có lẽ không có soprano nào lại hợp với vai cô gái Mimì yếu đuối hơn ca sĩ người Ý Mirella Freni.

Giọng hát mộc mạc cùng với cách xử lý thanh nhạc thông minh của Freni đã tạo nên một Mimì giản dị nhưng làm lay động trái tim ngay cả những nhà phê bình cứng rắn nhất và khiến triệu triệu người hâm mộ opera nhỏ lệ.

Sự giản dị cũng chính là một trong những phương châm sáng tác của Puccini, bậc thầy của thể loại opera verismo (opera chân thực) với nhiều vở opera nổi tiếng mà ngày nay vẫn được biểu diễn thường xuyên trên sân khấu opera thế giới như La Bohème; Tosca; Madama Butterfly; Turandot… Puccini đã từng nói: "Tôi chỉ có thể viết nhạc về những điều giản dị."

Tiểu thuyết Scènes de la vie de Bohème (Những cảnh đời Bohemia), xuất bản năm 1851, của tác giả người Pháp Henri Murger là một tập hợp lỏng lẻo những câu chuyện đời của những văn nghệ sĩ chưa thành danh trong bối cảnh khu Latin ở Paris thế kỉ 19. Trong lời giới thiệu tiểu thuyết, Muger viết: "La Bohème, đó là sân khấu cuộc đời nghệ sĩ; đó là bước mở đầu tới Viện hàn lâm, Nhà tế bần hay là Nhà xác."


Aria Sì, mi chiamano Mimì (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Act%20I%209%20_%20Si%20Mi%20Chiamano%20Mimi%20_%20 by%20Mirella%20Freni.mp3)

Có tới 2 vở opera có libretto bằng tiếng Ý cùng dựa trên tiểu thuyết này và cùng lấy cái tên tiếng Pháp là La Bohème. Hai nhà soạn nhạc Ý Giacomo Puccini và Ruggero Leoncavallo hơn kém nhau một tuổi và 2 vở opera La Bohème của hai ông được công diễn lần đầu cách nhau khoảng 1 năm.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/12/laboheme2-sarasotaopera-org.jpg

Căn phòng áp mái nơi Rodolfo sống cùng các bạn nghệ sĩ
(dàn dựng La Bohème 2006 của nhà hát Sarasota Opera ở Floria, Hoa Kỳ)
Nguồn: sarasotaopera.org

La Bohème của Puccini có libretto do Giuseppe Giacosa và Lugi Illica viết thì tập trung vào mối tình giữa thi sĩ Rodolfo và Mimì. Còn La Bohème của Leoncavallo với libretto do chính nhà soạn nhạc viết thì nhấn mạnh vào mối tình phức tạp hơn giữa họa sĩ Marcello và cô gái Musetta.

Musetta, với cá tính mạnh mẽ hơn Mimì, đã quyết định rời bỏ Marcello vì không thể chịu đựng nghèo khổ thêm nữa. Còn Mimì đau yếu thì vì quá nặng lòng với Rodolfo nên thanh thản trút hơi thở cuối cùng tại căn phòng áp mái nơi tình yêu của cô và Rodolfo nảy nở, dù trước đó Rodolfo chủ ý rời bỏ cô vì mong cô được sống.

Kết quả là La Bohème của Leoncavallo hoàn toàn bị lu mờ trước La Bohème của Puccini. Chỉ vài năm sau buổi công diễn lần đầu, La Bohème của Leoncavallo đã biến mất khỏi danh mục opera thường xuyên được biểu diễn. Còn La Bohème của Puccini thì bất tử trong nghệ thuật hàn lâm, bất tử như tình yêu của Mimì.




Ngọc Anh (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5508/index.aspx)



Sì, mi chiamano Mimì



Vâng, mọi người gọi em là Mimì,

Nhưng tên thật của em là Lucia.

Chuyện của em ngắn thôi:

Em dệt lụa và vải lanh

Ngay tại nhà hay ở ngoài...

Cuộc sống của em lặng lẽ nhưng hạnh phúc.

Và trò tiêu khiển của em

Là làm những bông hồng bông huệ.

Em yêu thích những thú vui này.

Những vật hấp dẫn ngọt ngào đến thế,

Chúng nói về tình yêu về mùa xuân,

Về những giấc mơ và cảnh mộng

Và những vật tên gọi nên thơ...

Anh có hiểu em không?


Mọi người gọi em là Mimì,

Em không biết tại sao!

Em nấu ăn bữa tối

Luôn chỉ có một mình.

Em thường không chờ đợi nhiều

Nhưng em hay cầu Chúa.

Em sống một mình đơn độc,

Trong căn phòng nhỏ màu trắng của em.

Em nhìn lên mái nhà và bầu trời;

Nhưng khi tuyết tan

Hơi ấm đầu tiên từ mặt trời là của em,

Nụ hôn đầu tiên của tháng tư là của em!

Ở trong bình một nụ hồng đang nở,

Em ngắm những cánh hoa dần mở,

Với mùi hương tinh tế của một đóa hoa!

Nhưng những đóa hoa mà em đã làm

Than ôi lại không có mùi hương.

Chẳng còn điều gì nữa

Để em có thể kể về mình

Em là người hàng xóm của anh

Người đã gõ cửa phòng anh quá muộn

Làm phiền anh lúc không thích hợp.

Wal
29-12-2008, 08:20
Sự thật về... *** (*ai thắc mắc thì hỏi nhà em hoặc tắc giả bài viết ;;))
--------------

Hôn kiểu Beethoven

Der Kuß (Nụ hôn) vốn là bài thơ hóm hỉnh của thi sĩ Đức Christian Felix Weisse được Beethoven phổ nhạc thành một ca khúc rất hay. Nhưng tất nhiên trong số các tác phẩm của Beethoven nó chưa được biết đến nhiều ở Việt Nam bằng sonata Ánh trăng.

Ca khúc: NỤ NÔN
Âm nhạc: Ludwig van Beethoven
Lời thơ: Christian Felix Weisse
Thể hiện: Fritz Wunderlich (tenor) & Hubert Giesen (piano)
DOWNLOAD (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/DerKuss-TheKiss.mp3)
***

Dù ngàn năm ngàn năm
Cũng chẳng bao giờ đủ
Để nói về
Giây khắc vĩnh cửu
Lúc mà anh hôn em
Lúc mà em hôn anh
Một khoảnh khắc trong ánh đèn mùa đông
Ở Công viên Montsouris - Paris
Ở Paris
Trên trái đất
Trái đất chính là một tinh tú.
(Khu vườn - thơ Jacques Prévert)

Một lần sau khi đọc bài thơ Khu vườn của Jacques Prévert mà tôi mới dịch, Nhi - cô bạn thân của tôi, ngồi thừ người ra khiến tôi muốn trêu:

- Sao thế? lại nhớ tới nụ hôn ở Paris à?

- Nào đã được hôn ở Paris! Lão Dũng nhà mình rất chi là đáng ghét…



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/12/kiss-klimt-scandecor-ltd-co-ukok.jpg

Bức tranh The Kiss (Nụ hôn) của danh họa Gustav Klimt
Nguồn: scandecor-ltd.co.uk

Dũng là chồng của Nhi và là cậu bạn học cũ của tôi. Thế là thay vì được nghe góp ý về bản dịch tôi lại phải nghe một tràng than thở về nụ hôn đầu tiên đáng thất vọng giữa hai người. Nghe xong tôi cười:

- Thế thì hay quá còn gì, được hôn kiểu Beethoven cơ mà?

Cô bạn tôi bực bội :

- Beethoven mà hôn kiểu thô lỗ thế à! Tưởng hôn kiểu Beethoven thì phải là ở bên một mặt hồ lung linh ánh trăng và đáng nhớ như bài thơ này của Prévert chứ?

Nghe và mê Beethoven từ thời sinh viên, giờ đây đã hai con rồi mà Nhi vẫn hứng thú thao thao bất tuyệt cùng tôi hoặc chồng mình về piano sonata số 14 Ánh trăng, Giao hưởng số 3 Anh hùng ca, số 5 Định mệnh, số 6 Đồng quê, số 9 Hướng tới niềm vui cùng nhiều tác phẩm quy mô lớn khác của Beethoven. Nhưng hóa ra cô nàng chưa nghe Nụ hôn.

- Thế Nhi chưa bao giờ ngheNụ hôn của Beethoven à?

- Nụ hôn nào cơ?

- Thì ca khúc Der Kuß ấy.

Der Kuß (Nụ hôn) vốn là bài thơ hóm hỉnh của thi sĩ Đức Christian Felix Weisse được Beethoven phổ nhạc thành một ca khúc rất hay. Nhưng tất nhiên trong số các tác phẩm của Beethoven nó chưa được biết đến nhiều ở Việt Nam bằng sonata Ánh trăng.

Ngoài các tác phẩm khí nhạc và các tác phẩm thanh nhạc quy mô lớn như opera Fidelio hay bản Missa Solemnis, Beethoven cũng sáng tác rất nhiều lied (ca khúc nghệ thuật Đức). Tập liên khúc An die ferne Geliebte (Gửi người yêu phương xa) Op. 98 mà ông soạn năm 1816 được coi là tập liên khúc đích thực đầu tiên.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2008/12/kiss-rodin-msdlists-com.jpg

Bức tượng Kiss (Nụ hôn) của Rodin
Nguồn: msdlists.com

Tuy Beethoven không có nhiều lied nổi tiếng bằng Schubert, người được phong là "Ông vua lied" (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//2556/index.aspx), nhưng trong số gần 300 lied của Beethoven cũng lấp lánh nhiều kiệt tác của thể loại như Der Kuß hay Adelaide…

Ở thế kỷ 19, nhà phê bình Eduard Hanslick đã gọi Adelaide là "Lied độc nhất của Beethoven mà sự mất mát của nó sẽ để lại một khoảng trống trong đời sống tình cảm của dân tộc chúng ta."

Trở lại với cô bạn Nhi của tôi, tôi chọn một trong các đĩa CD lieder yêu thích của mình do giọng tenor Fritz Wunderlich thể hiện rồi bật cho Nhi nghe bài Nụ hôn của Beethoven. Tôi cũng không quên cho Nhi đọc lời dịch:

Một mình tôi với Chloen,
Và tôi muốn hôn nàng;
Song nàng lại dọa rằng
Nàng sẽ kêu toáng lên –
Thành ra công Dã Tràng.

Tôi cả gan, và hôn
Mặc dù nàng kháng cự.

Thế nàng có kêu không?
Ồ có, nàng kêu chứ;
Nhưng một lát sau đó.

- Thế lão Dũng nhà mình có biết lied này không?

- Mình chả nhớ nữa. Hồi đó dịch lời bài này xong mình gửi cả nhạc và lời cho một loạt trong danh sách bạn trong hộp thư điện tử. Mà hình như danh sách bạn hồi đó của mình mới có Dũng mà chưa có Nhi thì phải.

Hôm sau tôi nhận được tin nhắn từ Dũng: "Cám ơn vì mấy năm trước đã dạy cách hôn kiểu Beethoven!". Tôi xóa tin nhắn này ngay lập tức kẻo anh chồng sắp cưới của tôi đọc được lại hiểu lầm thì nguy.


Ngọc Anh (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5555/index.aspx)
Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5698/index.aspx)

Wal
05-01-2009, 23:10
Rộn rã năm mới với Hành khúc Radetzky!

Hầu như lần nào cũng thế. Tiếng vỗ tay của khán giả có mặt tại Goldener Saal rộ lên ngay khi họ nhận ra giai điệu của Dòng Danube xanh. Và trong suốt tiết mục cuối cùng, Hành khúc Radetzky, những khán giả này hào hứng vỗ tay thật to theo sự chỉ huy của nhạc trưởng.

Bản nhạc: RADETZKY MARCH (Hành khúc Radetzky) (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/radetzkymarch-muti.mp3)
Tác giả: Johann Strauss cha
Thể hiện: Dàn nhạc giao hưởng Vienna (Chỉ huy: Riccardo Muti)
*****

Hầu như lần nào cũng thế: Cũng vẫn là những điệu valse, polka, mazurka, hành khúc… của gia đình Strauss và các nhà soạn nhạc người Áo khác trong phần chính của chương trình. Cũng vẫn là những lẵng hoa tươi thắm mà các thành phố bạn gửi tặng.

Cũng vẫn là 3 encore quen thuộc được dàn nhạc chơi sau phần chính: một bản polka nhanh; bản valse Dòng Danube xanh của Johann Strauss con và bản Hành khúc Radetzky của Johann Strauss cha.

Hầu như lần nào cũng thế. Tiếng vỗ tay của khán giả có mặt tại Goldener Saal rộ lên ngay khi họ nhận ra giai điệu của Dòng Danube xanh. Và trong suốt tiết mục cuối cùng, Hành khúc Radetzky, những khán giả này hào hứng vỗ tay thật to theo sự chỉ huy của nhạc trưởng.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/nyc3-daylife-comok.jpg http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/nyc-daylife-comok.jpg
Được chỉ huy dàn nhạc giao hưởng Vienna trong buổi
Hòa nhạc cổ điển mừng năm mới là một vinh dự mà ai cũng phải mơ ước
Nguồn: daylife.com


Nhưng để có thể trực tiếp vỗ tay theo Hành khúc Radetzky đúng vào ngày đầu năm tại Goldener Saal như vậy, nhiều người đã phải đặt vé trước cả năm. Thậm chí nhiều chỗ ngồi đã được một số gia đình người Áo giữ trước từ rất lâu và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Hàng triệu triệu khán thính giả khác trên khắp thế giới theo dõi sự kiện biểu tượng cho văn hóa âm nhạc Vienna đó qua truyền hình. Tất cả cùng được đắm mình vào bầu không khí vui tươi, lạc quan đón chào một năm mới đến. Năm 2006, con số này đã lên tới xấp xỉ 1 tỉ người ở 44 quốc gia

Đó là những chương trình hòa nhạc cổ điển mừng năm mới (New Year"s Concert) của Dàn nhạc giao hưởng Vienna (Vienna Philharmonic Orchestra) - một trong những dàn nhạc giao hưởng có mối liên hệ chặt chẽ nhất với lịch sử âm nhạc cổ điển châu Âu.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/nyc-beijing2008-cn.jpg
Không dễ dàng để có được một ghế ngồi theo dõi buổi hòa nhạc
được trông đợi nhất trong năm này
Nguồn: beijing2008.cn


Sự kiện truyền thống này thường diễn ra vào buổi sáng đầu tiên của năm mới tại Goldener Saal (Golden Hall) - phòng hòa nhạc lớn nhất trong tòa nhà Musikverein, trụ sở của dàn nhạc.

Ra đời trong thời kỳ lịch sử đen tối nhất của nước Áo (năm 1939), ban đầu những chương trình như thế này đã gợi nhắc khán giả địa phương đến những thời kỳ tươi sáng hơn. Chúng đã góp phần không nhỏ trong việc giảm bớt sự bi quan của dân chúng thành Vienna dưới chế độ độc tài Phát xít, mang tới niềm hi vọng vào tương lai.

Về sau, nhờ các mạng lưới truyền hình, chương trình nhận được sự mến mộ của cả châu Âu. Và trong những năm gần đây, người dân một số nước châu Phi cũng đã có thể theo dõi chương trình trực tiếp qua truyền hình.

Được thưởng thức các tác phẩm âm nhạc tinh tế mà thư thái của chương trình đặc biệt ấy là một nguồn khích lệ lớn lao với tất cả mọi người.

Mong ước của Dàn nhạc giao hưởng Vienna là không chỉ truyền ra thế giới những chương trình biểu diễn các kiệt tác của thể loại âm nhạc đặc trưng cho thành Vienna, mà với vai trò đại sứ âm nhạc, Dàn nhạc còn gửi đến nhân dân toàn thế giới một lời chúc mừng năm mới trên tinh thần hi vọng, hữu nghị và hòa bình.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/nyc2-daylife-com.jpg
Khung cảnh lộng lẫy và hoành tráng của Goldener Saal mỗi

ngày đầu năm mới, với rất nhiều hoa tươi do các thành phố bạn gửi tặng

Nguồn: daylife.com


Năm 1946, năm đầu tiên sau thế chiến thứ hai, chương trình lấy tên chính thức là Das Neujahrskonzert der Wiener Philharmoniker (Chương trình hòa nhạc cổ điển mừng năm mới của Dàn nhạc giao hưởng Vienna). Cũng trong năm này, lần đầu tiên Hành khúc Radetzky được chọn làm encore trong chương trình.

Hành khúc Radetzky op.228 được nhà soạn nhạc thiên tài Johann Strauss (cha) viết vào năm 1848 và đề tặng thống chế Joseph Radetzky von Radetz. Radetzky là một nhà quý tộc người Bohemia, một vị tướng nổi tiếng trong quân đội Áo. Sự nghiệp quân ngũ của ông kéo dài hơn 70 năm cho tới khi ông qua đời năm 1858. Tiếng tăm ông đã trở nên bất tử cùng với Hành khúc Radetzky – tác phẩm có lẽ là nổi tiếng nhất của Johann Strauss cha.

Mặc dù có nguồn gốc từ quân đội nhưng Hành khúc Radetzky mang không khí lễ hội vui tươi hơn là tinh thần quân sự nghiêm trang. Nó phù hợp với tính cách quần chúng cởi mở cả trên chiến trận cũng như tại phòng khiêu vũ của người được đề tặng.

Những sĩ quan Áo có mặt tại buổi biểu diễn lần đầu tiên của Hành khúc Radetzky đã ngay lập tức vỗ tay và dậm mạnh chân khi đồng thanh hô vang. Truyền thống này được tiếp tục đến tận ngày nay khi bản hành khúc được chơi trong các buổi gặp gỡ có hòa nhạc cổ điển tại Vienna.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/muti1.jpg http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/muti2-esteri-it.jpg
Nhạc trưởng Riccardo Muti, người vinh dự được chỉ huy dàn nhạc

trong Hòa nhạc mừng năm mới trong 4 năm: 1993, 1997, 2000 và 2004

Nguồn: esterit.it


Hành khúc Radetzky bạn đang nghe được thu âm trực tiếp trong Chương trình hòa nhạc cổ điển mừng năm mới của Dàn nhạc giao hưởng Vienna năm 1997. Chỉ huy dàn nhạc là nhạc trưởng danh tiếng người Ý Riccardo Muti - người cũng chỉ huy chương trình các năm 1993, 2000 và 2004.

Là một nhạc trưởng gần gũi với khán giả, Riccardo Muti hẳn rất hứng thú với truyền thống trình diễn Hành khúc Radetzky. Ông từng tuyên bố: "Quá nhiều phường giá áo xem các buổi hòa nhạc như một kiểu cách, những người được gọi là chuyên gia nhồi nhét những điều ghê gớm vào trái tim những người bình thường, vào trái tim của những người tới các buổi hòa nhạc để trải nghiệm xúc cảm.

Những người được gọi là chuyên gia này mặc đồ đen và đeo kính đen. Họ chỉ biết hình thức, họ không biết về trái tim của một bản giao hưởng. Họ chiếu X-quang lên tổng phổ và lánh xa khán giả. Như Dante giải thích trong Paradiso, chúng ta tiếp cận với nghệ thuật âm nhạc bằng sự say mê chứ không phải bằng sự am hiểu."
....

Đến hẹn lại lên, ngày đầu tiên của một năm mới, tiếng vỗ tay của khán giả có mặt tại Goldener Saal sẽ lại rộ lên ngay khi họ nhận ra giai điệu của Dòng Danube xanh. Và trong suốt tiết mục cuối cùng - Hành khúc Radetzky, những khán giả này hào hứng vỗ tay thật to theo sự chỉ huy của nhạc trưởng.

Lời chúc mừng năm mới bằng âm nhạc từ thành Vienna lại sẽ truyền đi khắp thế giới với tinh thần hi vọng, hòa bình và hữu nghị…




Ngọc Anh
Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5751/index.aspx)

Wal
18-01-2009, 21:54
"Kỉ niệm về một nơi thân thương"- minh chứng tình tri kỉ

Kỉ niệm về một nơi thân thương chính là một trong những minh chứng của tình tri kỉ nổi tiếng giữa Tchaikovsky và Nadezhda von Meck, người phụ nữ phi thường với lòng cổ vũ kiên định dành cho nhiều nghệ sĩ tài năng bao gồm cả Nikolai Rubinstein và Claude Debussy.

Bản nhạc: MÉDITATION (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Meditation-Tchaikovskyok.mp3)
Trích Souvenir d’un lieu cher, Op. 42
Tác giả: Pyotr Ilyich Tchaikovsky
Thể hiện: Leonid Kogan (violon) và Dàn nhạc hiệp hội nhạc viện Paris
(Chỉ huy: Constantin Silvestri)
*****

Souvenir d’un lieu cher (Kỉ niệm về một nơi thân thương) Op. 42 là một tác phẩm viết cho violon và piano vô cùng duyên dáng của Tchaikovsky. Nó được coi là sinh ra từ mối quan hệ độc nhất vô nhị giữa Tchaikovsky và nữ mạnh thường quân giàu có của ông – Nadezha von Meck.

Nơi thân thương đó chính là điền trang Brailovo (cách viết khác là Brailov) ở Ukraine của phu nhân von Meck. Nhà soạn nhạc không đề tặng tác phẩm trực tiếp cho phu nhân von Meck mà đề tặng cho chính điền trang Brailovo: Tặng B******* (chữ B và 7 dấu hoa thị).

Thực sự giải phóng cho nhà soạn nhạc khỏi mọi gánh nặng tài chính trong cuộc sống, sự bảo trợ của phu nhân von Meck dành cho Tchaikovsky có kèm theo "điều khoản" ngầm rằng: "hai bên sẽ không bao giờ gặp mặt nhau."


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/tchaikovsky-allposters-comok.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Tchaikovsky - Nguồn: allposters.com


Tuy nhiên "điều khoản" đó không ngăn cản Tchaikovsky được hưởng thụ những tiện nghi tại điền trang Brailovo khi phu nhân đi vắng. Chỉ trong một lần lưu lại đó vào mùa xuân năm 1878 (2 tuần lễ từ ngày 25 tháng 5), Tchaikovsky đã tìm thấy một không gian yên tĩnh và ngôi nhà tiện nghi mà ông ưa thích đến nỗi lập tức soạn tác phẩm Souvenir d’un lieu cher để làm kỉ niệm cho kỳ nghỉ đáng nhớ này.

Souvenir d’un lieu cher gồm 3 chương và có thể coi là người anh em họ của bản Violon Concerto mà Tchaikovsky đã hoàn thành trước đó chỉ 1 tháng. Trên thực tế, chương đầu tiên của Souvenir d’un lieu cher - Méditation, chính là chương nhạc mà ban đầu Tchaikovsky định dùng làm chương II của bản Violon Concerto.

Trong quá trình soạn bản Violon Concerto Op. 35, Méditation đã bị thay thế bằng chương Canzonetta nổi tiếng. Với hai chương tiếp theo là Scherzo và Mélodie mà Tchaikovsky viết ngay tại điền trang Brailovo, Souvenir d’un lieu cher được hoàn thành vào ngày 31 tháng 5.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/01/farm-chuckpaintings-comok.jpg

Chính những giờ phút thư thái ở điền trang đã đem lại nguồn cảm hứng
để Tchaikovsky soạn ra tác phẩm Souvenir d’un lieu cher
Nguồn: chuckpaintings.com


Khi rời điền trang Brailovo, Tchaikovsly đã nhờ Marcel, người quản lý điền trang, chuyển tác phẩm cho phu nhân von Meck. Ông viết: "Tôi đã gửi Marcel các tiểu phẩm của mình để chuyển tới bà… Theo ý kiến của tôi, tiểu phẩm đầu tiên là hay nhất nhưng nó khiến tôi băn khoăn nhất; nó có tên là Méditation và được chơi ở tốc độ Andante. Tiểu phẩm thứ hai là một khúc Skerzo rất hoạt bát và tiểu phẩm thứ ba – Chant sans paroles (Bài ca không lời).

Khi đưa những tiểu phẩm này cho Marcel, tôi trải qua một nỗi u sầu không sao kể xiết, nỗi u sầu còn lưu lại ngay cả lúc tôi ngồi xuống để viết những dòng này cho đến khi tôi nhìn những đóa tử đinh hương vẫn đang nở rộ, đám cỏ vẫn mọc dài và những bông hồng chỉ mới bắt đầu hé nở."

Cũng trong lá thư này, Tchaikovsky hỏi phu nhân von Meck liệu bà có thể giữ lại bản thảo viết tay nhưng cho sao chép các tiểu phẩm để gửi xuất bản không. Wladyslaw Pachulski, một người chơi piano và violon nghiệp dư lúc đó đang làm công tại điền trang mà sau này trở thành con rể phu nhân, đã thực hiện việc sao chép này.
Tuy nhiên mãi đến tháng 9 năm 1878 Tchaikovsky mới nhận được bản sao và hồi âm: "Tôi đã nhận được các tiểu phẩm violon. Xin cám ơn bà và Pachulski."

Vậy là bản thảo gốc của Souvenir d"un lieu cher đã được gửi ngay tới phu nhân von Meck như một dấu hiệu của lòng biết ơn. Còn tác phẩm được Petr Jurgenson xuất bản vào tháng 5 năm 1879.

Năm 1880, chương Méditation lại được tái bản riêng và từ đó nó trở nên nổi tiếng như một tác phẩm độc lập. Chương Scherzo và Mélodie cũng được tái bản riêng vào tháng 4 năm 1884. Chương III, Mélodie (mà ban đầu tác giả gọi là Chant sans paroles), là chương mạnh mẽ nhất trong cả ba nhưng chắc chắn là chương có được ít tiếng tăm nhất.

Đến năm 1896, Jurgenson xuất bản trọn vẹn Souvenir d"un lieu cherở phiên bản do Alexander Glazunov chuyển soạn cho violon và dàn nhạc. Và có lẽ phiên bản này còn nổi tiếng hơn bản gốc cho violon và piano.

Chẳng rõ Souvenir d"un lieu cherđược công diễn lần đầu khi nào và ở đâu. Nhưng cùng với Giao hưởng No. 4, nó là một trong những minh chứng của tình tri kỉ nổi tiếng giữa Tchaikovsky và Nadezhda von Meck, người phụ nữ phi thường với lòng cổ vũ kiên định dành cho nhiều nghệ sĩ tài năng bao gồm cả Nikolai Rubinstein và Claude Debussy.


Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5884/index.aspx)

Wal
03-02-2009, 09:45
Ngày xuân mà "mộng đêm hè"
Nhắc tới Giấc mộng đêm hè, người yêu sân khấu kịch nói nghĩ đến William Shakespeare, người yêu hội họa nghĩ đến Joseph Noel Paton, người yêu nhạc cổ điển nghĩ trước hết đến Felix Mendelssohn. Còn tôi, người viết bài này, tôi nghĩ đến tình yêu và mùa xuân.

Bản nhạc: GIẤC MỘNG ĐÊM HÈ
Tác giả: Felix Mendelssohn
Thể hiện: Dàn nhạc Boston Pops (chỉ huy: Seiji Ozawa)
Nghe tác phẩm: Overture Giấc mộng đêm hè (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Overture-AMidSummerNightDream.mp3); Wedding March (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/WeddingMarch-Medelssohn.mp3)

***
Bài viết kỉ niệm 200 năm ngày sinh Felix Mendelssohn: 3/2/1809 – 3/2/2009


Dù đang là những ngày đầu xuân nhưng tại các buổi offline nhạc cổ điển ở cả ba miền Bắc–Trung–Nam, các thành viên không chỉ lâng lâng với Bài ca mùa xuân (*) mà còn đắm chìm trong Giấc mộng đêm hè.

Bởi vì đó là các buổi offline kỉ niệm tròn 200 năm ngày sinh Felix Mendelssohn (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//3060/index.aspx)(1809 – 1847), nhà soạn nhạc mà Giấc mộng đêm hè là một trong những kiệt tác âm nhạc không thể không nhắc đến.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/mendelssohnf-malaspina-comok.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Felix Meldessohn
Nguồn: malaspina.com

Bộ nhạc nền cho vở kịch A Midsummer Night"s Dream (Giấc mộng đêm hè), Op. 61 của Mendelssohn được hoàn thành 16 năm sau khi ông viết bản Overture Giấc mộng đêm hè, Op. 21. Tính nhất quán trong phong cách và sự thống nhất về âm nhạc giữa chúng dễ làm người ta lầm tưởng rằng chúng được viết cùng một thời gian.

Bản Overture Giấc mộng đêm hè được soạn khi Mendelssohn còn là một chàng trai 17 tuổi với tài năng âm nhạc đáng kinh ngạc. Phần còn lại của nhạc nền cho vở kịch được soạn khi ông đã là một giám đốc âm nhạc tại Viện hàn lâm nghệ thuật của đức vua Phổ Friedrich Wilhelm IV và tại Dàn nhạc Leipzig Gewandhaus.

Giấc mộng đêm hè của William Shakespeare đã luôn là vở kịch mà Felix Mendelssohn và chị gái ông, Fanny Mendelssohn, vô cùng yêu thích. Vua Wilhelm IV đã ủy thác Mendelssohn soạn phần nhạc nền còn lại để dàn dựng vở kịch này năm 1842 tại Nhà hát Hoàng gia ở Berlin.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/Midsummer-Nights-Dream-art-com.jpeg

Đám yêu tinh nghịch ngợm trong vở kịch trứ danh
Giấc mộng đêm hè - Nguồn: art.com

Đây là một trong các hợp đồng viết nhạc cho sân khấu mà Mendelssohn nhận được khi ở vị trí giám đốc âm nhạc. Đạo diễn kịch là Ludwig Tieck, một trong những dịch giả tạo nên phiên bản tiếng Đức cuối cùng của vở kịch, cũng là phiên bản mà Mendelssohn đã thích thú nghiên cứu kỹ lưỡng như chính các dịch giả vậy.

Bộ nhạc nền cho vở kịch Giấc mộng đêm hè của Mendelsohn có tổng cộng 14 tiết mục thanh nhạc và khí nhạc, gồm cả bản overture trứ danh. Âm nhạc kết hợp giữa các hình thức truyền thống và cấu trúc âm nhạc thời Cổ điển với cảm xúc và cách biểu đạt của thời Lãng mạn. Trong mọi tiết mục, Mendelssohn đã rải rắc các chủ đề và motive được rút ra từ bản overture ban đầu nhằm tạo ra sự gắn kết.

Cùng với bản overture, các tiết mục khí nhạc khác như Scherzo, Intermezzo, Notturno và Wedding March (Hành khúc đám cưới) thường được trích ra để biểu diễn trong các chương trình hòa nhạc. Wedding March của Mendelssohn trở nên quen thuộc không kém gì Wedding March của Richard Wagner (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//1831/index.aspx) vì chúng thường được sử dụng trong các đám cưới trang trọng.

Wedding March của Mendelssohn được mở đầu bằng tiếng kèn trumpet rộn ràng, rất phù hợp với đám cưới chung của ba cặp tình nhân thành Athens trong vở kịch Giấc mộng đêm hè. Hai đoạn trio được tách biệt bằng chủ đề mở đầu; dàn dây và tiếng sáo flute líu lo ngụ ý vai trò mai mối của các tiên nữ ở đoạn kết câu chuyện.

Overture Giấc mộng đêm hè là một tác phẩm đặc biệt thú vị, đóng vai trò như điểm xuất phát cho sự nghiệp âm nhạc của Mendelssohn. Nó là tác phẩm đầu tiên thể hiện được cá tính và sự thuần thục trong khả năng sáng tạo của ông.

Bản overture chứa đựng tất cả các motive trong vở kịch: các bài ca và vũ điệu của các nàng tiên, sự rượt đuổi nhau của các tình nhân, vũ điệu của các anh hề, vẻ yêu kiều của Titania và sự tinh quái của Puck.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/Study_for_The_Quarrel_of_Oberon_and_Titaniaok.jpg http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/Joseph_Noel_Paton_-_The_Reconciliation_of_Titania_and_Oberonok.jpg

Bức tranh Cuộc tranh cãi của Titania và Oberon (trên) và
bức Sự hòa giải giữa Titania và Oberon (dưới)
Tác giả: Joseph Noel Paton - Nguồn: wikimedia.org

Overture Giấc mộng đêm hè dễ dàng dẫn người nghe vào một vương quốc thần tiên với tất cả vẻ đẹp thơ mộng, tao nhã, duyên dáng và nhẹ nhõm. Sự hòa trộn thanh tao giữa óc hài hước và trí tưởng tượng được chàng trai trẻ Felix Mendenssohn tạo ra bằng một bút pháp cứng cỏi và mạnh mẽ nhất.

Khi vở kịch Giấc mộng đêm hè của Shakespeare được dàn dựng tại Đức năm 1939, các quan chức văn hóa Phát xít đã loại ngay phần nhạc nền của Mendenssohn vì ông là người gốc Do Thái. Carl Orff là một trong những nhà soạn nhạc hưởng ứng lời kêu gọi viết một bộ nhạc nền khác cho vở kịch này.

Trong lịch sử sân khấu thế giới, một kiệt tác kịch nói có thể có nhiều bộ nhạc nền giá trị được soạn bởi các nhà soạn nhạc cổ điển khác nhau về dân tộc hay thời đại. Chẳng hạn như Gabriel Fauré (Pháp) và Jean Sibelius (Phần Lan) đều viết nhạc nền cho vở kịch đề tài tình yêu Pelléas và Mélisande của tác giả Bỉ viết tiếng Pháp Maurice Maeterlinck (giải Nobel Văn chương năm 1911).

Nhắc tới Giấc mộng đêm hè, người yêu sân khấu kịch nói nghĩ đến William Shakespeare, người yêu hội họa nghĩ đến Joseph Noel Paton, người yêu nhạc cổ điển nghĩ trước hết đến Felix Mendelssohn. Còn tôi, người viết bài này, tôi nghĩ đến tình yêu và mùa xuân.



Ngọc Anh (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5884/index.aspx)
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5998/index.aspx)


-----------------------------
Chú thích:

(*) Frühlingslied, tên tiếng Anh là "Spring Song", là tiểu phẩm số 6 trong tập “Bài ca không lời” số 5, Op. 62 viết cho piano của Mendelssohn.

Wal
18-02-2009, 11:51
Những khoảnh khắc âm nhạc diệu kỳ Thời gian dành cho mỗi đời người là hữu hạn, kể cả với những thiên tài âm nhạc. Nhưng những kiệt tác của họ sẽ còn tạo ra cho thính giả vô vàn khoảnh khắc diệu kỳ, nhất là trong nhịp sống gấp gáp của ngày hôm nay.

Bản nhạc: Allegro moderato và Allegro vivace
Trích Moments musicaux (Những khoảnh khắc âm nhạc), D. 780
Tác giả: Franz Schubert
Thể hiện: Emil Gilels
***

Tiểu phẩm số 3: Allegro moderato in F minor (http://tuanvietnam.net/Library/medias/N3Allegromoderato.mp3)

Bộ tác phẩm Moments musicaux (Những khoảnh khắc âm nhạc) D. 780 của nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert được xuất bản vào tháng 7 năm 1828 – năm cuối cùng của cuộc đời ông. Nó gồm tất cả 6 tiểu phẩm viết cho piano độc tấu:

1. Moderato in C major

2. Andantino in A-flat major

3. Allegro moderato in F minor

4. Moderato in C-sharp minor

5. Allegro vivace in F minor

6. Allegretto in A-flat major

Phần lớn tiểu phẩm trong Moments musicaux được Schubert soạn trong các năm 1827 và 1828. Ngoài ra, tiểu phẩm số 3 và số 6 được soạn từ trước đó trong các năm 1823 và 1824. Schubert viết các tiểu phẩm ở hình thức phân đoạn và nhiều tiếu phẩm là một kiểu vũ khúc nào đấy.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/schubert-malaspina-comok.jpg

Chân dung Franz Schubert - Nguồn: malaspina.com

Tiểu phẩm số 1, ở giọng Đô trưởng với tốc độ Moderato, là một khúc minuet hoàn toàn trừu tượng. Có nghĩa là giống như một điệu valse của Chopin sau này, âm nhạc của khúc minuet đó vượt quá mọi động tác khiêu vũ mà con người có thể thực hiện được.

Tiểu phẩm số 2, Andantino giọng La giáng trưởng, có hình thức một khúc rondo 5 đoạn nhẹ nhàng. Sau phần âm nhạc mở đầu lấp lánh với nhịp điệu điểm xuyết kiểu Sicily là một giai điệu trong trẻo được đệm bằng những hợp âm rải tay trái đều đặn.

Tiểu phẩm số 3, Allegro moderato giọng Fa thứ, được soạn vào năm 1823. Mang phong vị kiểu Đông Âu, nó được nhà xuất bản dán cái nhãn ban đầu là Air Russe (Giai điệu Nga).


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/moments-magnature-com.jpg

Lấy cảm hứng từ Moments Musicaux
của Schubert, nghệ sĩ Sergei Rachmaninov
cũng đã soạn ra bộ tác phẩm giá trị
Six Moments Musicaux -
Nguồn: magnature.com
Tiểu phẩm số 4, với tốc độ Moderato nhưng ở giọng Đô thăng thứ, gợi nhắc tới Bach. Đoạn trung tâm của nó trải ra ở điệu thức trưởng, nơi những gì liên quan đến điệu thức thứ tan biến đi trong một thế giới mộng mơ nhẹ nhõm của những nhịp lệch ken dày trong kết cấu.

Thuần chất Schubert hơn cả là tiểu phẩm số 5, Allegro vivace giọng Fa thứ. Đây là một tiểu phẩm mạnh mẽ với nhịp ngựa phi. Âm nhạc dễ dàng làm ta hình dung tới một con tuấn mã đang phi nước kiệu vòng quanh một sân khấu xiếc.

Tiểu phẩm cuối cùng trong bộ Moments musicaux cũng được viết ở giọng La giáng trưởng như khúc minuet đầu tiên nhưng có tốc độ Allegretto. Trong tiểu phẩm có thời lượng dài nhất này, Schubert làm thính giả ngỡ ngàng bằng các lối chuyển điệu thông minh và linh hoạt nhất.

Tiêu đề Moments musicaux (Những khoảnh khắc âm nhạc) không phải do tác giả đặt và có lẽ là không thích đáng. 6 tiểu phẩm đó không thực sự là những "khoảnh khắc" âm nhạc vì một nửa trong số chúng có thời lượng tới hơn 5 phút, thậm chí tiểu phẩm số 6 dài khoảng 7 phút.


Tiểu phẩm số 5: Allegro vivace in F minor (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/No5Allegro%20vivace.mp3)

Nếu coi cái tiêu đề gốc của nhà xuất bản là một tai ương về mặt ngữ nghĩa thì ý kiến cho rằng Schubert đã có thể đặt hoặc thậm chí thông qua tiêu đề này là hoàn toàn không thể tin được. Vào thời điểm xuất bản Moments musicaux, Schubert không có tâm trạng nào để tranh cãi về những vấn đề như vậy. Ông không chỉ đang rất túng quẫn mà còn đang phải chiến đấu giành giật sự sống của chính mình.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/schubert-klimt.jpg

Họa phẩm Schubert at the piano (Schubert bên chiếc dương cầm)
của danh họa Gustav Klimt - Nguồn: ggpht.com

Song sức khỏe của Schubert không hề được cải thiện và trái tim ông ngừng đập vào ngày 19 tháng 11 năm 1828. Trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, Schubert truyền đạt lại cho em trai mình là Ferdinand ý nguyện được chôn cất bên cạnh Ludwig van Beethoven tại nghĩa trang Währing.

Trong đám tang của Beethoven tại Vienna một năm trước đó, Schubert là một trong những người cầm đuốc đi sau thi hài thần tượng của mình. Tới năm 1888, di hài của cả Beethoven và Schubert cùng được chuyển về nghĩa trang Zentralfriedhof, nơi yên nghỉ của nhiều nhà soạn nhạc danh tiếng khác.

Lấy cảm hứng từ bộ Moments musicaux của Schubert, nhà soạn nhạc và nghệ sĩ dương cầm kiệt xuất người Nga Sergei Rachmaninov cũng soạn bộ tác phẩm giá trị Six Moments Musicaux (6 khoảnh khắc âm nhạc), Op. 16 vào khoảng tháng 10 và 12 năm 1896.

Thời gian dành cho mỗi đời người là hữu hạn, kể cả với những thiên tài âm nhạc. Nhưng những kiệt tác của họ sẽ còn tạo ra cho thính giả vô vàn khoảnh khắc diệu kỳ, nhất là trong nhịp sống gấp gáp của ngày hôm nay.


Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6035/index.aspx)

Charlotte Nguyen
19-02-2009, 00:08
Sao lại đăt tên là "Moment Musicaux" (Khoảnh khắc âm nhạc) ? Ý em là, nhạc sĩ hoàn toàn có thể dựa vào đặc thù về cấu trúc âm hình tiết tấu, giai điệu, tính chất, sắc thái etc. của bản nhạc để đặt tên theo các mảng sáng tác như vậy (VD như kiểu Rondo hay Nocturne hay Etude hay Galop gì đó). Thậm chí nếu "Moment Musicaux" có thể hiểu là sáng tác ngẫu hứng thì tác giả cũng có thể đặt theo mảng Impromptu hoặc "Tên mảng + a Capricio". Có phải Schubert là ng sáng tạo ra khái niệm "Moment Musicaux" ? Liệu ông có chủ ý gì không ?

Tiện có bài viết emthắc mắc xíu, mong mọi người muốn thảo luận :D

PS: bài được mấy tuần ròi anh Wal mới post :(

Wal
22-02-2009, 16:33
"Bông hoa nhỏ" từ cánh rừng Mozart

Thiếu nhi Việt Nam từ lâu đã biết tới một bông hoa nhỏ trong "cánh rừng Mozart". Đó bài hát Khát vọng mùa xuân mà nhạc sĩ Phạm Tuyên chuyển soạn lại từ lied Sehnsucht nach dem Frühlinge của Mozart với phần lời tiếng Việt và tiết tấu chậm hơn để các em thiếu nhi có thể hát được.

Ca khúc: Sehnsucht nach dem Frühlinge (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/KhatvongMuaXuan-Mozart.mp3), K. 596
Âm nhạc: Wolfgang Amadeus Mozart
Lời thơ: Christian Adolf Overbeck
Thể hiện: Elly Ameling (soprano) và Dalton Baldwin (piano)
***

Trong các nhánh của ca khúc nghệ thuật, thể loại lied (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/2556/index.aspx) gắn liền với âm giọng thực tế của ngôn ngữ Đức, thể loại mélodie (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/1078/index.aspx) gắn liền với âm giọng thực tế của ngôn ngữ Pháp. Các cường quốc nhạc cổ điển khác như Na Uy, Nga, Tây Ban Nha… cũng có một di sản đồ sộ ca khúc nghệ thuật.
Nhà soạn nhạc Pháp Maurice Ravel, tác giả của bản Boléro (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4007/index.aspx) nổi tiếng, ngoài mélodie hát bằng tiếng Pháp còn viết ca khúc nghệ thuật hát bằng các thứ tiếng Ý, Tây Ban Nha, Do Thái… dựa trên ca khúc dân gian của các dân tộc đó. Điều này mâu thuẫn trực tiếp với cách làm thông thường của thể loại mélodie nhưng đã làm tôn lên vẻ đẹp của cả hai thể loại.

Thời kỳ trước Ravel, bên cạnh các lied hát bằng tiếng Đức như Der Kuß (Nụ hôn) (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/5698/index.aspx), nhà soạn nhạc Đức Ludwig van Beethoven cũng viết hàng loạt ca khúc nghệ thuật hát bằng tiếng Anh dựa trên ca khúc dân gian của Scotland và Ireland.

Dù sống nhiều năm trên đất Pháp, một trong những cách thể hiện lòng yêu nước của nhà soạn nhạc Ba Lan Frédéric Chopin là chỉ sáng tác ca khúc nghệ thuật hát bằng tiếng Ba Lan dựa trên lời thơ của các nhà thơ Ba Lan ông yêu thích.

Ngược lại, Wolfgang Amadeus Mozart hứng thú phổ nhạc không chỉ thơ Đức mà cả thơ Ý và thơ Pháp. Ở thể loại thanh nhạc quy mô lớn như opera, ông soạn các vở có libretto bằng tiếng Đức như Die Zauberflöte (Cây sáo thần); Die Entführung aus dem Serail (Vụ trốn thoát ở hậu cung)… có libretto bằng tiếng Ý như Don Giovanni (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4908/index.aspx); Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro)…

Trong một cánh rừng rộng lớn là di sản âm nhạc đồ sộ mà Mozart để lại, ngoài nhiều cây đại thụ là các tác phẩm quy mô lớn (giao hưởng, opera…), còn có rất nhiều cây hoa nhỏ đủ loại hương sắc là các tiểu phẩm trong đó có ca khúc nghệ thuật.

Thiếu nhi Việt Nam từ lâu đã biết tới một bông hoa nhỏ trong cánh rừng này. Đó bài hát Khát vọng mùa xuân mà nhạc sĩ Phạm Tuyên chuyển soạn lại từ lied Sehnsucht nach dem Frühlinge của Mozart với phần lời tiếng Việt và tiết tấu chậm hơn để các em thiếu nhi có thể hát được.


Đến đây nào, tháng Năm thân yêu
Thơ: Christian Adolf Overbeck

Đến đây nào, tháng Năm thân yêu
Và làm cho cây xanh trở lại,
Và khiến những bông hoa tím nhỏ
Bên bờ suối bừng nở vì em!

Ôi em yêu thích biết bao nhiêu
Lại được ngắm hoa violet
Ôi chao, tháng Năm thân yêu hỡi,
Em vui sướng quá được dạo chơi!

Đúng là trong những ngày mùa đông
Cũng có nhiều niềm vui như thế:
Có thể phi nước kiệu trong tuyết
Còn buổi tối chơi rất nhiều trò;

Xây những nhà nhỏ bằng quân bài.
Chơi bịt mắt bắt dê và ẩn nấp;
Cũng có thể đi trượt băng nữa
Ở miền thôn dã thật đáng yêu.

Nhưng khi mà chim chóc hót vang
Và chúng em hân hoan vui sướng
Nhảy nhót trên thảm cỏ xanh biếc–
Thì lại là một chuyện khác rồi!

Chiếc gậy - ngựa của em bây giờ
Phải đứng ở trong góc kia thôi;
Vì nó không thể được dạo chơi
Bên ngoài vườn kẻo làm bẩn mất.

[Hầu như tất cả những phiền não
Của bạn Lottchen trĩu lòng em:
Bé gái tội nghiệp thật ủ ê
Đang đợi chờ hoa nở.](*1)

Em bày cho bạn - không kết quả
Những trò chơi để thời gian trôi,
Nhưng bạn ngồi trên bệ cửa sổ
Như mẹ gà trong ổ bé con.

Chao, giá mà thời tiết ấm lên
Và ngoài kia cây xanh hơn nữa!
Tháng Năm thân yêu ơi! hãy tới,
Chúng em – lũ trẻ cầu khẩn mà!

Ôi đến đây và mang theo về
Trước tiên là nhiều hoa violet!
Cũng mang nhiều chim sơn ca nữa
Cùng những con cu gáy xinh xinh!


Sehnsucht nach dem Frühlinge (Khát vọng mùa xuân), K. 596 hay còn gọi tên theo câu hát đầu tiên là Komm, lieber Mai, und mache (Đến đây nào, tháng Năm thân yêu) được Mozart viết cho một giọng hát và phần đệm piano. Lời ca là bài thơ cùng tên của Christian Adolf Overbeck.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/spring2ok.jpg

Nguồn: ldianejohnson.com

Nhà soạn nhạc Robert Schumann cũng phổ nhạc bài thơ này của Overbeck nhưng lựa chọn của ông là viết cho hai giọng hát và phần đệm piano. Tên lied của Schumann là Mailied (Bài ca tháng Năm). Đây là bài số 9 trong tập Liederalbum für die Jugend (Những khúc ca cho tuổi trẻ) gồm 29 lied xuất bản năm 1849 của Schumann. Liederalbum für die Jugend cũng chỉ là 1 trong số mấy chục tập ca khúc nghệ thuật của Schumann.

Dù không giữ lại sự đối âm tuyệt vời giữa bè giọng hát và bè piano trong lied gốc của Mozart nhưng phiên bản tiếng Việt Khát vọng mùa xuân của nhạc sỹ Phạm Tuyên đã chuyển dịch thành công tinh thần lời thơ của Overbeck. Ở châu Âu, tháng Năm là tháng của mùa xuân. Mong chờ tháng Năm cũng là mong chờ mùa xuân - niềm mong chờ không của riêng ai mà của toàn nhân loại.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/spring1.jpg


Nguồn: wallcoo.com

Với giai điệu đẹp và cảm xúc trong trẻo, Khát vọng mùa xuân - bông hoa nhỏ từ cánh rừng Mozart, đã trở thành bài hát yêu thích của nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam. Không ít người lớn cũng rất yêu thích bài hát này.

Xin cám ơn nhà thơ Overbeck! Xin cám ơn nhà soạn nhạc Mozart! Và xin cám ơn nhạc sĩ Phạm Tuyên vì từ "khát vọng mùa xuân" tôi đã tới thăm cánh rừng Mozart để rồi tới thăm nhiều cánh rừng mênh mông khác nữa.

Này mùa xuân ơi đến mau đây để cho thêm xanh lá cây rừng.
Trở về rừng bên suối trong lành nhìn hoa đang hé tưng bừng.



Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6175/index.aspx))
(http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6035/index.aspx)

Ghi chú (*1): Mozart loại đi khổ thơ này khi phổ nhạc.


Đôi điều về ca khúc nghệ thuật

Giống như hầu hết các cách phân loại tác phẩm trong âm nhạc cổ điển, rất khó có thể đưa ra một định nghĩa tuyệt đối chính xác về thể loại ca khúc nghệ thuật. Điều này không chỉ vì sự mờ nhạt của các quy tắc mà theo đó nhiều tác phẩm đương đại được viết ra, mà còn vì sự chồng chéo của nhạc pop, nhạc broadway và nhạc dân tộc dân gian.

Với những người yêu nhạc cổ điển, ca khúc nghệ thuật thường được hiểu là những tiểu phẩm âm nhạc do các nhà soạn nhạc cổ điển viết dựa trên lời thơ sẵn có, dành cho các giọng ca được đào tạo thanh nhạc cổ điển bài bản cùng phần đệm (thường là piano).

Trong suốt buổi biểu diễn ca khúc nghệ thuật tại thính phòng hòa nhạc, dù tác phẩm ban đầu được dự tính viết cho salon, khán giả ngồi yên lặng, không hút thuốc, không ăn uống. Ca sĩ hiếm khi là nhà soạn nhạc của chính ca khúc nghệ thuật mình thể hiện. Ánh sáng hiếm khi thay đổi trong buổi biểu diễn và không có đòi hỏi gì đặc biệt về bối cảnh, trang trí sân khấu hay phục trang.

Wal
28-02-2009, 10:00
Giai thoại về Paganini và biến tấu vô song trên dây Sol

Lời đồn thổi rằng Paganini từng ở tù với cây đàn violon chỉ còn một dây duy nhất (dây Sol) có thể đúng hoặc sai. Nhưng rõ ràng rằng nhờ những bài luyện tập mà một trong số đó là chơi đàn chỉ trên dây Sol mà Paganini có thể đạt tới trình độ diễn tấu chuẩn xác vô song ở thời mình. Bản nhạc: BIẾN TẤU TRÊN DÂY SOL

Tác giả: Niccolò Paganini
*****
(http://tuanvietnam.net/Library/medias/Paganini-Sol1.mp3)
Thể hiện: Salvatore Accacdo (violin) và
Dàn nhạc thính phòng châu Âu
(chỉ huy: Franco Tamponi) (http://tuanvietnam.net/Library/medias/Paganini-Sol1.mp3)

Người ta kể lại rằng, trong một buổi biểu diễn độc tấu, 3 trong số 4 dây đàn trên cây violon của Paganini bỗng lần lượt bị đứt. Đầu tiên là dây Mi, rồi đến dây La và cuối cùng là dây Rê. Không chịu bỏ cuộc hay thậm chí là tạm ngừng để thay dây đàn, Paganini đã chơi ngẫu hứng ngay trên dây đàn duy nhất còn lại – dây Sol.

Đây có thể là sự thật hoặc chỉ là một trong những câu chuyện tưởng tượng kỳ khôi về nhà soạn nhạc và danh cầm huyền thoại người Ý Niccolò Paganini (1782 – 1840). Tuy nhiên, đúng là Paganini có sáng tác một bản nhạc chỉ dành cho dây Sol với những thách thức lớn trong kỹ thuật chơi khiến các nghệ sĩ violon e ngại để đảm bảo rằng tác phẩm sẽ hiếm khi được biểu diễn.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/niccolo-wiki.jpg

Chân dung Niccolò Paganini - Nguồn: wikipedia.org

Tên đầy đủ của Biến tấu trên dây Sol là Introduction and Variations on ‘Dal tuo stellato soglio" from Rossini"s "Mosè in Egitto". Nó có nghĩa là: Khúc mở đầu và các biến tấu trên aria "Lời nguyện cầu” rút từ vở opera Mosè ở Ai Cập của Rossini.

Vở opera 3 màn Mosè in Egitto (Mosè ở Ai Cập) của Gioacchino Rossini được công diễn lần đầu vào năm 1818 và đã gây tiếng vang trên toàn châu Âu. Nó còn có phiên bản tiếng Pháp với tên gọi Moïse et Pharaon, ou Le passage de la Mer Rouge (Mosè và Pharaon, hay Cuộc băng qua biển Đỏ) và phiên bản tiếng Do Thái.

Trong thời gian Rossini sống tại Paris, một trong những người đồng hương thường xuyên viếng thăm nhà ông là Niccolò Paganini. Paganini rất hâm mộ opera của Rossini. Ngoài Biến tấu trên dây Sol nói trên, ông còn viết biến tấu trên chủ đề từ các vở opera khác của Rossini như Cenerentola và Tancredi.

Lời đồn thổi rằng Paganini từng ở tù với cây đàn violon chỉ còn một dây duy nhất (dây Sol) có thể đúng hoặc sai. Nhưng rõ ràng rằng nhờ những bài luyện tập mà một trong số đó là chơi đàn chỉ trên dây Sol mà Paganini có thể đạt tới trình độ diễn tấu chuẩn xác vô song ở thời mình.

Việc hạn chế chỉ chơi trên dây Sol làm cho ngay cả các nốt cao cũng có màu sắc tối. Điều này có thể khiến các thính giả không tinh tường lầm tưởng rằng họ đang nghe âm nhạc phát ra từ một cây đàn viola.

Sau đoạn Introduction không mấy đáng kể mà nghệ sĩ solo thường tự ý cắt bỏ, chủ đề giai điệu aria được trình bày dịu dàng. Phần âm nhạc tiếp theo ở giọng thứ mang đậm tính trữ tình, điển hình của opera bel canto - thể loại gợi nhiều cảm hứng cho Paganini, đặc biệt là trong các chương chậm.

Sau khoảng 1 phần 3 thời lượng, nghệ sĩ solo phải sẵn sàng cho một vài biến tấu hóm hỉnh và làm thính giả mê mẩn. Biến tấu đầu tiên vui nhộn với những tiết nhạc bằng kỹ thuật mổ ngón liên tục. Biến tấu tiếp theo dựa vào những nét lướt bay bổng, đoạn sau nhanh hơn đoạn đầu.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/02/paganini-italianalmanac-org.jpg

Tuy được coi là "vua của violin" nhưng Paganini lại thể hiện một
lòng yêu chuộng nồng nhiệt với cây đàn guitar
Nguồn: italianalmanach.org

Biến tấu tiếp theo nữa là một vũ khúc nhỏ, sôi động và đòi hỏi các nốt cao nhất có thể chơi được trên dây Sol. Sau đó là một đoạn lặp lại ở tốc độ nhanh hơn với cách thức xử lý kỹ thuật tương tự.

Ngoài phiên bản cho violon và dàn nhạc, Biến tấu trên dây Sol còn có phiên bản cho violon và guitar. Cây đàn guitar cũng là một nhạc cụ cực kỳ yêu thích của Paganini và ông dành cho nó khá nhiều sáng tác.

Paganini viết: "Người ta gọi tôi là "vua của violon" nhưng guitar lại là hoàng hậu của tôi. Khi tôi soạn nhạc, tôi luôn dẹp cây violon ra bên cạnh vì đàn guitar gợi lên nhiều tưởng tượng hơn."

Bởi thế, lời phàn nàn rằng phần đệm dàn nhạc hoặc piano trong các tác phẩm của Paganini "quá mang tính guitar" mà thiếu mất đặc trưng phức điệu không phải là không có lý.

Wal
01-03-2009, 21:57
Boléro - "Cỗ máy tinh xảo để đời" của Maurice Ravel

Boléro là một kiểu vũ khúc Tây Ban Nha sôi nổi ở nhịp 3/4, thường được đệm bằng castanet (một loại nhạc cụ gõ cầm tay có thể vừa chơi vừa nhảy múa) và đôi khi bằng tiếng hát. Thế nhưng miêu tả này không thật phù hợp với tác phẩm Boléro (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/Bolero.wma) lừng danh của nhà soạn nhạc Pháp Maurice Ravel (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Author&op=Detail&catid=73) (1875 – 1937).

Với các nhà sử học âm nhạc và các sách kỉ lục, Boléro nổi tiếng vì bản nhạc chứa đựng crescendo độc nhất được duy trì liên tục lâu nhất so với bất cứ tác phẩm nào trong vốn tiết mục cho dàn nhạc (crescendo là ký hiệu chỉ dẫn cách chơi tăng dần âm lượng cho các nhạc công). Vì một nhà phê bình về sau đã viết : “Boléro đi chệch khỏi truyền thống cả ngàn năm.”

Với những người sưu tập giai thoại, Boléro nổi tiếng vì từng được chính tác giả gán cho cái tên “tiểu khúc cho dàn nhạc mà không có âm nhạc” một cách hài hước. Vì trong buổi công diễn đầu tiên của Boléro, một người phụ nữ trong đám khán thính giả đã thét lên : “Ông ấy điên rồi...ông ấy điên rồi!”. Vì khi được thuật lại chuyện này, Ravel đã mỉm cười mà rằng : “Bà ấy hiểu tác phẩm đấy”.

Với các nhạc công và người yêu nhạc, Boléro nổi tiếng vì trong suốt thời lượng khoảng 15 phút của tác phẩm, họ có thể chơi hoặc nghe nhiều đoạn lặp lại nhất. Vì đây là một tác phẩm 15 phút được soạn cho dàn nhạc một cách trau chuốt, kĩ lưỡng nhất.

Chắc chắn là khi bắt tay vào soạn Boléro, Ravel chẳng thể tưởng tượng được rằng nó sẽ trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng, gắn liền với tên tuổi của mình đến thế. Ban đầu, theo hợp đồng với nữ diễn viên ballet Nga Ida Rubinstein, Ravel chỉ định chuyển soạn cho dàn nhạc 6 tiểu khúc piano trong tổ khúc Iberia của Isaac Albéniz để làm nhạc nền ballet.

Nhưng do gặp trở ngại về bản quyền chuyển soạn, Ravel đã ứng phó bằng cách soạn tiểu khúc ballet Boléro như một bài tập kỹ thuật sáng tác. Chỉ từ một ý tưởng giai điệu duy nhất, ông đã phát triển Boléro thành một tác phẩm trọn vẹn cho dàn nhạc.

Trong buổi công diễn đầu tiên tại nhà hát Opera Paris ngày 22/11/1928, Boléro đã khiến khán thính giả choáng váng. Ida Rubinstein vào vai một vũ nữ flamenco nhảy múa trên một chiếc bàn dài trong một quán rượu Tây Ban Nha. Vây quanh cô là những người đàn ông mà niềm ngưỡng mộ đã trở thành nỗi ám ảnh dục vọng.

Trước đó Ravel không hoàn toàn tán thành ý tưởng dàn dựng này. Khi soạn nhạc, ông mang ý niệm rằng đó sẽ là một cảnh ngoài trời, trước một nhà máy và tiếng máy móc chạy sẽ tạo ra một nhịp điệu cố định. Những công nhân tham gia vào vũ điệu trong khi diễn ra câu chuyện về một dũng sĩ đấu bò bị đối thủ ghen ghét sát hại. Ý tưởng này của Ravel chỉ được thực hiện sau khi ông qua đời.

Mặc dù thành công ngay lập tức khi làm nhạc nền cho ballet, nhưng thời hoàng kim của bản nhạc Boléro chỉ thực sự bắt đầu sau khi hợp đồng độc quyền sử dụng với Ida Rubinstein hết hạn và những buổi hòa nhạc có trình tấu Boléro được tổ chức.

Trên nền tiếng trống gõ theo nhịp boléro và tiếng bật pizzicato của dàn dây, một sáo flute bắt đầu trình bày giai điệu chủ đề sẽ chiếm ưu thế trong toàn bộ tác phẩm. Một kèn clarinet lặp lại chủ đề rồi một bassoon trình bày tiếp phần phát triển uể oải và ảm đạm. Rồi giọng dịu dàng của kèn oboe d’amore nổi lên dẫn dắt giai điệu.

Tiếp theo đó, một số nhạc cụ đồng thời chơi giai điệu ở những giọng khác nhau. Dần dần, có nhiều nhạc cụ tham gia hơn và kèn trombone gây ấn tượng với kĩ thuật glissando (vuốt âm) kiểu nhạc jazz.

Âm lượng của các nhạc cụ tiếp tục lớn hơn, huyên náo hơn. Đến gần cuối tác phẩm, sự thay đổi đột ngột của điệu thức từ Đô trưởng sang Mi trưởng phá vỡ tính ổn định của dòng nhạc. Tiếng chiêng và cymbal rền vang tạo cho tác phẩm một kết thúc chói tai, kịch tính.

Trong Boléro, Ravel đã xử lý dàn nhạc như một cỗ máy. Tác phẩm hòa nhạc này như một mẫu hình tinh vi những bánh răng và trục quay ăn khớp để cùng tạo ra một tổng thể. Boléro là một lời tiết lộ hùng hồn về sức mạnh của âm nhạc vượt trên những giới hạn xúc cảm của chúng ta.

Nguồn: Trang chủ

Wal
07-03-2009, 14:00
Món quà ngày 8/3 :D
"Hôm nay mùng 7 tháng 3
Ngày mai mùng 8..." :-"

Người phụ nữ Anh hùng của Chopin

Nếu nói đến người có ảnh hưởng nhiều nhất với cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ trên cây đàn piano Frédéric Chopin, thì đó không phải là người yêu đầu tiên hay người ông từng đính hôn, mà phải là nữ văn sỹ Pháp George Sand.

Bản nhạc: Pololaise No. 6 giọng La giáng trưởng, Op. 53 (Anh hùng) (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/PolonaiseAnhHung-Chopin.mp3)
Tác giả: Frédéric Chopin
Thể hiện: Martha Argerich
***

Vũ khúc polonaise xuất hiện trong sáng tác của nhiều nhà soạn nhạc như Couperin, Handel, Bach, Beethoven, Schubert, Glinca, Tchaikovsky... Nhưng nói tới polonaise, một vũ khúc bắt nguồn từ đất nước Ba Lan, ta không thể không kể đến những nhà soạn nhạc người Ba Lan như Michał Kleofas Ogiński, Frédéric Chopin hay Henryk Wieniawski.

Michał Kleofas Ogiński (1765 – 1833) viết rất nhiều polonaise mà trong đó nổi tiếng nhất là Polonaise giọng La thứ Op. 13. Những tác phẩm này gây không ít ảnh hưởng lên sáng tác thời kỳ đầu của người đồng hương Frédéric Chopin (1810 – 1849).

Những polonaise thời kỳ cuối của Chopin đã phát triển lên một phong cách trang nghiêm. Một trong số đó là Polonaise No. 6 giọng La giáng trưởng, Op. 53 mang biệt danh Anh hùng.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/chopinsand-chopinmonumentinchicago-comok.jpg
Một bức tranh về George Sand và Chopin
Nguồn: chopinmonumentinchicago.com

Sau phần introduction kịch tính kéo dài khoảng 30 giây, nơi âm nhạc ngay lập tức khiến thính giả thêm trông đợi, chủ đề chính của bản pololaise được trình bày. Chủ đề này là một sáng tạo đầy thách thức và mang tính anh hùng ca. Sau những nốt đầu tiên lặp lại một cách mạnh mẽ là những hợp âm hân hoan mà nghệ sĩ piano thường rải bằng cách trải rộng gang bàn tay.

Giai điệu được biến đổi lần thứ hai, trở nên thuận tai hơn với những hợp âm đi xuống nhưng không hề mang dấu hiệu nào của sự thất bại hay phục tùng. Âm nhạc vẫn mang tính lạc quan và truyền cho thính giả cảm xúc hân hoan thắng lợi ngay cả trong chủ đề thứ hai ngắn gọn và mang tính thách thức.

Ở đoạn giữa của tác phẩm, sau một loạt những nốt lặp lại của chủ đề chính, âm nhạc được đẩy tới bằng những hợp âm huy hoàng hơn nữa.

Một đoạn trữ tình êm dịu mang tính huyền bí được tiếp nối sau đó, rồi chủ đề chính quay trở lại. Tác phẩm kết thúc bằng một phần tái hiện chủ đề đầy màu sắc và mê say.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/sand-chopin-lemonde-fr.jpg
Polonaise Anh hùng được viết vào thời kỳ hạnh phúc của Chopin,
khi tình yêu của ông với văn sĩ George Sand đang vào hồi rực rỡ...
Nguồn: lemonde.fr

Lúc sinh thời, Chopin từng than phiền với một học trò rằng ông cảm thấy không vui khi có lần nghe tác phẩm này được chơi quá nhanh vì nó phá hỏng toàn bộ vẻ huy hoàng và uy nghi của nguồn cảm hứng cao quý đó.

Tính chất lạc quan và oai hùng của Polonaise No. 6 giọng La giáng trưởng Anh hùng khá giống với Polonaise giọng La trưởng Quân đội Op. 40, No. 1 - tác phẩm mà Anton Rubinstein nhận xét là biểu tượng cho niềm vinh quang của Ba Lan (trong khi Polonaise giọng Đô thứ, Op. 40, No. 2 là biểu tượng cho bi kịch của Ba Lan). Tuy nhiên về mặt âm nhạc, Polonaise Quân đội gần với truyền thống polonaise hơn nhiều so với Polonaise Anh hùng.

Polonaise No. 6 giọng La giáng trưởng được viết năm 1843 trong một thời kỳ hạnh phúc của cuộc đời Chopin: tình yêu của ông với nữ văn sĩ Pháp George Sand đang vào hồi rực rỡ và căn bệnh lao khó lường đã suýt giết ông vào đầu năm 1839 tạm thời đang lắng dịu nhất.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/GeorgeSand-adelaide-edu-au.jpg
Chính George Sand mới đích thực là "anh hùng", người ảnh hưởng
nhất trong cuộc đời và sự nghiệp của nhà soạn nhạc tài danh Chopin
Nguồn: adelaide.edu.au

Nếu phải chọn ra một người phụ nữ có ảnh hưởng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp của Chopin thì sẽ không phải là Marie Wodzinska (người mà Chopin từng đính hôn và đề tặng Valse No. 9 Lời từ biệt (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/4423/index.aspx)) hay Konstancja (người mà tình yêu đầu đời của Chopin dành cho cô được thể hiện trong chương chậm của Concerto giọng Fa thứ). Người đó phải là George Sand.

Nữ văn sĩ tài năng của nước Pháp George Sand (1804 – 1876) tên thật là Amandine Aurore Lucile Dupin. Bà có một cuộc đời hết sức mãnh liệt và đầy sáng tạo. Hai người tình nổi tiếng nhất của bà là nhà thơ Pháp Alfred de Musset và Frédéric Chopin.

Mặc dù Chopin không có tác phẩm nào đề tặng George Sand nhưng 10 năm chung sống với George Sand chính là giai đoạn mà Chopin đạt tới đỉnh cao của sáng tạo với nhiều kiệt tác như hai Ballade No.3 và No.4 (1841 - 1842); hai Nocturne Op.48 (1841 – 1842), ba Polonaise Op.44, Op.53 và Op 61 (1840 – 1846), Scherzo Op.54 (1843 – 1844), Fantasia giọng Fa thứ Op.49 (1841) và Berceuse Op.57 (1843)…

Có thể coi George Sand như là biểu tượng cho chương "anh hùng" trong sự nghiệp sáng tạo của Frédéric Chopin - nhà thơ của cây đàn dương cầm.



Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6306/index.aspx))

Wal
24-03-2009, 12:51
"Tụng ca niềm vui": Sứ mệnh nâng đỡ tinh thần nhân loại
Giao hưởng số 9 được các nhạc công kết thúc trong tiếng vỗ tay vang dội của khán thính giả khi mà Beethoven vẫn đang chỉ huy một vài ô nhịp nữa trong tổng phổ. Vì thế ca sĩ giọng nữ trầm Caroline Unger phải bước tới bên Beethoven và xoay người ông lại để ông có thể nhìn thấy khán thính giả đang tung hô mình. Công chúng thành Vienna đã đón nhận vị anh hùng với lòng tôn kính và cảm phục sâu sắc nhất.

Tác phẩm: TỤNG CA NIỀM VUI (Ode To Joy)
Trích từ Giao hưởng No. 9
Âm nhạc: Ludwig van Beethoven
Lời thơ: Friedrich von Schiller
Thể hiện: James Morris (giọng bass), Hợp xướng Westminster và Dàn nhạc Philadelphia
(Chỉ huy: Riccardo Muti)
***

Vào ngày 7/5/1824, Ludwig van Beethoven đã nếm trải thắng lợi chắc chắn là vang dội nhất của mình trước công chúng. Khán thính giả nhà hát Kärntnertor tại Vienna không chỉ được nghe Overture Die Weihe des Hauses Op. 124 và 3 phần của Missa Solemnis Op. 123 mà đây còn là buổi công diễn lần đầu bản giao hưởng hợp xướng bất hủ của Beethoven.

Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ, Op. 125 bắt nguồn từ hai tác phẩm riêng biệt - một bản giao hưởng với chương kết có hợp xướng và một tác phẩm khí nhạc thuần túy giọng Rê thứ. Beethoven đã làm việc với chúng trong gần 10 năm trước khi quyết định kết hợp hai ý tưởng lại thành một bản giao hưởng với lời thơ An die Freude (Tụng ca niềm vui) của Schiller như là chương kết.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/Beethovenok.jpg

Với Giao hưởng số 9, Beethoven đã nếm trải thắng lợi chắc chắn
là vang dội nhất trước công chúng vào ngày 7/5/1924
Nguồn: wikimedia.org

Đây là một tác phẩm quy mô và có tầm nhìn xa trông rộng, là biểu trưng cho tột đỉnh của độ khó kỹ thuật vào thời đó. Tác phẩm có các đoạn, nhất là đoạn solo kèn co trong chương chậm, dường như không thể chơi được trên các nhạc cụ đồng không có van truyền thống vào thời của Beethoven.

Nhà âm nhạc học Dennis Matthews nhận xét về Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ của Beethoven: "Như với các tác phẩm thời kỳ cuối, có các chỗ mà không gian phải rung lên dưới sức nặng của tư tưởng và tình cảm, nơi mà nhà soạn nhạc khiếm thính dường như chiến đấu chống lại hoặc vươn ra ngoài các giới hạn của nhạc cụ và giọng ca."

Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ cũng là hiện thân của tính nhị nguyên trong âm nhạc đã trở thành cuộc xung đột ở thế kỉ XIX giữa chủ nghĩa Cổ điển và chủ nghĩa Lãng mạn, giữa cái cũ và cái mới. Các phong cách hoàn toàn khác nhau, như phong cách của Brahms và của Liszt, đều tìm thấy các tiền lệ của chúng trong tác phẩm này.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/odetojoy-gprops-tvok.jpg

Nguồn: gprops.tv

Ba chương đầu của tác phẩm rõ ràng vẫn còn cắm rễ vào thế kỉ XVIII trong khi chương thứ tư – hân hoan và thấm nhuần ý nghĩa thi ca - dường như đập tan khuôn vàng thước ngọc của chủ nghĩa Cổ điển, đưa toàn bộ tác phẩm vào trong lãnh địa của âm nhạc chương trình, một khái niệm được xác nhận của chủ nghĩa Lãng mạn thế kỉ XIX.

Chẳng thế mà trong cuộc luận chiến âm nhạc thế kỉ XIX giữa phe ủng hộ âm nhạc chương trình và phe ủng hộ âm nhạc tuyệt đối (còn gọi là âm nhạc thuần túy), chương hợp xướng trong Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ của Beethoven được cả hai phe đem ra làm bằng chứng cho luận cứ của mình.

Những nhà chủ nghĩa hình thức cự tuyệt các thể loại như opera, ca khúc nghệ thuật, thơ giao hưởng vì chúng bộc lộ ý nghĩa rõ ràng. Với họ, chương nhạc này cũng như Giao hưởng số 6 của Beethoven là "có vấn đề" mặc dù họ vẫn coi Beethoven là một trong những nhà tiên phong của âm nhạc thuần túy (đặc biệt là với các bản tứ tấu đàn dây thời kỳ cuối).

Còn ở phe ủng hộ âm nhạc chương trình, Richard Wagner coi chương hợp xướng trong bản Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ của Beethoven là một minh chứng cho thấy âm nhạc sẽ hay hơn nếu có lời ca bằng câu nói nổi tiếng: "Nơi âm nhạc không thể đi xa hơn nữa, thì lời ca sẽ tới… Lời ca đứng cao hơn tiếng nhạc."

Bài thơ An die Freude, được thi hào Đức Friedrich von Schiller viết năm 1785, ngợi ca lý tưởng hòa hợp và tình huynh đề của toàn nhân loại. Một số nhà soạn nhạc đã phổ nhạc bài thơ này trong đó có Franz Schubert (soạn năm 1815, xuất bản năm 1829). Beethoven cũng đã ấp ủ dự định phổ nhạc bài thơ này trong nhiều năm.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/odetojoy-claireednahurrey-comok.jpg

Đã gần 200 năm đã trôi qua, nhưng Giao hưởng số 9 cũng như nhiều kiệt tác
khác của Beethoven vẫn tiếp tục sứ mệnh nâng đỡ tinh thần nhân loại...
Nguồn: claireednahurrey.com

Khi sáng tác chương IV của Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ Beethoven đã phải trăn trở rất nhiều để tìm cách bắt vào phần mở đầu đoạn tụng ca của Schiller. Ông viết đi viết lại đoạn đó nhiều lần cho đến khi nó thành hình dáng như chúng ta nghe thấy ngày hôm nay.

Người ta kể lại rằng mặc dù người chỉ huy chính thức của buổi hòa nhạc lịch sử ngày 7/5/1824 là Michael Umlauf – giám đốc âm nhạc của nhà hát Kärntnertor - nhưng Beethoven đã cùng chỉ huy với Umlauf. Do chứng kiến Beethoven thất bại trong việc chỉ huy buổi tổng duyệt vở opera Fidelio hai năm về trước nên ở buổi này Umlauf đã chỉ thị cho các nhạc công và ca sĩ lờ đi "sự chỉ huy" của nhà soạn nhạc đã hoàn toàn khiếm thính.

Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ được các nhạc công kết thúc trong tiếng vỗ tay vang dội của khán thính giả khi mà Beethoven vẫn đang chỉ huy một vài ô nhịp nữa trong tổng phổ. Vì thế ca sĩ giọng nữ trầm Caroline Unger phải bước tới bên Beethoven và xoay người ông lại để ông có thể nhìn thấy khán thính giả đang tung hô mình. Công chúng thành Vienna đã đón nhận vị anh hùng với lòng tôn kính và cảm phục sâu sắc nhất.

Ngày nay, Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ cũng như rất nhiều kiệt tác khác của Beethoven vẫn đang tiếp tục sứ mệnh nâng đỡ tinh thần nhân loại.


Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6442/index.aspx)




Tụng ca niềm vui

Thơ: Friedrich von Schiller

*****

Anh em ơi hãy ngừng than thở!

Hãy cất tiếng ca hòa chung vui mừng thành kính lên trời!

Anh em ơi! Anh em ơi! (*)

Niềm vui, niềm vui, nữ thần miền cực lạc,

Ánh chớp sáng ở cửa thiên đàng,

Ta say sưa bước vào điện thánh huy hoàng

Là nơi chốn quyến rũ mê hồn,

Khi những lề thói vô bổ chẳng còn tồn tại,

Người với người là anh em bè bạn (*)

Để đôi cánh niềm vui dẫn lối chỉ đường.

Nếu tình bằng hữu tràn ngập tâm hồn,

Nếu bạn có người vợ yêu thương, chung thủy,

Hay bạn yêu một người thôi dù ngắn ngủi,

Hãy tới đây cùng hát tụng ca!

Còn ai chẳng hề yêu, đang than khóc hãy tránh xa!

Uống đi này niềm vui từ quả, hoa

Quà thiên nhiên phần cho tất cả

Đắng chát và thơm thảo;

Thiên nhiên tặng những bạn hữu trung thành

Những nụ hôn bỏng cháy, những trái nho ngon lành

Ngay cả những con sâu cũng thú,

Và thiên sứ nơi thiêng liêng canh giữ!

Như nắng vàng rực rỡ ở không trung,

Bay theo đường ta anh em ơi

Qua bầu trời huy hoàng, vui sướng;

Như những anh hùng đi chiến đấu

Để dành lấy vinh quang.

Triệu triệu anh em hãy siết chặt vòng tay!

Nụ hôn này dành cho tất cả!

Anh em ơi, hẳn trên trời thăm thẳm

Ngự trị một người cha nhân từ.

Anh em ta có cúi lạy Người?

Đấng sáng tạo mình, thế gian có biết?

Vậy nơi thiên đàng trên những vì tinh tú

Ta hãy kiếm tìm Người!

*****

Chú thích (*): các câu in nghiêng là do Beethoven viết thêm vào.

Wal
28-03-2009, 09:43
Gã say ngày xuân
Gã say ngày xuân (nguyên tác thơ Lý Bạch) chủ yếu mang tính hài hước ở việc gợi lên cảnh thiên nhiên và sự quay cuồng say sưa của một gã trẻ tuổi. Tại đây, Mahler đã sử dụng một loạt hiệu ứng hòa âm và dàn nhạc lạ lùng.

Lied: GÃ SAY NGÀY XUÂN
Trích giao hưởng-ca khúc "Bài ca trái đất"
Âm nhạc: Gustav Mahler
Lời thơ: Lý Bạch
Thể hiện: Peter Schreier (tenor) và Dàn nhạc giao hưởng đài phát thanh Frankfurt
(chỉ huy: Eliahu Inbal)
***

Gustav Mahler (1880 – 1911) là nhà tư tưởng lớn cuối cùng của âm nhạc hậu Lãng mạn, một nhân vật kỳ lạ cả ở khía cạnh con người lẫn khía cạnh nghệ sĩ. Sinh thời, Mahler được hoan nghênh khắp mọi nơi trên cương vị nhạc trưởng nhưng tài năng của ông trong lĩnh vực sáng tác chưa được công nhận đầy đủ.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/mahler-wordpress-com.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Gustav Mahler - Nguồn: wordpress.com

Ngày nay Mahler, người đã sáng tác ra những bản giao hưởng đồ sộ và lạ kỳ, ở trong số những tác giả giao hưởng được ghi âm nhiều nhất. Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam đã lên kế hoạch công diễn kiệt tác đồ sộ nhất của Mahler – Giao hưởng Một Ngàn đúng dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Kế hoạch này nằm trong khuôn khổ dự án Mahler cyrcle (Chùm tác phẩm của Mahler) được triển khai từ năm 2007 đến năm 2011, kỉ niệm 100 năm ngày mất của Mahler.

Tài năng sáng tác nổi bật của Mahler chỉ tập trung ở hai thể loại là lied (ca khúc nghệ thuật Đức) và giao hưởng. Việc ông thường xuyên kết hợp các yếu tố thanh nhạc vào sáng tác giao hưởng đã đem lại thành quả trọn vẹn cho một quá trình bắt đầu từ bản Giao hưởng No. 9 của Beethoven, minh chứng rằng âm nhạc của ông có cội rễ chắc chắn nằm trong truyền thống giao hưởng Đức.

Trong Das Lied von der Erde (Bài ca trái đất), Mahler đã hòa trộn hai hình thức sở trường thành một bản giao hưởng–ca khúc lớn, mặc dù bề ngoài nó có vẻ như một bộ 6 ca khúc với phần đệm của dàn nhạc. Tác phẩm này thực chất chính là bản giao hưởng thứ 9 của Mahler, được viết tiếp sau Giao hưởng No. 8 hay còn gọi là Giao hưởng Một Ngàn.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/mahler-booksite-com.jpg

Cover của một tập Bài ca trái đất (Gustav Mahler)
với minh họa mang đậm phong cách Đông phương
Nguồn: booksite.com

Mahler là một người rất mê tín. Sau khi đã viết được 8 bản giao hưởng, ông rất e sợ vì tiếp theo sẽ là bản thứ 9. Ông thấy rằng trong số những người tiền bối nổi tiếng của mình, Beethoven không vượt qua được con số này và Bruckner cũng vậy. Nỗi e sợ của Mahler càng tồi tệ hơn khi ông khám phá ra rằng hai tác giả giao hưởng lớn khác là Schubert và Dvorak cũng là nạn nhân của cùng một giới hạn (9 bản giao hưởng) mà việc xuất bản lộn xộn vào thời kỳ đó đã bỏ sót một số tác phẩm của họ và che giấu sự thật này.

Để xoa dịu nỗi e sợ của mình, ông không đánh số bản giao hưởng tiếp theo mà gọi Bài ca trái đất là "Một bản giao hưởng cho Tenor, Alto (hoặc Baritone) và dàn nhạc." Tuy nhiên có vẻ như định mênh không dễ bị đánh lừa. Nghĩ rằng nguy hiểm đã qua, Mahler lại tiếp tục đánh số bản giao hưởng tiếp sau Bài ca trái đất là Symphony No. 9 và qua đời khi đang soạn Giao hưởng No. 10.

Bài ca trái đất tiêu biểu cho sự tinh tế và cô đọng của phương tiện và cách biểu hiện trong Giao hưởng Một Ngàn. Đây là một tổng thể giao hưởng hợp nhất vì 6 ca khúc được tổ chức thành 4 phần tương tự như các chương giao hưởng. Ngôn ngữ hòa âm và diễn cảm của Mahler mạnh mẽ đến mức ông có thể tạo ra một hiệu quả lũy tiến hợp nhất những ca khúc này thành một thực thể ngữ nghĩa và nghệ thuật độc đáo.

Lời ca của Bài ca trái đất được rút từ tập thơ dịch Die chinesische Flöte (Cây sáo Trung Hoa) của Hans Bethge, xuất bản vào mùa thu năm 1907. Hans Bethge dịch các bài thơ Trung Hoa cổ này từ bản dịch tiếng Pháp của Marquis D"Hervey-Saint-Denys. Trong Bài ca trái đất, Mahler sử dụng bản dịch tiếng Đức 7 bài Đường thi của Lý Bạch, Trương Kế, Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/03/mahler-out.jpg

Gã say ngày xuân của Mahler sử dụng lời thơ Lý Bạch, gợi lên cảnh thiên nhiên
và sự quay cuồng say sưa của một gã trẻ tuổi - Nguồn: cathay.ce.cn

Chương skerzo của cấu trúc giao hưởng trong Bài ca trái đất chính là chùm 3 ca khúc (số 3, 4 và 5) với lời thơ của Lý Bạch: Von der Jugend (Tuổi thanh xuân); Von der Schönheit (Về mỹ nhân); Der Trunkene im Frühling (Gã say ngày xuân). Cả 3 ca khúc đều ngắn, giọng điệu sáng sủa hơn 2 ca khúc đầu và mang tâm trạng luyến tiếc quá khứ.

Mặc dù có một đoạn trung tâm đầy khao khát nhưng Der Trunkene im Frühling (Gã say ngày xuân) lại chủ yếu mang tính hài hước ở việc gợi lên cảnh thiên nhiên và sự quay cuồng say sưa của một gã trẻ tuổi. Tại đây, Mahler đã sử dụng một loạt hiệu ứng hòa âm và dàn nhạc lạ lùng.

Giao hưởng-ca khúc Bài ca trái đất mang tính chất riêng tư, thân tình với phong cách đối âm phương Đông chiếm ưu thế. Nó là sự kết hợp hoàn hảo giữa thơ và nhạc, giữa Đông và Tây, giữa cổ và kim mà nếu cảm nhận được một lần bạn sẽ không dễ lãng quên.



Ngọc Anh (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6442/index.aspx)
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6514/index.aspx)





Der Trunkene im Frühling (Gã say ngày xuân)

Thơ: Lý Bạch
Bản dịch tiếng Đức: Hans Bethg
*****

Nếu đời chỉ là mơ,

Sao sầu đau đến thế?

Ta rót uống cả ngày,

Uống tới khi không thể!

Khi không thể uống thêm,

Lòng dạ đã đầy cả,

Lảo đảo tới thềm nhà

Đánh giấc say thật hả!

Tỉnh giấc, lắng nghe nào!

Giữa hoa chim hót chào

Hỏi chim xuân đấy ư –

Với ta như giấc mơ.

Chim ríu ran: “Xuân đây!

Trong đêm xuân đã tới”

Ta căng tai nghe ngóng

Tiếng chim hót vang lừng!

Ta rót thêm cốc đầy

Uống cạn đáy rồi hát

Cho tới khi trăng lên

Sáng soi bầu trời đêm!

Và khi không thể hát

Ta tiếp tục ngủ thôi

Với ta xuân nghĩa gì?

Mặc ta uống say nhè!

Wal
04-04-2009, 11:37
Cuộc sống là chuỗi khúc dạo đầu...

Cuộc sống của chúng ta là gì nếu không phải là một chuỗi những khúc dạo đầu cho bài ca bí ẩn mà trong đó những nốt nhạc trang nghiêm đầu tiên do Sự Chết ngâm lên?

Tác phẩm: NHỮNG KHÚC DẠO ĐẦU (Les Préludes)
Tác giả: Franz Liszt
Thể hiện: Dàn nhạc giao hưởng Luân Đôn (chỉ huy: George Solti)
***

Nhà soạn nhạc người Hungary Franz Liszt (1811 – 1886) được coi là người sáng tạo đích thực của thể loại thơ giao hưởng, một hình thức mà trong đó văn học hay một nguồn nào đó ngoài âm nhạc tạo cơ sở mang tính tường thuật cho một tác phẩm một chương viết cho dàn nhạc.

Trong khoảng 10 năm, từ 1848 đến 1858, Liszt đã sáng tác được 12 thơ giao hưởng và đều đề tặng công nương Carolyne Sayn-Wittgenstein. Liszt gọi chúng là các thơ giao hưởng vì chúng không giống những bản giao hưởng truyền thống. Chúng có thời lượng biểu diễn ngắn hơn và không được chia thành các chương tách biệt.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/prelude-classicalarchives-com.jpg

Một cover của CD Les Prélude (Franz Liszt)
Nguồn: classicalarchive.com

Nổi tiếng nhất trong các thơ giao hưởng của Liszt là bản thơ giao hưởng số 3 với tên Les Préludes (Những khúc dạo đầu). Mặc dầu tên tác phẩm là Những khúc dạo đầu nhưng tự nó là một tác phẩm trọn vẹn và độc lập.

Khá lâu trước khi Les Préludes có được hình thức cuối cùng, Liszt đã mường tượng tác phẩm trong một bối cảnh khác. Vào khoảng năm 1844-1845, ông sáng tác một liên khúc cho hợp xướng nam và piano có tên Les Quatre Eléments (Bốn yếu tố) dựa theo các bài thơ của Joseph Autran. Liszt dự định dùng một overture để giới thiệu chùm 4 hợp xướng miêu tả trái đất, những cơn gió bắc, những con sóng và những vì sao (ngụ ý 4 yếu tố chính theo quan niệm của người Hy Lạp cổ là đất, gió, nước và lửa).

Trong những năm tiếp theo, Liszt đã gác lại các hợp xướng trong khi vẫn tiếp tục sửa chữa chương nhạc giới thiệu. Khi chương nhạc này trở nên độc lập với mục đích ban đầu, Liszt không nhắc đến nó như một overture nữa và đến năm 1854 nó đã trở thành một tác phẩm chính thức ở thể loại của riêng nó - thể loại thơ giao hưởng.

Thơ giao hưởng số 3 được lấy tên theo tiêu đề bài thơ Les Préludes (Những khúc dạo đầu) của nhà thơ Pháp Alphonse de Lamartine. Bài thơ rất dài này là khúc tụng ca miêu tả cuộc sống của một con người từ tình yêu thời tuổi trẻ qua những thực tế khắc nghiệt của sự nghiệp và chiến tranh rồi cuối cùng tới toại nguyện.

Liszt đã viết xong thơ giao hưởng Les Préludes rồi mới liên hệ nó với bài thơ có vẻ thích hợp nhất trong tập thơ của Lamartine mà ông rất yêu thích. Nhà soạn nhạc thấy bài thơ ấy đáp ứng được tinh thần của bản thơ giao hưởng, tuy vậy ông đã kiến giải tư tưởng của Lamartine theo cách của mình.

Trong xuất bản phẩm đã sửa chữa, Liszt viết: "Cuộc sống của chúng ta là gì nếu không phải là một chuỗi những khúc dạo đầu cho bài ca bí ẩn mà trong đó những nốt nhạc trang nghiêm đầu tiên do Sự Chết ngâm lên?


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/Klimt-The-Tree-of-Lifeok.jpg

Bức tranh The Tree of Life (Gustav Klimt) - Nguồn: wordpress.com

Tình yêu là buổi bình minh mê đắm của mọi cuộc đời; song có ai đủ may mắn để những hân hoan hạnh phúc ban đầu không bị cơn bão tố nào đó làm cho gián đoạn, luồng gió chết chóc của nó làm tiêu tan ảo tưởng của tình yêu, tiếng sét tai ác của nó thiêu hủy bệ thờ của tình ái, và ở đâu tâm hồn bị một trong các cơn bão làm tổn thương dữ dội lại không tìm cách vịn vào ký ức về sự thanh thản êm đềm của cuộc sống nơi đồng quê của mình?

Song con người không cam chịu hưởng thụ lâu dài hơi ấm từ tâm là cái đầu tiên đã quyến rũ mình trong sự chở che đùm bọc của Thiên Nhiên, và khi "Kèn trumpet vang lên báo động", anh ta xông tới vị trí hiểm nguy dù cho chiến tranh có thể là cái kêu gọi anh vào hàng ngũ của nó, để tìm ra trong cuộc chiến đấu lương tâm trọn vẹn của bản thân và toàn bộ sức mạnh tiềm tàng của mình."


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/deathandlife-topofart-comok.jpg

Bức tranh Death and Life (Gustav Klimt) - Nguồn: topofart.com

Dù không được lấy cảm hứng một cách cụ thể từ lời thơ của Lamartine nhưng âm nhạc của Les Préludes ở phiên bản sau cùng lại phản ánh một cách trung thành các cảnh huống tâm trạng thay đổi của mỗi đoạn trong bài thơ tuy có đảo lộn trình tự 2 đoạn cuối (1- Bình minh của cuộc đời; Tình yêu; 2- Cơn bão cuộc đời; 3- Trú ẩn và an ủi trong cuộc sống thôn dã; 4- Chiến đấu và chinh phục).

Ngôn ngữ âm nhạc thể hiện những chủ đề tương đương với chủ đề được Lamartine thể hiện bằng lời thơ mà không cần phải đưa ra một diễn dịch trực tiếp các yếu tố của chủ đề.

Motive 3 nốt riêng rẽ tạo ra chất keo dính trọng yếu, các hoán vị và biến đổi đa dạng của nó phản ánh nhiều tâm trạng khác nhau của mỗi đoạn. Một chủ đề khác, một người anh em họ xa của motive gốc, cuối cùng hòa nhập vào, tạo yếu tố tương phản khi nó cũng trải qua biến đổi.

Les Préludes kết thúc bằng sự trở lại với motive ba nốt ở hình thức gốc, cũng như với tâm trạng suy tư, ngờ vực của đoạn mở đầu. Nó là hình mẫu đẹp nhất cho kiểu thơ giao hưởng bắt nguồn từ overture hòa nhạc và lấy cấu trúc từ sự kết hợp giữa hình thức sonata và tương phản 4 đoạn trong cùng một chương nhạc duy nhất.



Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6589/index.aspx)

Wal
15-04-2009, 19:47
"Âm láy ma quỷ": Bản sonata từ giấc chiêm bao

Rất nhiều giai thoại được dựng lên xung quanh cái tên và nguồn gốc ra đời tác phẩm Âm láy ma quỷ của nhà soạn nhạc Giuseppe Tartini. Nhưng giai thoại nào cũng cho rằng Âm láy ma quỷ khởi nguồn từ một giấc chiêm bao.

Bản nhạc: Sonata ÂM LÁY MA QUỶ (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/DevilsThrill.mp3)
Tác giả: Giuseppe Tartini
Thể hiện: Anne-Sophie Mutter và Dàn nhạc giao hưởng Vienna (chỉ huy: James Levine)

*****


Giuseppe Tartini (1692 – 1770) là một trong những nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ violon nổi tiếng trong lịch sử âm nhạc. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông là bản sonata giọng Sol thứ còn gọi là Âm láy ma quỷ.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/tartini-naxos-com.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Giuseppe Tartini
Nguồn: naxos.com

Âm láy ma quỷ được viết cho violon cùng phần đệm basso continuo. Đây là một tác phẩm nổi tiếng vì đòi hỏi không chỉ kỹ thuật chơi violon cực khó, ngay cả với thời nay, mà còn cả mức độ biểu cảm nội tâm sâu sắc - một của hiếm vào thời của Tartini.

Âm láy ma quỷ được xuất bản lần đầu năm 1798, nhiều năm sau khi tác giả qua đời. Rất nhiều giai thoại được dựng lên xung quanh cái tên và nguồn gốc ra đời tác phẩm. Nhưng giai thoại nào cũng cho rằng Âm láy ma quỷ khởi nguồn từ một giấc chiêm bao.

Trong một giấc mơ của Tartini khi ông ẩn náu tại tu viện Thánh Francis tại Assini, quỷ sứ đã hiện lên ở chân giường ông và chơi một bản sonata. Lúc thức dậy, Tartini đã sáng tác một bản sonata cho đàn violon, mô phỏng tác phẩm mà ông đã nghe quỷ sứ chơi trong giấc mơ.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/tartini-gutenberg-org-out.jpg

Bức tranh miêu tả giai thoại "giấc mơ quỷ sức chơi đàn" -
lý giải nguồn gốc ra đời của Âm láy ma quỷ - Nguồn: gutenberg.org

Theo một giai thoại khác thì chính Tartini đã kể với nhà thiên văn học Jérôme Lalande rằng ông mơ thấy quỷ sứ hiện ra và đề nghị được làm người phục vụ ông. Cuối những bài học giữa họ, Tartini trao cho quỷ sứ cây đàn violon của mình và kiểm tra kĩ năng chơi của nó.

Ngay lập tức quỷ sứ chơi đàn với một trình độ bậc thầy khiến Tartini như nghẹt thở. Khi Tartini thức dậy, ông lập tức chép lại bản sonata, cố gắng nắm bắt được những gì ông nghe được trong giấc mơ.

Giai thoại chỉ là giai thoại nhưng chuyện Tartini từng ẩn náu tại tu viện Thánh Francis tại Assini là có thật. Vì kết hôn với Elisabetta Premazone - người thiếu nữ được một hồng y giáo chủ thế lực để mắt tới, Tartini bị vu cho tội bắt cóc Elisabetta Premazone. Tartini phải bỏ trốn tới tu viện Thánh Francis tại Assini, nơi ông có thể thoát khỏi truy tố và tiếp tục chơi violon.

Phần lớn bản sonata mang những đặc trưng hoàn toàn theo thông lệ sonata thời bấy giờ. Tấn bi kịch nội tâm được thể hiện qua những giai điệu bóng bẩy, những nốt láy duyên dáng ngập tràn trong tác phẩm.

Dường như một bức tranh mô tả nụ cười của một người con gái hồng nhan bạc phận đang hiện dần lên. Nụ cười tươi tắn không che giấu nổi nội tâm giằng xé: giữ gìn thiên lương hay buông mình cho quỷ sứ?

Yếu tố âm nhạc liên quan đến cái tên của tác phẩm xuất hiện ở đoạn cadenza chói sáng gần cuối tác phẩm. Trong đoạn cadenza này, kĩ thuật láy/rung (thrill) rất khó vì đòi hỏi người biểu diễn phải rung trên một dây đàn trong khi phải lướt nốt thật nhanh trên một dây khác.

Ngay cả nghệ sĩ vĩ cầm có tiếng là Leopold Mozart (cha của Wolfgang Amadeus Mozart vĩ đại) cũng đánh giá: "những nét lướt đó đòi hỏi một kĩ xảo không xoàng." Sau đoạn cadenza khá dài, bè basso continuo tham gia trở lại trong ít nhịp cuối cùng đầy kịch tính. Cao trào đấu tranh nội tâm vừa mới qua nhưng câu trả lời cuối cùng vẫn chưa hề xuất hiện.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/DevilFirst_BIG-virtualsheetmusic-comok.gif

Nguồn: virtualsheetmusic.com

Tuy rất thành công khi biểu diễn sonata Âm láy ma quỷ trước các thính giả của mình nhưng Tartini vẫn khẳng định: "còn thua xa so với những gì tôi đã được nghe" và "nếu tôi có thể kiếm sống bằng phương tiện khác, tôi đã đập cây đàn violon và từ bỏ âm nhạc mãi mãi."


Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6634/index.aspx))

beethoven_82
16-04-2009, 11:47
Hay quá, một bộ sưu tập các tác phẩm, tác giả rất hữu ích! Cám ơn bạn Wal nhiều lém :) Cứ tiếp tục phát huy nhen.

Wal
17-04-2009, 13:29
Dở dang mà trọn vẹn...


Sau khi được khám phá và trình diễn, Giao hưởng "Bỏ dở" mau chóng trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất ở khắp mọi nơi trong danh mục biểu diễn giao hưởng. Tuy nhiên trong rất nhiều năm nó vẫn bị xem là một tác phẩm dang dở, một tác phẩm cụt ngủn cho dù là kiệt tác đi chăng nữa.


*****


Một vị chủ tịch hội đồng quản trị nọ được người ta tặng vé nghe hòa nhạc, chương trình có bản Giao hưởng No. 8 giọng Si thứ, hay còn gọi là Giao hưởng "Bỏ dở" của Franz Schubert.
Vì không thể đi được nên vị này tặng lại vé cho giám sát viên chất lượng của công ty. Sáng hôm sau, vị chủ tịch hỏi xem buổi hòa nhạc thế nào. Thay vì vài lời nhận xét chung chung, vị chủ tịch nhận được một báo cáo bằng văn bản từ giám sát viên chất lượng. Nội dung báo cáo như sau:

1. Trong một thời gian khá dài, các nhạc công oboe không có việc gì làm. Số người này cần bị cắt giảm và phần việc của họ thì chia cho cả dàn nhạc để tránh tình trạng chây ì.
2. Cả 12 cây violon chơi những nốt y hệt nhau. Có vẻ như đây là một sự sao chép không cần thiết và nhân sự bộ phận này cần được cắt giảm. Nếu bắt buộc phải đảm bảo âm lượng thì có thể dùng máy khuếch âm.
3. Phải tốn nhiều nỗ lực để chơi các nốt móc ba. Có vẻ như đây là một sự tinh xảo quá mức và nên chuyển mọi nốt thành móc đôi. Nếu thực hiện được điều này thì có thể dùng sinh viên nhạc viện thay cho các nhạc công lành nghề.
4. Không ích lợi gì khi bè kèn cor lặp lại các đoạn đã được dàn dây chơi. Nếu mọi đoạn rườm rà này được loại bỏ hết thì buổi hòa nhạc có thể giảm từ hai tiếng xuống còn hai mươi phút.
5. Bản giao hưởng có có hai chương. Nếu ông Schubert không đạt được mục đích âm nhạc của mình vào lúc kết thúc chương một thì ông ấy nên dừng ngay tại đấy. Chương hai là không cần thiết và nên cắt bỏ.

Căn cứ vào các vấn đề trên, chỉ có thể kết luận rằng nếu ông Schubert chú ý đến những vấn đề này thì ông ấy đã có thời gian hoàn thành bản giao hưởng.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/franzshubert-encarta-msn.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Franz Schubert (31/1/1797 – 19/11/1828)
Nguồn: encarta.msn.com

Có lẽ nhận định của vị giám sát viên trong câu chuyện hài hước trên đây khiến nhiều người bật cười. Nhưng nghiêm túc mà nói thì mặc dầu được gắn biệt danh "bỏ dở", Giao hưởng No. 8 giọng Si thứ của Schubert với cấu trúc hai chương đã "được hoàn thành" ở ý nghĩa đích thực và đẹp đẽ nhất.
Nó là một tác phẩm dở dang mà trọn vẹn: Schubert đạt được mục đích âm nhạc của mình chỉ trong hai chương nhạc thay vì bốn chương như các bản giao hưởng truyền thống.

Giao hưởng No. 8 giọng Si thứ không phải là bản giao hưởng dở dang duy nhất của Schubert. Một thời gian ngắn trước khi khởi thảo giao hưởng giọng Si thứ, Schubert cũng đã viết xong phác thảo tổng phổ một bản giao hưởng 4 chương giọng Mi trưởng. Cho tới khi qua đời, ông chưa bao giờ phối dàn nhạc cho bản giao hưởng này.
Giao hưởng No. 7 giọng Mi trưởng của Schubert mà chúng ta nghe ngày nay trong các phòng hòa nhạc hay các bản thu âm là phiên bản phối khí của nhạc trưởng Felix Weingartner (tiến hành sau khi tác giả qua đời) hoặc phiên bản phối khí của học giả thời hiện đại Brian Newbould.

Vào đầu năm 1822 khi Schubert đang ở đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của mình, ông khởi thảo một bản giao hưởng đồ sộ giọng Si thứ. Đến cuối năm đó ông đã phối xong dàn nhạc cho hai chương đầu và bắt đầu phác thảo chương thứ ba trên piano.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/Unfinished-Symphony-Posters-allposters-com.jpg

Dù hình thức hai chương và mang vẻ "bỏ dở", nhưng thực tế là
Giao hưởng No. 8 giọng Si thứ đã gây ấn tượng sâu sắc
về tính nhất quán và vô cùng hoàn chỉnh của tác phẩm
Nguồn: allposters.com

Có vẻ như bệnh tật đã ngăn cản Schubert tiếp tục công việc này. Đến mùa xuân, sức khỏe Schubert phục hồi đôi chút. Ông cũng được nhận làm thành viên danh dự của Hiệp hội âm nhạc Styria ở thành phố Graz, nước Áo.

Để bày tỏ lòng biết ơn, Schubert đã gửi hai chương nhạc đầu bản giao hưởng giọng Si thứ cho Anselm Hüttenbrenner, giám đốc của hiệp hội. Hüttenbrenner cất hai chương nhạc này vào một ngăn kéo và quên bẵng chúng đi.

Phải mãi đến những năm 1860, người em trai của Anselm Hüttenbrenner là Josept Hüttenbrenner mới phát hiện ra bản thảo. Ông nhận ra báu vật bị thất lạc của nhà soạn nhạc thiên tài và khẩn khoản đề nghị nhạc trưởng người Vienna Johann Herbeck cho trình diễn tác phẩm này.

Cuối cùng, tác phẩm gồm hai chương được công diễn lần đầu vào ngày 17 tháng 12 năm 1865. Vì chỉ có hai chương nhạc nên Giao hưởng số 8 giọng Si thứ D.759 của Franz Schubert đã đi vào lịch sử âm nhạc với cái tên Giao hưởng "Bỏ dở".

Sau khi được khám phá và trình diễn, Giao hưởng "Bỏ dở" mau chóng trở thành một trong những tác phẩm được yêu thích nhất ở khắp mọi nơi trong danh mục biểu diễn giao hưởng. Tuy nhiên trong rất nhiều năm nó vẫn bị xem là một tác phẩm dang dở, một tác phẩm cụt ngủn cho dù là kiệt tác đi chăng nữa.

Không ít nỗ lực và thử nghiệm để "hoàn thành" bản Giao hưởng "Bỏ dở" của Schubert đã được các nhạc sĩ hậu sinh tiến hành. Nhưng cũng không ít nhà sử học và học giả âm nhạc đã cặm cụi chứng minh rằng tác phẩm đã được "hoàn thành rồi". Và thực vậy, ở hình thức hai chương, Giao hưởng No. 8 giọng Si thứ đã gây ấn tượng sâu sắc về tính nhất quán và vô cùng hoàn chỉnh của tác phẩm.

Và lý do thực sự để Schubert không hoàn thành Giao hưởng No. 8 giọng Si thứ, một trong những sáng tác nhiều ấp ủ nhất, là ông chẳng còn mấy việc cần làm với bản giao hưởng này nữa. Có lẽ chính thiên tài đã nhận ra ngay từ thời đó, như giờ đây chúng ta biết, rằng phong cách và cảm xúc trong hai chương nhạc đã viết xong cao diệu đến nỗi nó không thể bị giảm giá trị bởi bất cứ chương nhạc tiếp theo nào.


Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6695/index.aspx))


_____________
DOWNLOAD:
Symphony No.8 - Karajan, BPO (http://www.mediafire.com/?nyytyjgtzem)

Wal
18-04-2009, 12:53
Người đánh thức “St Matthew Passion”

200 năm sau ngày nhà soạn nhạc Đức Felix Mendelssohn ra đời, các nhà phê bình nghiên cứu âm nhạc đã nhận thấy rằng số lượng tác phẩm của Mendelssohn không thua kém Mozart hoặc Brahms nhưng một phần ba các tác phẩm của ông (khoảng 270 trong số 750 tác phẩm) là chưa được công bố hoặc chưa được biểu diễn.

Theo các nhà nghiên cứu tiểu sử, Mendelssohn đã có buổi biểu diễn đầu tiên trước công chúng vào năm 9 tuổi. Năm 1821, mới 12 tuổi, Mendelssohn đã sáng tác 12 Fugues cho tứ tấu đàn dây. Cũng vào thời điểm này, qua sự giới thiệu của người thầy, Karl. F. Zelter, Mendelssohn đã gặp Johann Wolfgang von Goethe, một trong những bộ óc vĩ đại của thi ca Đức và được lưu lại trong ngôi nhà của nhà thơ vĩ đại 72 tuổi trong 2 tuần. Goethe đã bị tài năng của cậu bé Mendelssohn mê hoặc trong lần nghe bản tứ tấu pinao cung Si thứ do Mendelssohn sáng tác. Qua những đánh giá của Goethe, châu Âu hồ hởi đón nhận Mendelssohn- một thiên tài âm nhạc mới, người được Goethe dự báo có thể thay thế được sự mất mát lớn kể từ khi Mozart qua đời vào năm 1791. Ở tuổi 16, Mendelssohn viết bản Bát tấu cung Mi giáng trưởng, và một năm sau là overture lấy cảm hứng từ “Giấc mộng đêm hè” của Shakespeare. Những tác phẩm đầu tiên báo hiệu sức sáng tạo của thiên tài âm nhạc được cả châu Âu chào đón và luôn có mặt trong danh mục biểu diễn của các dàn nhạc lớn.


http://www.lindahines.net/blog/wp-content/uploads/2008/11/fanny_with_felix17.jpg
Felix Mendelssohn và chị gái Fanny Mendelssohn

Khi lật lại tiểu sử của Mendelssohn, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, cả khi ông qua đời ở tuổi 38 ông vẫn là nạn nhân của chủ nghĩa bài Do Thái. Kẻ chủ mưu được xác định là Richard Wagner, nhà soạn nhạc có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống âm nhạc Đức nửa cuối thế kỷ 19. Wagner cố gắng sáng tạo ra cụm từ “chủ nghĩa Do Thái trong âm nhạc” để ám chỉ âm nhạc của Mendelssohn quá trau chuốt, và được đăng trên báo chuyên về âm nhạc ở Leipzig vào năm 1850 (3 năm sau khi Mendelssohn qua đời).

Đảng Đức quốc xã đã cấm không cho những cái tai Đức nghe âm nhạc của Mendelssohn cũng như của các nhà soạn nhạc Do Thái khác.

Khi ban hành lệnh cấm với âm nhạc của Mendelssohn, Đức quốc xã đã làm ngơ trước một sự thật, chính Mendelssohn chứ không phải ai khác đã làm sống lại Bach, một niềm tự hào của âm nhạc Đức, thông qua việc phát hiện và dàn dựng oratorio “St Matthew Passion”. Những người tôn sùng Bach có thể không bao giờ quên được ngày 11-3-1829, khi Felix Mendelssohn với những nỗ lực của mình, đã đưa tác phẩm này ra mắt công chúng, đồng thời đánh thức một huyền thoại âm nhạc.

Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng Wagner cũng tôn trọng những sáng tác trong thời kỳ đầu của Mendelssohn. Trong những năm cuối đời, Wagner đã chơi bản overture “Giấc mộng đêm hè” trên cây đàn piano và hát lên giai điệu của bản nhạc này cho những đứa con của mình nghe. Mendelssohn thậm chí còn thường hiện lên trong giấc ngủ của Wagner, có đêm Wagner đã mơ thấy người đồng nghiệp cũ của mình. Và tác phẩm cuối cùng của Wagner “Parsifal” đã trả lại sự tôn kính Mendelssohn trên trang tổng phổ.

Ngay cả khi lệnh cấm của Đức quốc xã ban hành vào năm 1936, thì những bức thư và các tác phẩm âm nhạc chưa được công bố của ông được ký gửi bí mật ở Prussian State Library tại Berlin. Người quản lý thư viện coi đó là một phần quan trọng của di sản âm nhạc Đức nên quyết định gửi chúng tới Ba Lan. Đây là điều may mắn với Mendelssohn bởi Đức quốc xã đã đốt khoảng 20.000 cuốn sách, phần lớn được lấy từ thư viện, bao gồm các tác phẩm của Thomas Mann, Erich Maria Remarque, Heinrich Heine, Karl Marx và nhiều nhà văn, nhà tư tưởng khác. Và khi Đức quốc xã tấn công Ba Lan, tác phẩm của Mendelssohn đã được vội vã đưa đi phân tán khắp thế giới.


http://graphics8.nytimes.com/images/2006/11/19/arts/600_weekahead_classical.jpg
Anne-Sophie Mutter- một trong những nghệ sĩ biểu diễn thành công bản "Violon concerto giọng Mi thứ" của Felix Mendelssohn- "Viên ngọc của trái tim" trong kho tàng âm nhạc Đức


Felix Mendelssohn sinh tại Hamburg, Đức vào ngày 3-2-1809, con trai của Leah Salomon và Abraham Mendelssohn, một chủ nhà băng giàu có và là cháu của một giáo sỹ Do Thái và nhà triết học Moses Mendelssohn. Mendelssohn được hưởng một nền giáo dục hoàn hảo, điều đó để lại rất nhiều dấu ấn trong cuộc đời nhà soạn nhạc Lãng mạn này. Với sự hậu thuẫn của gia đình, Felix Mendelssohn và cô chị gái Fanny, được học nhạc từ nhỏ, và bộc lộ những năng khiếu khác thường về âm nhạc.

Gia đình Mendelssohn đưa con cái của mình du lịch khắp châu Âu, trong đó chuyến đi tới Berlin đóng một vai trò lớn với Felix trẻ tuổi khi được học piano với Ludwig Berger và học sáng tác với Karl. F. Zelter. Felix có tác phẩm đầu tay vào năm 1820, sau đó sáng tác nhiều sonatas, concertos, string symphonies, piano quartets và Singspiels (một thể loại ca kịch Đức) thể hiện ngày càng tăng sự làm chủ nghệ thuật đối âm và hình thức âm nhạc.

Bên cạnh những chuyến du lịch cùng gia đình và sự viếng thăm của những vị khách nổi tiếng tới salon của cha như Humboldt, Hegel, Klingemann, A.B. Marx, Devrient, Felix sớm chịu ảnh hưởng của thi hào Đức Goethe, và các tác phẩm của Shakespeare; điều đó có thể thấy trên chặng đường sáng tác của ông, bao gồm Bát tấu dây op.20 và bản overture chói lọi “Giấc mộng đêm hè” op.21. Tài năng của Mendelssohn còn được thể hiện ở lĩnh vực chỉ huy, ông cũng đạt tới thành công với việc phát hiện và trình diễn “St. Matthew Passion” của Bach tại Berlin Singakademie vào năm 1829, mở đầu cho sự phục hưng sự nghiệp của Bach.

Sau những chuyến đi, Mendelssohn đã giới thiệu nhiều tác phẩm xuất sắc như Hebrides, Piano Concerto cung Son thứ, Italian Symphony… Âm nhạc của Mendelssohn chịu ảnh hưởng của Bach (kỹ thuật fuga), Handel (nhịp điệu, chuỗi hoà âm), Mozart (tính chất trữ tình, hình thức âm nhạc, kết cấu) và Beethoven (kỹ thuật khí nhạc), qua đó phát triển đặc điểm phong cách của ông, có nền móng từ văn học, lịch sử nghệ thuật, địa lý và cảm xúc kết nối; đó là những tác nhân góp phần nào tạo ra phong cách Lãng mạn.

Felix Mendelssohn hết sức gắn bó với gia đình. Sau cái chết của ông Abraham Mendelssohn vào năm 1835, Mendelssohn vô cùng đau đớn bởi mất đi người cha – người bạn lớn. 7 năm sau đó, người mẹ cũng qua đời và tiếp tục tới ngày 14-5-1847, chị gái Fanny gục ngã trong khi chuẩn bị cho một buổi concert. Felix Mendelssohn đã nói rằng đó là tiếng thét buồn thảm nhất và tin buồn nhất mà ông phải nghe. Sau những cú đòn của số phận, Mendelssohn ra đi vĩnh viễn ở tuổi 38 vào ngày 4-11-1847.

Đánh thức “St Matthew Passion”

Không một buổi biểu diễn về những tác phẩm được phát hiện kể từ khi Bach qua đời lại có tầm quan trọng như buổi trình diễn oratorio “St Matthew Passion”, với dàn nhạc Berlin Singakademie dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng 20 tuổi Felix Mendelssohn vào ngày 11-3-1829. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một tác phẩm của một nhà soạn nhạc đã qua đời trong sự lãng quên, đã được nhìn nhận lại và được hoan nghênh như một kiệt tác. Và từ buổi trình diễn lịch sử vào năm 1829 của Mendelssohn, một làn sóng mới nồng nhiệt đón nhận nhiều tác phẩm của Bach- nhà soạn nhạc vĩ đại.

Trong một món quà Giáng sinh năm 1823, Felix nhận được quà tặng của bà một bản nhạc chép tay “St Matthew Passion” (vào thời đó, công nghệ in chưa phát triển), và việc nghiên cứu tác phẩm này bắt đầu nảy nở với nhà soạn nhạc. Mùa đông năm 1827, Mendelssohn bắt đầu dàn dựng một cách nghiêm túc một vài đoạn trong “St Matthew Passion”. Đến năm 1829, Mendelssohn hoàn thành tác phẩm. Ông cùng người bạn của mình, Eduard Devrient, thuyết phục Zelter - giám đốc Berlin Singakademie - công bố tác phẩm này trước công chúng. Mendelssohn chuẩn bị phần tổng phổ và dẫn dắt buổi trình diễn. Devrient đã mô tả quá trình chuẩn bị: “Tất cả đều đáng ngạc nhiên, không một điều gì trong cấu trúc tác phẩm lại không trang nghiêm và huy hoàng, sự phong phú về giai điệu, sự dồi dào về sức biểu cảm và sức mạnh lớn lao của cảm xúc. Không ai nghi ngờ được sự vĩ đại của Bach trong tất cả những điều đó”.

Người ta có thể ngạc nhiên về sự sắp xếp buổi biểu diễn. Mendelssohn phân ra 2 bè hợp xướng lớn (con số người tham gia lên tới hàng trăm người) và bố trí vị trí của họ ngay sau lưng mình từ bè hợp xướng 1 (phần lớn là các thành viên của Singakademie) và hướng về phía dàn nhạc, bè hợp xướng 2 (được lựa chọn phần lớn từ những ca sỹ không chuyên). Một chiếc đàn được đặt giữa 2 bè hợp xướng, nơi Felix có thể chơi đệm bằng tay trái, trong khi chỉ huy bằng tay phải. Bè nhạc cụ hơi ở phía trên và ở phía sau là các nhạc công khác, được xếp thẳng tràn ra ngoài ba cánh cửa mở rộng.

Buổi biểu diễn thành công rực rỡ, và tiếp tục trình diễn dưới sự chỉ huy của Mendelssohn 10 ngày sau đó và một lần nữa vào ngày thứ sáu tốt lành, ngày 17-4 do chính Zelter chỉ huy, kể từ khi Mendelssohn rời khỏi Berlin.


Thanh Nhàn (Nguồn: Tia Sáng (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=72&CategoryID=13))


_______________________

MỜI CÁC BẠN CÙNG THƯỞNG THỨC CD NÀY CỦA MENDELSSOHN


http://g-ecx.images-amazon.com/images/G/01/ciu/d0/82/5ca79833e7a0551d048c3110.L.jpg


Mendelssohn: Violin Concerto; Symphony No. 4; Hebrides Overture


Violinist: Pinchas Zukerman
Dàn nhạc: New York Philharmonic
Chỉ Huy: Leonard Bernstein

Trong CD này, tác phẩm Violin Concerto được tạp chí Gramophone đánh giá rất cao, Zukerman lúc này cũng đang ở thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp biểu diễn của mình.
Giao hưởng Ý là tác phẩm nổi bật nhất trong 4 giao hưởng của Mendelssohn, bản thu âm của Berstein với dàn nhạc New York thu năm 1958, song chất lượng âm thanh rất tuyệt nếu so với thời kỳ đấy. Cả overture Herbides cũng là một trong những overture nổi tiếng thời kỳ lãng mạn.

DOWNLOAD

01. The Hebrides Overture (Fingal's Cave) Op. 26.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/01.%20The%20Hebrides%20Overture%20%28Fingal%27s%20 Cave%29%20Op.%2026.mp3)
02. Violin Concerto in E Minor, Op. 64 - Allegro molto appas.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/02.%20Violin%20Concerto%20in%20E%20Minor,%20Op.%20 64%20-%20Allegro%20molto%20appas.mp3)
03 Violin Concerto in E Minor, Op. 64 - Andante.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/03%20Violin%20Concerto%20in%20E%20Minor,%20Op.%206 4%20-%20Andante.mp3)
04 Violin Concerto in E Minor, Op. 64 - Allegretto non tropp.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/04%20Violin%20Concerto%20in%20E%20Minor,%20Op.%206 4%20-%20Allegretto%20non%20tropp.mp3)
05 Symphony No. 4 in A Major (Italian) Op. 90 - Allegro viva.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/05%20Symphony%20No.%204%20in%20A%20Major%20%28Ital ian%29%20Op.%2090%20-%20Allegro%20viva.mp3)
06 Symphony No. 4 in A Major (Italian) Op. 90 - Andante con .mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/06%20Symphony%20No.%204%20in%20A%20Major%20%28Ital ian%29%20Op.%2090%20-%20Andante%20con%20.mp3)
07 Symphony No. 4 in A Major (Italian) Op. 90 - Con moto mod.mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/07%20Symphony%20No.%204%20in%20A%20Major%20%28Ital ian%29%20Op.%2090%20-%20Con%20moto%20mod.mp3)
08 Symphony No. 4 in A Major (Italian) Op. 90 - Saltarello, .mp3 (http://78.142.45.23/dataup/MUSIC/Music-classical/Classics%2002/MENDELSSOHN-BARTHOLDY,%20Felix%20-%20Violin%20Concerto/08%20Symphony%20No.%204%20in%20A%20Major%20%28Ital ian%29%20Op.%2090%20-%20Saltarello,%20.mp3)

Tri_ Red Army
18-04-2009, 15:44
Bramhs là ai vậy ta ? đề nghị Wal chú ý phần chính tả

Wal
18-04-2009, 16:32
Cái này cọp lại từ bên tạp chí Tia sáng đấy chứ có phải ngồi gõ đâu. Đã sửa.

Tri_ Red Army
18-04-2009, 17:46
Tớ rất thích violin concerto của Felix Mendelssohn , nghe 1 lần khoái liền

Apomethe
18-04-2009, 19:12
Năm nay là năm Mendelssohn, cho nên các bạn tha hồ mà nghe. Mutter cũng mới ra đĩa concerto mới của Mendelssohn cho DG. Từ giờ đến cuối năm thì ít nhất cũng phải chục đĩa chơi bản này nữa :D

Tri_ Red Army
18-04-2009, 20:50
Ai đó giới thiệu bản giao hưởng Italian của Mendelssohn được không? Thanks nhiều

HiLine
18-04-2009, 23:59
Hic, giới thiệu về Mendelssohn mà lại giật tít tác phẩm của Bach thế kia thì thiệt thòi cho thân chủ quá. :(

Wal
19-04-2009, 00:34
Năm nay là năm Mendelssohn, cho nên các bạn tha hồ mà nghe. Mutter cũng mới ra đĩa concerto mới của Mendelssohn cho DG. Từ giờ đến cuối năm thì ít nhất cũng phải chục đĩa chơi bản này nữa :D
Vừa burn lậu DVD này cho Martenzi một cái, chắc bác ấy đang ngất ngây bên giai điệu lẫn nhan sắc của Mutter :D.
@Mar nghe xong cho ý kiến nhé.

Wal
27-04-2009, 16:03
Người khơi nguồn "cảm hứng dân tộc" cho nước Mỹ

Nhà soạn nhạc dân tộc Czech - Dvorak đã chứng minh cho các nhà soạn nhạc người Mỹ thấy rằng họ có một gia tài ca khúc dân gian đích thực của chính đất nước họ. Gia tài này có thể được sử dụng để xây dựng nên một trường phái dân tộc.

Bản nhạc: CHƯƠNG II, Tứ tấu "MỸ"
Tác giả: Antonin Dvorak
Thể hiện: Nhóm tứ tấu Stamitz
***

Năm 1892, nhà soạn nhạc dân tộc Czech Antonin Dvorak (1841 - 1904) tới Hoa Kỳ để đảm nhiệm vị trí giám đốc Nhạc viện thành phố New York mới được thành lập. Ông lưu lại đây trong vòng ba năm và đạt được danh tiếng lẫy lừng ở các vai trò nhạc sư, nhà soạn nhạc và nhà chỉ huy.

Trong những năm tha hương này, nhiều tác phẩm nổi tiếng nhất của Dvorak đã ra đời như Giao hưởng Từ thế giới mới; Cello Concerto; Tứ tấu "Mỹ"… Ông nói: "Tôi sẽ chẳng bao giờ viết những tác phẩm này được như thế nếu tôi không đến Mỹ."



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/Antonin%20Dvorak%20-%20Dvorack%20in%20America-myherocom.jpg

Nguồn: wordpress.com

Bản tứ tấu đàn dây giọng Pha trưởng Op. 96 còn được gọi là Tứ tấu "Mỹ" của Dvorak là một trong những kiệt tác của thể loại tứ tấu nói riêng và âm nhạc thính phòng thế giới nói chung. Dvorak viết tác phẩm này chỉ trong vòng 3 ngày khi đi nghỉ tại một khu kiều dân nơi có cộng đồng người Czech nhập cư sinh sống.

Vây quanh Dvorak đang khắc khoải nỗi nhớ quê hương lúc đó là những người nông dân vui vẻ, những vị linh mục thân thiện và những bà nội trợ hồn hậu. Điều này phần nào lý giải cho tính chất giản dị của tác phẩm.

Kì nghỉ xa nhà đã khiến Dvorak tạm quên đi những xung đột giữa truyền thống Áo-Phổ đang thống lĩnh và chủ nghĩa dân tộc Bohemia mà ông đang cố gắng tạo dựng trong âm nhạc. Tứ tấu "Mỹ" là một tác phẩm thuần túy mang phong cách của chính Dvorak chứ không thuộc về bất cứ trường phái nào.

Thể loại tứ tấu đàn dây dường như tỏ ra ít triển vọng đối với các nhà soạn nhạc thế kỷ 19 vốn bận tâm với các ý đồ quy mô lớn như giao hưởng và thơ giao hưởng. Tuy nhiên nó vẫn thu hút được sự chú ý của Dvorak và một số nhà soạn nhạc theo khuynh hướng dân tộc, những người đã đưa các giai điệu dân gian của dân tộc mình vào sáng tác tứ tấu.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/04/dvorak-nytimes.jpg

Một góc nhà lưu niệm Dvorak ở Prague - Nguồn: nytimes


Tính đến năm 1893, Dvorak đã không sáng tác thể loại tứ tấu trong 12 năm. Với tiến độ sáng tác mau chóng, Tứ tấu "Mỹ" làm tác giả của nó hài lòng đến nỗi ông đã nguệch ngoạc viết một câu cảm tạ Chúa Trời ở cuối bản thảo ban đầu.

Tác phẩm được công diễn lần đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 1894 tại Boston trong một buổi hòa nhạc của nhóm tứ tấu Kneisel (gồm các nghệ sĩ F. Kneisel, O. Rott, L. Svècenski, Al. Schroeder). Và chẳng bao lâu sau nó đạt được vị trí vững chắc trong vốn tiết mục biểu diễn thể loại tứ tấu.

Trong Tứ tấu "Mỹ", người nghe nhận thấy một phong cách phối màu tươi mới hơn so với bút pháp tứ tấu thông lệ của Dvorak. Tác giả đã thu nhận phong cách biểu đạt của thể loại ca khúc dân gian của của người Mỹ bản địa và người Mỹ gốc Phi rồi tái hiện chúng trong các giai điệu do chính ông sáng tạo. Vì thế bản tứ tấu này không chỉ "Mỹ" ở tên gọi và địa danh sáng tác.

Dvorak đã chứng minh cho các nhà soạn nhạc người Mỹ thấy rằng họ có một gia tài ca khúc dân gian đích thực của chính đất nước họ. Gia tài này có thể được sử dụng để xây dựng nên một trường phái dân tộc. Tứ tấu "Mỹ" là một cách để nhà dân tộc chủ nghĩa vĩ đại người Czech khơi nguồn cảm hứng dân tộc trong các nhà soạn nhạc người Mỹ.


Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6786/index.aspx))

Wal
09-05-2009, 10:48
Lời mời khiêu vũInvitation to The Dance của Weber giống như một câu chuyện sôi nổi và trọn vẹn về đôi bạn nhảy tại một vũ hội, từ lúc chàng trai mời cô gái nhảy một cách lịch sự tới lúc họ nhã nhặn nói lời từ biệt sau khi đã cùng khiêu vũ vài vòng quanh phòng

Bản nhạc: Invitation to the Dance
Tác giả: Carl Maria von Weber
Chuyển soạn cho dàn nhạc: Hector Berlioz
Thể hiện: Dàn nhạc giao hưởng Berlin (chỉ huy: Herbert von Karajan)
***

Bản nhạc Aufforderung zum Tanze Op. 65 của nhà soạn nhạc người Đức Carl Maria von Weber (1786 - 1826) được xem là một trong những mẫu hình âm nhạc vũ khúc rực rỡ nhất từng được soạn ra. Tên tiếng Anh của tác phẩm là Invitation to the Dance (Lời mời khiêu vũ).

Invitation to the Dance nguyên gốc được Weber viết cho piano vào năm 1811 và đề tặng vợ mình là Caroline. Nó là một trong những món quà cầu hôn bằng âm nhạc nổi tiếng giống như Légende(Truyền thuyết) của Henryk Wieniawski hay Salut D’Amour (Lời chào của tình yêu) của Edward Elgar sau này.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/carl_maria_von_weber-kaar-at.jpg

Chân dung nhà soạn nhạc Carl Maria von Weber
Nguồn: kaar.at

Cuốn tiểu sử của Weber do con trai ông thực hiện có kể lại rằng nhà soạn nhạc đã vừa chơi phiên bản piano Invitation to the Dance cho vợ nghe vừa giảng giải về chương trình của tác phẩm:

"Ô nhịp 1-5, phong thái ban đầu của các vũ điệu. Ô nhịp 5-9, câu trả lời lảng tránh của tiểu thư. Ô nhịp 9-13, lời mời mọc nài nỉ của chàng. Ô nhịp 13-16, sự ưng thuận của nàng. Ô nhịp 17-19, chàng bắt đầu trò chuyện. Ô nhịp 19-21, sự đáp lại của nàng. Ô nhịp 21-23, nói năng sôi nổi hơn. Ô nhịp 23-25, sự đồng tình. Ô nhịp 25-27, nhắc nàng lưu tâm đến vũ điệu. Ô nhịp 27-29, nàng trả lời. Ô nhịp 29-31, họ ra chỗ khiêu vũ. Ô nhịp 31-35, đợi bắt đầu vũ điệu. Kết thúc vũ điệu, chàng cám ơn, nàng đáp lại và họ lui về."

Như vậy tác phẩm kể câu chuyện về một đôi bạn nhảy tại một vũ hội, từ lúc chàng trai mời cô gái nhảy một cách lịch sự tới lúc họ nhã nhặn nói lời từ biệt sau khi đã cùng khiêu vũ vài vòng quanh phòng. Âm nhạc của Invitation to the Dance sôi nổi hơn hẳn âm nhạc trong các tác phẩm của Josef Lanner và Johann Strauss I, những nhà soạn nhạc còn chưa bắt đầu phổ biến điệu valse khi Weber viết tác phẩm này.

Wilhelm Heinrich Riehl đã nhận xét về tác phẩm tươi tắn, duyên dáng và hăng say này như sau: "Nó đánh dấu sự chuyển dịch sang vũ khúc hiện đại. Điệu valse trước kia chỉ là một kiểu minuet sôi nổi nhưng Weber đã cho phần allegro vào vũ điệu. Thế giới chạy nhanh hơn, tại sao người ta không được khiêu vũ nhanh hơn?... Weber là người sáng lập ra cách diễn đạt âm nhạc vũ khúc với cảm xúc sâu sắc và là người sáng lập của một trường phái mà Richard Strauss sau này sẽ đi theo."


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/dance1-fotobank-ruok.jpg

Bức tranh Lời mời khiêu vũ - Nguồn: fotobank.ru

Từ phiên bản gốc viết cho piano độc tấu của Weber, Invitation to the Dance đã xuất hiện ở nhiều dạng chuyển soạn khác nhau từ song tấu violon và piano đến cả dàn nhạc giao hưởng. Bản chuyển soạn cho dàn nhạc nổi tiếng nhất là của Hector Berlioz, một người hâm mộ Weber vô cùng nồng nhiệt.

Năm 1841, Berlioz đã chuyển soạn Invitation to the Dance để dùng cho một màn ballet trong dàn dựng vở opera Der Freischütz (Nhà thiện xạ) của Weber tại Nhà hát Opéra de Paris. Theo thông lệ của nhà hát này thời đó, cần phải có một màn ballet ở màn hai của bất kỳ vở opera nào mà nó trình diễn.

Bản chuyển soạn cho dàn nhạc của Berlioz càng làm tăng lên tính chất hấp dẫn của phiên bản gốc. Lời mời của chàng trai ở đoạn mở đầu được cello độc tấu trong khi lời đáp của cô gái do bộ gỗ thể hiện. Berlioz còn dùng hai đàn harp trong dàn nhạc và âm thanh lóng lánh của điệu valse rất giống với chương Un bal (Vũ hội) trong Symphonie Fantastique của Berlioz.

Năm 1911, nhà biên đạo múa Michel Fokine dùng phiên bản Invitation to the Dance cho dàn nhạc của Berlioz làm âm nhạc cho vở ballet Le Spectre de la rose (Hồn ma của đóa hồng). Cốt truyện của vở ballet được dựa trên một bài thơ của Théophile Gautier.

Điều trùng hợp là Berlioz cũng phổ nhạc bài thơ này thành một mélodie trong tập Les nuits d"été (Những đêm hè) nổi tiếng hoàn thành năm 1841, cùng năm ông chuyển soạn Invitation to the Dance. Nhưng Berlioz không có liên hệ gì giữa mélodie phổ thơ Théophile Gautier và phiên bản chuyển soạn từ âm nhạc của Weber.

Lời mời khiêu vũ hay Lời cầu hôn của Weber, một tiểu phẩm mang tính chương trình đậm nét, đương nhiên được vợ ông hưởng ứng. Nhưng sự hưởng ứng quan trọng hơn có lẽ là từ Hector Berlioz - người đã kế thừa và phát huy đến cao độ tính chương trình trong âm nhạc của chính mình.



Ngọc Anh (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6786/index.aspx) (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6907/index.aspx))
(http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6786/index.aspx)

Wal
24-05-2009, 07:49
500 lần bày tỏ tình yêu

Vở opera Samson et Dalila được dựa theo câu chuyện về Samson và Dalila trong Kinh Cựu Ước. Vở opera đã được diễn trên sân khấu Paris tới 500 lần trước khi tác giả của nó - Camille Saint-Saëns qua đời, như 500 lần tỏ tình từ người Pháp sau những lần đầu bị cự tuyệt.

Aria: Mon coeur s’ouvre à ta voix (http://www.tuanvietnam.net/Library/medias/SamsonEtDalila.mp3)
Trích màn II opera “Samson et Dalila”
Âm nhạc: Camille Saint-Saëns
Libretto: Ferdinand Lemaire
Thể hiện: Elena Obraztsova
*****

Camille Saint-Saëns là một hiện tượng lạ trong số các nhà soạn nhạc Pháp thế kỉ 19 ở chỗ ông sáng tác hầu hết mọi thể loại, từ opera, giao hưởng, concerto, ca khúc nghệ thuật, hợp xướng tôn giáo và thế tục, tác phẩm cho piano độc tấu đến nhạc thính phòng. Tuy không phải là người tiên phong nhưng ông đã có những đóng góp nổi bật vào sự phát triển của các thể loại này cho nền âm nhạc Pháp và thế giới.

Các tác phẩm thính phòng và giao hưởng của Saint-Saëns đã thu hút được sự chú ý đáng kể nhưng danh tiếng âm nhạc đảm bảo hơn lại tồn tại trên sân khấu nhà hát. Chính điều này đã khơi mào cho những nỗ lực ban đầu để sau này trở thành vở opera nổi tiếng Samson et Dalila. Đây là tác phẩm duy nhất ở thể loại này của ông vẫn còn tồn tại đến ngày nay trên sân khấu opera thế giới cho dù ông đã soạn tới 13 vở.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/samsonDalila-rubens-ac-grenoble-frok.jpg

Bức tranh Samson et Dalila của Robens - Nguồn: ac-grenoble.fr

Nội dung của Samson et Dalila được dựa theo câu chuyện về Samson và Dalila trong Kinh Cựu Ước. Saint-Saëns bắt đầu hứng thú với đề tài này khi ông biết tin vở opera cùng đề tài của Rameau với libretto của Voltaire đã bị thất bại.

Ban đầu, Saint-Saëns định khai thác đề tài này cho một vở oratorio (thanh xướng kịch). Nhưng dưới ảnh hưởng của Ferdinand Lemaire, một người họ hàng và là tác giả libretto, nhà soạn nhạc đã chuyển hướng sang soạn opera:

"Một người họ hàng của tôi đã lấy một chàng trai làm thơ nghiệp dư. Tôi nhận ra rằng anh ta có năng khiếu và thực ra là có tài năng thật sự. Tôi đề nghị anh ta cùng tôi viết một vở oratorio về một đề tài trong Kinh Thánh. Anh ta kêu lên: ‘Một vở oratorio! Không, hãy biến nó thành một vở opera đi!’ Rồi anh ta bắt đầu lục lọi Kinh Thánh trong khi tôi vạch chương trình cho tác phẩm, thậm chí còn phác thảo các cảnh và chỉ để cho anh ta mỗi việc chuyển dịch thành thơ. Vì vài lý do tôi đã bắt đầu soạn nhạc với màn 2 rồi chơi tại nhà trước một đám khán giả chọn lọc, những người không thể làm gì với nó hết."

Quả vậy nếu không nhờ tình bạn thân thiết và ảnh hưởng từ Franz Liszt thì Samson et Dalila có lẽ đã không bao giờ được hoàn thành. Khi nghe đề cập đến dự án này, với sự đánh giá sáng suốt thường lệ của mình, Lizst nhận thấy ngay giá trị của tác phẩm. Được sự ủng hộ về mặt tài chính hào phóng từ đại công tước Weimar, Liszt khuyến khích Saint-Saëns hoàn thành dự án và hứa sẽ giúp dàn dựng tác phẩm.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/samson-mariinsky-ruok.jpg

Một trong những sân khấu cho vở Samson et Dalila - Nguồn: mariinsky.com

Cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra đã gây rất nhiều cản trở và phải mất tổng cộng tám năm thì Saint-Saëns mới viết xong Samson et Dalila. Khi màn 1 của vở opera được trình diễn tại Théâtre du Châtelet vào Ngày Thứ Sáu Tốt Lành năm 1875, phản ứng của công chúng khiến tác giả khá nản lòng.

Cùng năm 1875 ca sĩ giọng mezzo-soprano nổi tiếng Pauline Viardot, người mà Saint-Saëns chọn để sáng tác vai Dalila, đã tổ chức một buổi trình diễn riêng màn 2 tại nhà một người bạn của bà tại Croissy với tác giả đệm đàn piano. Viardot rất hâm mộ tác phẩm và hi vọng buổi trình diễn riêng sẽ khuyến khích Halanzier, giám đốc nhà hát Paris Opéra và là một trong số khán giả có mặt tại buổi này, sẽ cho trình diễn trọn vẹn tác phẩm.

Saint-Saëns đã soạn Samson et Dalila bắt đầu chính từ màn 2 này, màn có aria nổi tiếng Mon coeur s"ouvre a ta voix của Dalila khi nàng cố gắng quyến rũ để Samson tiết lộ bí mật về sức mạnh của mình. Khi trình diễn trên sân khấu opera, Samson đáp lại lời Dalila ở giữa hai khổ thơ của aria này bằng câu "Dalila! Dalila! Je t"aime!"


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/samson-operajaponica-orgok.jpg

Một cảnh trong vở Samson et Dalila - Nguồn: operajaponica.org

Tuy nhiên Halanzier đã không bị Viardot "chuốc say" và nói "Je t’aime" với tác phẩm này. Saint-Saëns hoàn thiện Samson et Dalila vào năm 1876 nhưng không một nhà hát Pháp nào bày tỏ mong muốn dàn dựng tác phẩm.

May mắn thay, Samson et Dalila vẫn được công diễn trọn vẹn lần đầu với phiên bản tiếng Đức vào ngày 2 tháng 12 năm 1877 tại Nhà hát Đại công tước tại Weimar đúng như lời cam đoan của Liszt. Từ đó nó được công diễn lần đầu với phiên bản tiếng Pháp tại nhà hát Paris Opéra năm 1892, nơi nó được dàn dựng tới 500 lần trước khi tác giả qua đời tựa như 500 lần bày tỏ tình yêu từ người Pháp sau những lần đầu cự tuyệt.

Tác phẩm là một sự tổng hợp của nhạc kịch kiểu Wagner với các hình thức opera Pháp và Ý, chứa đựng những kết cấu khéo léo và giai điệu hùng hồn. Samson et Dalila là "một giấc mộng về sự tinh khiết cổ xưa và thử nghiệm hiện đại", minh chứng một cách thấu đáo tài năng sáng tác của Saint-Saëns.



Ngọc Anh (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6907/index.aspx)(Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6953/index.aspx)) (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6907/index.aspx)



Mon coeur s’ouvre à ta voix

Với giọng chàng tim em rộng mở,
Tựa như những đóa hoa bừng nở
Với những nụ hôn của bình minh!

Nhưng hỡi người yêu dấu của em
Để lau khô cho em nước mắt,
Chàng hãy lại một lần cất tiếng!

Hãy nói với em rằng Dalila
Ta trở về với nàng mãi mãi,
Hãy đáp lại tình em âu yếm
Bằng những lời thề nguyện ngày xưa
Những lời thề nguyện mà em yêu!

Hãy đáp lại tình em âu yếm
Hãy chuốc em say, chuốc em say!

Như trên đồng lúa mì ta trông
Những bông lúa nhấp nhô lượn sóng
Trước cơn gió nhè nhẹ thổi tới
Như đang run rẩy trái tim em
Trái tim đang sắp sửa nguôi ngoai!
Với em giọng chàng sao thân thiết!

Mũi tên bay cũng chẳng nhanh chóng
Khi mang cái chết tới đích kia
Bằng người yêu sà vào lòng anh!

Hãy đáp lại tình em âu yếm
Hãy chuốc em say, chuốc em say!

Wal
01-06-2009, 17:57
Trò "dối gạt" và nỗi trớ trêuCó nhiều nhà soạn nhạc mà tên tuổi được đông đảo thính giả nhạc cổ điển ngày nay nhớ đến đến chỉ bằng một tác phẩm duy nhất. Và lẽ ra Tomaso Giovanni Albinoni (1671 - 1751) đã ở trong danh sách này nếu như không có một sự thật mới được phơi bày rằng tác phẩm nổi tiếng Adagio giọng Sol thứ không phải do ông sáng tác.

Bản nhạc: Adagio giọng Sol thứ
Tác giả: Remo Giazotto
Thể hiện: Dàn nhạc thính phòng Orpheus
***


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/adagio-sheetmusicplus-com.jpg

Một phần bản nhạc Adagio in Sol Minor - "trò dối gạt" của Giazotto,
cũng là nguồn cơn "nỗi oan trớ trêu" của nhà soạn nhạc Albinoni
Nguồn: sheetmusicplus.com

Năm 1945, một nhà âm nhạc học người Milan là Remo Giazotto tới thành phố Dresden để tìm kiếm tư liệu hoàn thành tiểu sử và danh mục tác phẩm của Albinoni. Trong đống đổ nát của thư viện bang Saxony tại Dresden đã bị bom của quân Đồng minh phá hủy, Giazotto tìm thấy một đoạn bản thảo dở dang.

Đoạn bản thảo này chỉ gồm dòng bè trầm và sáu ô nhịp của phần giai điệu, có lẽ được dự tính cho một chương chậm của một bản Trio Sonata hay Sonata da Chiesa (sonata nhà thờ) nào đó của Albinoni, nhà soạn nhạc thời Baroque mà Giazotto đang nghiên cứu tiểu sử.

Năm 1958, Giazotto cho xuất bản tác phẩm Adagio giọng Sol thứ viết cho dàn dây và đàn organ. Giazotto khẳng định rằng bản nhạc này được ông chuyển soạn dựa trên đoạn bản thảo dở dang nói trên của Albinoni.

Adagio giọng Sol thứ được coi là một trong những mẫu hình âm nhạc tuyệt vời nhất của thời kỳ Baroque và mau chóng trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Nó có mặt trong vô số tuyển tập nhạc cổ điển chọn lọc nơi mà nó sánh ngang với những trích đoạn nổi tiếng của các tên tuổi lớn thời Baroque như Vivaldi, Bach, Handel...

Tác phẩm này còn lan tỏa vào văn hóa đại chúng vì được sử dụng trong rất nhiều bộ phim, chương trình truyền hình và ca khúc nhạc pop ăn theo. Những bản thu âm mới của Adagio giọng Sol thứ do các nghệ sĩ nhạc cổ điển thực hiện vẫn đều đặn xuất hiện hàng năm.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/showmeloveok.jpg
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/60/2009/05/200px-The_Enigma_of_Kaspar_Hauser.jpg

Show Me Love và The Enigma of Kaspar Hauser -
hai trong số rất nhiều bộ phim có sử dụng bản nhạc Adagio giọng Sol thứ
của Giazotto vào phần soundtrack - Nguồn: imdb.com

Và rồi người ta đã khám phá ra trò lừa gạt của Giazotto: cái gọi là "khúc Adagio của Albinoni" hoàn toàn là sáng tác của chính Giazotto chứ không phải của Albinoni. Thư viện bang Saxony tại thành phố Dresden chưa từng sở hữu một đoạn bản thảo dang dở nào của Albinoni như Giazotto đã công bố.

Những trò lừa gạt kiểu này không phải là hi hữu trong thế giới âm nhạc cổ điển. Khá nhiều tác phẩm nổi tiếng mà công chúng và giới phê bình tưởng rằng là sáng tác của các nhà soạn nhạc hàng thế kỉ trước hóa ra lại mới được sáng tác gần đây bởi những Giazotto.

Các bản Violin Concerto "Adelaide" của Mozart; Viola Concerto của Handel; Cello Concerto của Bach hóa ra lại do anh em nhà Casadesus sáng tác. Violin Concerto in C major của Vivaldi; Aubade Provençale của Couperin... hóa ra là tác phẩm của của Fritz Kreisler.

Tomaso Giovanni Albinoni có một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm hơn 80 vở opera, 40 solo cantata, 79 sonata, 59 concerto và 8 sinfony... Những sáng tác của ông từng được Johann Sebastian Bach ca ngợi và sử dụng trong việc dạy nhạc. Bach cũng sử dụng một số chủ đề của Albinoni để viết các bản fugue cho đàn phím.

Và thật trớ trêu cho Albinoni khi ngày nay ông lại được nhớ đến nhiều nhất qua một tác phẩm không do mình sáng tác - bản Adagio giọng Sol thứ của Remo Giazotto (1910 - 1998).





Ngọc Anh (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6953/index.aspx) (Nguồn: Tuần Việt Nam)
(http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6953/index.aspx)

Ran
10-06-2009, 11:58
Haydn mất ngày 31/5/1809, bài báo này hơi trễ nhỉ.
Theo Thể thao văn hóa Cuối tuần, 5/6/2009: http://thethaovanhoa.vn/133N20090605102830287T0/cha-de-cua-nghe-thuat-phoi-khi-hien-dai.htm

KỶ NIÊM 200 NĂM NGÀY MẤT JOSEPH HAYDN[/URL] [URL="javascript:void(0);"]Cha đẻ của nghệ thuật phối khí hiện đại (http://thethaovanhoa.vn/133N20090605102830287T0/cha-de-cua-nghe-thuat-phoi-khi-hien-dai.htm#comment)



(TT&VH) - Cách đây đúng 200 năm, nhà khai sáng Franz Joseph Haydn (1732-1809) - tác giả của bài quốc ca Đức hiện nay - qua đời. Ông là một trong những nhà soạn nhạc xuất chúng của âm nhạc cổ điển và được tôn vinh là “cha đẻ của nhạc giao hưởng”. Và theo Thomas Mann, nhà văn Đức đoạt giải Nobel văn học năm 1929, thì Haydn còn là “cha đẻ của nghệ thuật phối khí hiện đại”.

Sinh ra tại một làng ở nước Áo, gần biên giới Hungari, giọng ca của Joseph Haydn có sức cuốn hút mạnh mẽ và chinh phục được George von Reuter - giám đốc âm nhạc của Nhà thờ Thánh Stephen tại Vienna - trong chuyến đi về các vùng quê nước Áo để tìm kiếm những “viên ngọc âm nhạc” còn thô ráp, chưa được mài giũa. Nhà thờ Thánh Stephen là một trong những nhạc viện hàng đầu châu Âu, với vô số các màn trình diễn các nhạc phẩm mới lạ, đặc sắc do những nhà soạn nhạc hàng đầu biên soạn. Do quá tuổi không thể tham gia dàn đồng ca của Nhà thờ Thánh Stephen, Joseph phải chuyển sang “hành nghề tự do” cho đến khi được Bá tước Morzin giao cho chỉ huy một dàn nhạc. Khi Bá tước Morzin bị khủng hoảng tài chính, Haydn buộc phải chia tay với ban nhạc và nhận công việc phụ tá nhạc trưởng của Hoàng tộc Eszterházy, một trong những gia tộc có thế lực nhất trong Đế chế Áo-Hung lúc bấy giờ. Năm 1766, Joseph Haydn được trao danh vị nhạc trưởng.



http://img.thethaovanhoa.vn/Images/Uploaded/Share/2009/06/05/be8josephhaydn1.jpg
Chạy trốn vinh quang

Sau khi đã thành danh, nhạc sĩ thiên tài người Áo này lại thờ ơ trước sự kỳ vọng của các nhà tài trợ và các nhà phê bình âm nhạc, tập trung nghiên cứu những bí mật và tiềm năng của âm thanh, rồi sau đó viết ra những bản nhạc trừu tượng, lạ tai, đi trước thời đại và đôi khi phản cảm đối với những đôi tai thủ cựu. Ðó cũng là tâm trạng chung của các nhạc sĩ thiên tài như Ludwig Van Beethoven, Johan Sebastian Bach...

1760, ở tuổi 35, Haydn một mình làm việc tại một căn phòng biệt lập trong lâu đài Eszterháza của người đỡ đầu là Hoàng thân Nicolaus Eszterházy. “Phòng thí nghiệm” là cụm từ chính xác nhất để mô tả “viện nghiên cứu âm nhạc” của Haydn. Ở đây, người ta có thể chiêm ngưỡng các bức chân dung nổi tiếng của Haydn và trông ông giống một nhà khoa học nhiều hơn một nhạc sĩ tài hoa. Lâu đài Esterháza không chỉ là một phòng thí nghiệm mà còn là nơi khai sinh ra một trào lưu âm nhạc mới, cho ra đời những tác phẩm âm nhạc kết hợp hài hòa giữa óc sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ và tính cận thẩn của một thợ lành nghề. Trong bầu không khí tĩnh lặng này, một cuộc cách mạng âm nhạc đã được châm ngòi. Tại lâu đài Esterháza, Haydn đã tạo ra phần lớn trong số những tác phẩm âm nhạc bất hủ của ông.



http://img.thethaovanhoa.vn/Images/Uploaded/Share/2009/06/05/Bia-mo-cuaJosephHaydn.jpg
Bia mộ của Joseph Haydn


Âm nhạc của Joseph Haydn đầy chất tìm tòi, trái ngược với sự lãng mạn trữ tình “mê hoặc lòng người” của “lãng tử” Wolfgang Amadeus Mozart. Ðó cũng là điều dễ hiểu vì Mozart là một nhạc sĩ hành nghề tự do và có những người hâm mộ thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, trong khi Joseph Haydn là một nhà soạn nhạc cung đình và chỉ phục vụ sở thích của ông chủ duy nhất là Hoàng thân Nikolaus Eszterházy.

Suốt 30 năm, nhà soạn nhạc Joseph Haydn phải chiều theo sở thích âm nhạc của vị “Mạnh thường quân” sành nhạc nhưng vô cùng cá biệt này. Sở thích phản ánh cá tính của Hoàng thân Nicolaus Eszterházy, một con người phóng khoáng, không muốn bị ràng buộc vào những luật lệ hiện hành và theo đuổi đến cùng những gì mà ông ham muốn. Dưới sự bảo trợ của Hoàng thân, Joseph Haydn không phải lo kiếm kế sinh nhai và thả sức tìm tòi, sáng tạo cách phối khí mới lạ để phục vụ một thính giả duy nhất, chứ không phải che giấu sự sáng tạo của mình trong cái vỏ ngoài của dòng âm nhạc thời thượng, đại chúng như Mozart.

Các tác phẩm của Haydn luôn tiềm ẩn các nốt nhạc “khiêu khích, phá phách và đôi khi cuồng loạn”. Nó lột tả tâm trạng khiếp sợ, những cơn ác mộng luôn ám ảnh nhân loại. Chỉ có điều, mọi thứ đều có chừng mực và các thành tố âm nhạc được pha trộn đúng liều lượng trong “phòng thí nghiệm” của Haydn. Thiên tài của Joseph Haydn là ở chỗ ông đã kết hợp được nhuần nhuyễn các thành tố đối kháng thành một thực thể thống nhất, một bản nhạc giao hưởng kinh điển.

Tình bạn với Mozart

Tuy ẩn mình trong lâu đài Esterháza suốt 30 năm trời, nhưng chính âm nhạc đã giúp ông làm bạn với Wolfgang Amadeus Mozart. Hai nhà soạn nhạc thiên tài này khâm phục tài năng của nhau và Haydn đã không tiếc lời ca ngợi Mozart. Về phần mình, “Thần đồng âm nhạc” Mozart cũng rất kính trọng Haydn. Điều này thể hiện qua sáu bản tứ tấu mà ông dành tặng cho Haydn. Giống như các nhạc công trong Hoàng tộc Eszterházy, Mozart gọi Joseph Haydn là “Cha Haydn”, mặc dù ông không hề được diễm phúc làm cha theo đúng nghĩa đen của từ này.



http://img.thethaovanhoa.vn/Images/Uploaded/Share/2009/06/05/47ejosephhaydn3.jpg
Haydn trong một buổi biểu diễn

Khác với Mozart, Haydn tuyệt không được đào tạo âm nhạc một cách có bài bản. Ông chỉ học lỏm ở người thầy “bất đắc dĩ” là nhạc sĩ nổi tiếng người Italia Nicolo Porpora. Ông viết trong hồi ký: “Tôi không được học một thầy dạy nhạc nào. Trong lĩnh vực sáng tác, tôi chỉ nghe và nghiên cứu tác phẩm của các nhạc sĩ khác”. Theo cung cách ấy, ông cũng học được nhiều từ các tác phẩm của nhà soạn nhạc Philipp Emanuel Bach, người sau này được Haydn công nhận là có ảnh hưởng quan trọng đến sự nghiệp âm nhạc của ông.

Cũng không giống Mozart - người đã dành một phần ba cuộc đời để chu du khắp thiên hạ, Haydn sống thu mình suốt 30 năm trong cung điện của Hoàng tộc Eszterházy (từ 1760 đến 1790), trên cương vị phụ tá nhạc trưởng và nhạc trưởng ban nhạc cung đình. Đây là một chức vị danh giá, nhưng hoàn toàn cách biệt với thế giới âm nhạc bên ngoài.

Khi người đỡ đầu của ông, Hoàng thân Nikolaus Eszterházy qua đời năm 1790, Haydn không chịu “về hưu” mà tạo ra một bước đột phá mới trong sự nghiệp âm nhạc của mình. Sử sách viết rằng chính “lãng tử” Wolfgang Amadeus Mozart - một nhạc sĩ thiên tài “hành nghề tự do” - đã dùng cách “khích tướng” để khuyên ông rời bỏ chiếc lồng “sơn son thếp vàng” của Hoàng tộc Eszterházy, khi chê Haydn “mù tịt” về thế giới bên ngoài và “không biết ngoại ngữ”.

Trước lời chê bai hảo ý này, Joseph Haydn biện bạch: “Dù sao thì toàn thế giới đều hiểu thứ ngôn ngữ (âm nhạc) mà tôi đang dùng”. Trên thực tế, vào chính thời điểm đó, nhiều nhạc phẩm của Haydn không chỉ nổi tiếng ở Ðế chế Áo-Hung mà còn được biểu diễn trên toàn thế giới.

Tuy nói cứng, nhưng sau đó, Joseph Haydn đã hai lần lưu diễn ở London và cả hai lần đều rất thành công. Ông đã được khán thính giả đón chào nồng nhiệt, được Hoàng gia Anh nghênh tiếp và được Ðại học Oxford danh tiếng trao bằng “Tiến sĩ âm nhạc”. Trong thời gian ở London, Haydn đã sáng tác được 12 bản giao hưởng với phong cách hoàn toàn mới lạ.

Sống mãi với thời gian

Sau khi từ London trở về Vienna, Joseph Haydn đã trở thành một con người khác hẳn và bắt đầu sáng tác những bản giao hưởng trữ tình, vui tươi, lãng mạn. Theo thời gian, âm nhạc của ông ngày càng trở nên chín muồi, đa dạng mà không hề phá vỡ những chất liệu cấu thành nó. Dần dà ông đã trở thành một nhạc sĩ của đại chúng, sống trong ngôi nhà riêng và không còn dựa dẫm vào giới quý tộc. Haydn tiếp tục sáng tác hai bản giao hưởng nổi tiếng mang tên Sáng tạo và Bốn mùa, những tác phẩm mang tính tổng kết cả sự nghiệp âm nhạc của ông. Trong khi Sáng tạo chứa đựng nhiều yếu tố tôn giáo, thì Bốn mùa lại mang phong cách dân ca. Hai bản giao hưởng này chính là hai bức tranh được vẽ bằng các nốt nhạc. Chúng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc của Haydn: không còn bị trói buộc bởi thứ nhạc cung đình và hướng tới phục vụ quảng đại quần chúng. Với việc thử nghiệm các sắc màu âm thanh mới, Haydn đã mở đường cho trào lưu âm nhạc hiện đại sau này và được nhạc sĩ thiên tài người Hungari Franz Liszt kế thừa và phát triển. Nhờ vào những thử nghiệm nói trên, các tác phẩm của Joseph Haydn sống mãi với thời gian và luôn mang mình theo hơi thở thời đại, của quá khứ, hiện tại và tương lai.



Minh Châu (tổng hợp)

Wal
27-06-2009, 11:04
Le Carnaval des Animaux



(Ngày hội của muông thú)



Tác giả: Camille Saint-Saëns
Thời gian sáng tác: tháng 2 năm 1886
Thời lượng: khoảng 20 đến 25 phút
Tổng phổ : flute, clarinet, 2 piano (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Instrument&op=Detail&cid=511), glass harmonica (ngày nay được thay bằng glockenspiel), xylophone, 2 violin, viola, cello và double bass.

Tác phẩm gồm 14 khúc nhạc :
I- Introduction et marche royale du Lion (Introduction và Hành khúc hoàng gia của sư tử)
II- Poules et Coqs (Lũ gà mái và gà trống)
III- Hémiones, animaux véloces (Những con lừa; những con thú nhanh nhẹn)
IV- Tortues (Những con rùa)
V- L'Éléphant (Con voi)
VI- Kangourous (Những con kăng-gu-ru)
VII- Aquarium (Bể nuôi cá)
VIII- Personnages à longues oreilles (Những nhân vật với đôi tai dài)
IX- Le coucou au fond des bois (Chim cu ở sâu trong rừng)
X- Volière (Chuồng chim)
XI- Pianistes (Những nghệ sĩ piano)
XII- Fossiles (Những hóa thạch)
XIII- Le Cygne (Thiên nga)
XIV- Finale

Saint-Saëns soạn Ngày hội của muông thú vào tháng 2 năm 1886 trong trong một kỳ nghỉ ở một làng nhỏ thuộc nước Áo. Đây là một tác phẩm vui nhộn, thỏa mãn được tính cách hóm hỉnh tinh nghịch của nhà soạn nhạc. Trong suốt sự nghiệp sáng tác và giảng dạy của mình, Saint-Saëns đã thích thú viết hoặc ứng biến các tác phẩm nhại lại một cách hài hước tạo ra sự vui vẻ cho một sáng tác hay phong cách âm nhạc nào đó. Tại trường Niedermeyer, nơi ông dạy những nhạc sỹ trẻ người Pháp sáng giá nhất, ông vẫn thường tránh những bài học nhàm chán bằng cách hướng dẫn học trò nhại lại theo phong cách này.


http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/SaintSaensAvatar.jpg
Saint-Saens (Ảnh: ivasinet)


Lúc sinh thời Saint-Saëns, chỉ có một buổi trình diễn nhỏ toàn bộ tổ khúc dành cho nhóm bạn thân trong đó có Franz Liszt. Ngoại trừ khúc nhạc Thiên nga, Saint-Saëns không cho phép xuất bản Ngày hội của muông thú khi ông còn sống, bởi vì ông sợ rằng nó sẽ vượt trên các tác phẩm nghiêm túc hơn của ông. Hơn nữa, một năm trước đó, việc viết một tác phẩm dí dỏm và khá đơn giản là Wedding Cake (Chiếc bánh cưới) đã khiến ông bị mang tiếng là tác giả “nhạc nhẹ”. Toàn bộ tổ khúc Vũ hội giả trang các con thú chỉ được xuất bản sau khi Saint-Saëns qua đời theo nguyện vọng và di chúc của ông. Nó trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Cùng với các tác phẩm Peter và chó sói của Prokofiev và Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ của Britten, Vũ hội giả trang các con thú cũng là tác phẩm được các em nhỏ và giáo viên dạy nhạc ưa thích vì rất rất phù hợp trong việc giảng dạy âm nhạc.

Sau này nhà thơ Mỹ Frederic Ogden Nash(1902 – 1971), người nổi tiếng với các câu thơ vui nhộn và đầy hàm ý, đã viết một tập thơ hài hước tương ứng với mỗi khúc nhạc của tổ khúc Vũ hội giả trang các con thú của Camille Saint-Saëns. Những câu thơ dí dỏm này thường được ngâm lên trong các buổi trình diễn tổ khúc.

I- Introduction et marche royale du Lion (Introduction và Hành khúc hoàng gia của sư tử)
Có sự tham gia của các đàn dây và 2 piano. Phần introduction bắt đầu bằng 2 piano chơi tremolo đậm nét, các đàn dây tham gia vào bằng một chủ đề trang nghiêm. Sau đó piano trình bày một chủ đề hành khúc trong suốt phần còn lại của chương nhạc. Các đàn dây trình bày giai điệu và đàn piano thỉnh thoảng chạy những quãng tám thấp hoặc ostinato cao. Chương nhạc kết thúc bằng một nốt fortissimo ở tất cả các nhạc cụ.


http://www.odcreunion.com/72/2009/carnaval-des-animaux-web.jpg
Poster trong một buổi công diễn tác phẩm này (Ảnh: odcreunion)





Giới thiệu



Camille Saint-Saëns



Rất lấy làm phiền



Khi bị mọi người



Gọi là Saint-Saens.



Vì tên ông chẳng thể phát âm,



Ông trách cứ loài người,



Nên ông quay sang dùng sáo



Và máy đếm nhịp để ngợi ca loài khác,



Im lặng nào - ông bắt đầu chào



Những loài có vây, lông vũ, lông mao.



Sư tử



Sư tử là vua của muôn loài,



Và là chồng của sư tử cái.



Linh dương và những con nó xơi tái



Gọi nó là tôn ông, điện hạ.



Ở châu Phi nơi thảo nguyên, rừng rậm



Có những con hâm mộ tiếng nó gầm,



Nhưng tôi nghĩ bất cứ nơi nào



Sử tử ở thì tôi không muốn ở.

http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/a-3.jpg



II- Poules et Coqs (Lũ gà mái và gà trống)
Có sự tham gia của các đàn dây trừ double-bass ; 2 piano và clarinet. Chương nhạc này gợi nên hình ảnh một đàn gà với những tiếng gáy, tiếng mổ hạt. Clarinet chơi những đoạn solo âm lượng nhỏ khi các nhạc cụ còn lại tạm nghỉ.



Gà trống và gà mái



Gà trống là tên du côn om sòm,



Cúc-cù-cu là cuộc đấu tiếng.



Lũ gà mái trong ổ giương mắt,



Nó bỏ qua, huýt gọi mái tơ cơ.



III- Hémiones, animaux véloces (Những con lừa; những con thú nhanh nhẹn)
Có sự tham gia của 2 piano. Các con vật được mô tả ở đây rõ ràng là đang chạy và hình ảnh được gợi nên bằng chuyển động lên xuống nhanh nhẹn luống cuống không ngớt của cả hai piano chơi các gam quãng tám.



Con lừa hoang



Đã bao giờ bạn nghe tiếng lừa hoang,



Mà các chuyên gia gọi là lừa rừng trung Á ?



Tiếng nó kêu như tiếng cười của bé ngốc



Hay tiếng nhạc công jazz chơi hòa âm,



Nhưng đừng có chế nhạo lừa hoang,



Nó hô hố cũng theo cách thức



Như thỏ thẻ giọng và đỏ mặt thẹn ở con gái



Nàng lừa hoang đáp lại tiếng chàng lừa.



IV- Tortues (Những con rùa)
Có sự tham gia của các đàn dây và 1 piano. Một chương nhạc hơi trào phúng mở đầu bằng piano rồi các đàn dây thể hiện một cách chậm rãi đến khó chịu điệu “Can-Can” nổi tiếng trích từ operetta (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Songtype&op=Detail&cid=571) Orphée aux Enfers (Orphée ở địa ngục) của Offenbach.

V- L'Éléphant (Con voi) - Allegro Pomposo
Có sự tham gia của double-bass và 1 piano. Đây là bức tranh biếm họa hoàn hảo về một con voi. Double-bass ậm ừ trên nền nhịp valse của piano. Giống như chương “Những con rùa”, chương nhạc này khá hài hước - chất liệu chủ đề được lấy từ nhạc nền cho vở kịch Giấc mộng đêm hè của Felix Mendelssohn và Dance of the Silphs (Vũ khúc Silphs) của Hector Berlioz. Cả hai chủ đề ban đầu đều được viết cho những nhạc cụ giọng cao (flute và những nhạc cụ gỗ khác, violin), trò đùa của Saint-Saëns là chuyển nó sang cho nhạc cụ có giọng thấp và nặng nề hơn trong dàn nhạc là double-bass.



Con voi



Những con voi là người bạn có ích,



Trang bị bằng cả mũi và đuôi,



Chúng có bộ da bị nhậy cắn nhăn nheo,



Răng mọc thò ra ngoài lộn xộn,



Nếu bạn nghĩ rằng voi lố bịch,



Có thể bạn chưa thấy mũi tê giác bao giờ.


VI- Kangourous (Những con kăng-gu-ru)
Có sự tham gia của 2 piano. Những cú nhảy quãng cách nhanh nhẹn và duyên dáng trên đàn phím miêu tả những con kăng-gu-ru.



Kăng-gu-ru



Kăng-gu-ru có thể nhẩy rất siêu,



Nó phải nhẩy vì người ăn thịt nó,



Tôi không ăn được thịt kăng-gu-ru,



Nhưng nhiều thổ dân Úc thì có,



Những người có bum-mơ-rang và sách dạy nấu,



Thì khoái bánh nhân thịt nó hơn.


VII- Aquarium (Bể nuôi cá)
Có sự tham gia của các đàn dây trừ double-bass, 2 piano, flute và glass harmonica. Đây là một trong những chương giàu tính âm nhạc nhất. Flute rồi đến các đàn dây chơi giai điệu trên nền âm thanh gợn sóng lăn tăn được piano và glass harmonica thể hiện.



Bể cá



Một số là săn sắt,



Một số là cá voi,



Người thích lúm đồng tiền,



Cá thì thích vảy đẹp,



Một số cá mảnh dẻ



Một số cá tròn mình,



Chúng chẳng bị cảm lạnh



Cũng chẳng chết đuối đâu,



Nhưng mọi bà bán cá



Lo cho cá của mình,



Loài ta gọi “người cá”



Cá gọi “cá mình người”.


VIII- Personnages à longues oreilles (Những nhân vật với đôi tai dài )
Có sự tham gia của 2 violin. Đây là chương ít tính trữ tình nhất trong tác phẩm. Hai đàn violin luân phiên nhau tạo nên những tiếng rít cao chói tai và những nốt thấp rì rầm khó có thể nghe ra giai điệu.



Những con la



Trong thế giới loài la



Làm gì có luật lệ



(Trong thế giới loài la, ha ha



Làm gì có luật lệ)


IX- Le coucou au fond des bois (Chim cu ở sâu trong rừng)
Có sự tham gia của 2 piano và clarinet. Piano chơi những hợp âm rộng mềm mại trong khi clarinet chơi ostinato hai nốt Đô và La giáng lặp đi lặp lại, bắt chước tiếng kêu của một tổ chim cu.



Chim cu gáy hoang



Lũ cu gáy sống đời sống hoang toàng,



Chúng lơ là trách nhiệm chồng và vợ,



Vì thế chúng làm mất thể diện



Mọi cuộc hôn nhân khác của người.


X- Volière (Chuồng chim)
Có sự tham gia của các đàn dây, 2 piano và flute. Các đàn dây giọng cao đảm nhận bè đệm, tạo ra tiếng rì rầm như tiếng động trong rừng, cello và double-bass chơi điểm nhịp dẫn vào hầu hết các ô nhịp. Flute đóng vai trò tiếng chim với giai điệu trill trải rộng trong tầm âm của nó. Hai piano thi thoảng tạo ra những tiếng chát chúa hay trill của những con chim khác. Chương nhạc kết thúc một cách lặng lẽ sau một tiếng vút cao của flute.



Những con chim



Puccini thuộc La-tinh, Wagner thuộc Giéc-manh,



Những con chim mãi thuộc philharmonic,



Các sân ngoại ô và cảnh thôn dã



Đầy những “Chị em nhà Andrew” chim. (*1)



Chim chiền chiện hót một đoản khúc chim,



Bài “Đường tới Mandalay” do quạ hát,



Chim sơn ca hát một bài hát ru,



Chim mòng biển hát bài ca mòng biển,



Dân chăn cừu ở Arcadia nghe thứ đó



Trước khi radio được phát minh.


XI- Pianistes (Những nghệ sĩ piano)
Có sự tham gia của các đàn dây và 2 piano. Saint-Saëns để chính các nghệ sĩ piano tham gia cùng bầy thú, mô phỏng những giờ tập gam của họ bằng một đoạn trải ra như bài thực hành đàn phím chán ngắt.



Những nghệ sĩ piano



Một số khẳng định những nghệ sĩ là người,



Và trích dẫn trường hợp của Truman.



Saint-Saëns thì đứng về phe kia,



Coi họ là một band xoàng xĩnh,



“Họ là tai họa và là khỉ không đuôi



Thay vì là con người” – ông nói.

http://www.satoshiland.com/tcota.jpg
Cover một chiếc đĩa (Ảnh: satoshiland)



XII- Fossiles (Những hóa thạch)
Có sự tham gia của các đàn dây, 2 piano, clarinet và xylophone. Tại đây Saint-Saëns đã bắt chước sáng tác của chính mình, bản Danse Macabre (Vũ khúc ma quỷ). Xylophone được sử dụng nhiều để gợi nên hình ảnh những bộ xương đang nhảy múa va đập vào nhau lách cách. Các chủ đề âm nhạc trong Danse Macabre cũng được trích dẫn; xylophone chơi phần lớn giai điệu và được piano và clarinet thay phiên. Bè piano ở đây đặc biệt khó với các quãng tám. Có thể nghe thấy các đoạn giai điệu trong ca khúc thiếu nhi Twinkle Twinkle Little Star và aria Una Voce Poco Fa trích từ operaIl Barbiere di Siviglia của Rossini.



Những hóa thạch



Ở viện bảo tàng lúc nửa đêm,



Những hóa thạch tụ tập khiêu vũ,



Không có saxophone hay trống,



Chỉ có tiếng lách cách xương khô,



Lăn lộp cộp theo vòng thảnh thơi



Những điệu polka và mazurka ma mút,



Khủng long ăn cỏ và thằn lằn ngón cánh



Hát hợp xướng thời tiền sử linh thiêng



Ở giữa đám chè chén đến là vui



Tôi gặp cái nhìn một tiểu hóa thạch,



“Niềm vui tuyệt chủng” – nó nháy mắt ra hiệu.



“Hãy làm thế giới buồn phấn chấn lên”.


XIII- Le Cygne (Thiên nga)
Đây là khúc nhạc nổi tiếng nhất trong tổ khúc, được viết cho 2 piano và 1 cello nhưng cũng thường được sử dụng để phô diễn kĩ năng trình tấu của nghệ sĩ cello. Giai điệu được cello chơi trên nền hòa âm của hai đàn piano. Một piano thể hiện tiếng mặt nước lao xao, một piano thể hiện tiếng sóng cuồn cuộn.

Thiên nga được viết tặng nghệ sĩ cello Charles-Joseph Lebouc đang về già, người nổi tiếng vì nghệ thuật trình diễn và vì là con rể của ca sĩ nổi tiếng Adolphe Nourrit. Saint-Saëns đã hứa soạn một tác phẩm solo dành cho nghệ sĩ này nhiều năm trước nhưng ông đã trì hoãn dự định đó. Đến thời điểm Saint-Saëns soạn Ngày hội của muông thú, Lebouc đã trở thành một đề tài bông đùa trong giới trình diễn đàn dây vì tuổi tác đã khiến ông trình diễn tồi đi. Một lần, ông đã trình diễn Thiên nga với vẻ êm ái cao độ khiến những đồng nghiệp chơi cello phải chú ý tới sự kỹ lưỡng trong cách chơi của ông.



Thiên nga



Thiên nga vừa ngồi vừa bơi được,



Đội mũ miện chỉ vì kiêu thôi mà,



Soi gương đi, soi gương lại rồi ca :



“Ta chưa từng nghe về Pavlova.”


Trong đoạn thơ tương ứng với khúc nhạc Thiên nga, Frederic Ogden Nash có nhắc đến nữ diễn viên ballet huyền thoại người Nga Anna Pavlova (1881 – 1931). Lấy cảm hứng từ những con thiên nga trong công viên, Anna Pavlova đã cộng tác với biên đạo múa Michel Fokine để sáng tạo ra một vũ điệu ballet solo nổi tiếng có tên La Mort du Cygne (Cái chết của thiên nga). Kịch bản ballet này được dựa theo một bài thơ của Alfred Tennyson mà Michel Fokine đọc được còn nhạc nền chính là Thiên nga của Saint-Saëns. Ballet Cái chết của thiên nga đượcAnna Pavlova trình diễn lần đầu năm 1905.

BalletCái chết của thiên nga đã trụ lại trong vốn tiết mục biểu diễn ballet và được vô số nữ diễn viên ballet biểu diễn, trong số đó có Madame Napierkowska, người đã trình diễn tiết mục này trong một recital năm 1921 mà chính Saint-Saëns cũng có mặt chỉ vài tuần trước khi ông qua đời.

XIV- Finale
Có sự tham gia của tất cả các nhạc cụ. Phần Finale mở đầu bằng những nốt chạy tremolo ở đàn piano như trong phần Introduction. Những nhạc cụ hơi, harmonica và xylophone mau chóng tiếp viện. Dàn dây tạo nên sự căng thẳng bằng những nốt thấp dẫn vào phần glissando của piano, rồi tạm dừng trước khi giai điệu chính sôi động được trình bày. Mặc dù giai điệu khá đơn giản nhưng những hòa âm đệm theo được trang hoàng theo phong cách sáng tác cho piano của tác giả, những gam chói lọi, những nốt vuốt (glissando) và nốt láy (trill). Nhiều chương nhạc trước được trích dẫn tại đây: Introduction, Những con lừa, Gà mái và kăng-gu-ru. Tác phẩm kết thúc bằng một nhóm hợp âm Đô trưởng mạnh mẽ.



Grand Finale



Giờ ta đã đến phần Grand Finale,



Về vũ hội hóa trang loài vật,



Những tiếng ồn mới trên biển và đất,



Phát ra từ band nhóm tài năng,



Mọi đàn dây vặn xoắn đặc trưng,



Mô phỏng cho những loài sinh vật,



Mọi kèn đồng như càu nhàu phụng phịu



Bằng cách thổi ra tiếng ồm ồm



Vượt hẳn Barnum & Bailey và Ringling rồi. (*2)



Saint Saëns làm nên điều kỳ diệu.


Chú thích :
(*1) “Chị em nhà Andrew” (The Andrews Sisters) là tên một nhóm hợp ca ở Minnesota, Hoa Kỳ gồm 3 chị em: LaVerne Sophie Andrews, Maxene Angelyn Andrews và Patricia Marie Andrews.
(*2) Phineas Taylor Barnum (1810 – 1891) là một ông bầu Mỹ nổi tiếng, người thành lập ra các gánh xiếc Ringling Bros và Barnum & Bailey.



na9 (dịch thơ và tổng hợp)



____________________

Thưởng thức CD này:


http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/front_cr022.jpg
London Sinfonietta · Philharmonia Orchestra · Charles Dutoit

[/URL][URL="http://www.mediafire.com/?gjneuz2yzg2"]LINK Download (http://www.mediafire.com/?5fwwtdoenm2)





The Carnival of the Animals
Phaéton, op.39
Le Rouet d'omphale, op.31
Danse macabre, op.40

Wal
25-08-2009, 14:00
Franz Liszt - nghệ sĩ lãng mạn lớn của Hungary

Cách đây ba năm, vào năm 2006, nền âm nhạc Hungary đã có chuỗi kỷ niệm rất trọng thể 195 năm ngày sinh và 120 năm ngày mất của nhạc sĩ vĩ đại Franz Liszt, người con lớn của dân tộc Hung, được đánh giá là nhà soạn nhạc tài ba và toàn diện nhất của dòng nhạc lãng mạn thế kỷ XIX, đồng thời, là nghệ sĩ dương cầm lớn nhất của mọi thời đại.

Bản (http://tuanvietnam.net/Library/medias/Hungarian-Rhapsody-No-2-in-C-Sharp-Minor.mp3)Hungarian Rhapsody (http://tuanvietnam.net/Library/medias/Hungarian-Rhapsody-No-2-in-C-Sharp-Minor.mp3)
(Cuồng tưởng khúc Hungary)
Trình bày: Lakatos

Franz Liszt (tên Hungary: Liszt Ferenc) có lẽ là người khổng lồ hiếm có trong nền văn hóa Hungary, một "công dân thế giới" ưu tú theo đúng nghĩa của từ này. Chẳng những là "ông hoàng" của trường phái Lãng mạn, là danh cầm đệ nhất được giới nhạc thừa nhận, Liszt còn là thủ lĩnh tinh thần của đời sống văn hóa đương thời, là người dìu dắt và bảo trợ cho nhiều nhạc sĩ lớn.

Với việc tạo dựng một hình thái âm nhạc mới, Liszt đã làm giàu cho lịch sử âm nhạc, và đáng nói là ông đã có nhiều nỗ lực không mệt mỏi để đưa vẻ đẹp của âm nhạc đến những giai tầng cùng khổ của xã hội. Trong Franz Liszt, có sự hòa trộn thiên tài của các nền văn hóa Hungary, Áo và Pháp, khiến ông trở thành một nhân sĩ, một nhà văn hóa có tầm hiểu biết rộng lớn của thế kỷ XIX.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/08/liszt.jpg
Franz Liszt (1811-1886), đệ nhất danh cầm của mọi thời đại, nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của trường phái Lãng mạn


Chào đời năm 1811 tại Hungary trong một gia đình có cha là một sĩ quan từng chơi nhạc trong dàn nhạc cung đình và mẹ là một phụ nữ Áo, ngay từ thuở nhỏ, Liszt đã tỏ ra là một thần đồng. Được cha để tâm dạy dỗ dương cầm từ rất sớm, năm 9 tuổi, cậu bé Franz Liszt đã có buổi công diễn piano đầu tiên trước cử tọa đông đảo.

Lối trình diễn dương cầm bay bổng của cậu bé khiến một vài nhà quý tộc kinh ngạc và khâm phục: họ đã góp tiền để Liszt có thể theo học nhạc tại Vienna, thủ đô âm nhạc thế giới thời ấy. Tại đây, cậu bé cũng chinh phục khán giả Áo, ngay Beethoven cũng chú ý đến tài năng đặc biệt của Liszt.

Năm 1923, chàng thiếu niên Franz Liszt mới 12 tuổi đã từ giã nước Hung trong một buổi hòa nhạc lớn: để tiếp tục con đường âm nhạc, Liszt cùng thân mẫu đi biểu diễn một vòng tại Anh, Pháp rồi định cư ở Paris hoa lệ.

Tại "Kinh thành Ánh sáng", đời sống tinh thần của trung tâm văn hóa này đã có tác động lớn tới Liszt: ngoài âm nhạc, văn học và các trào lưu triết học cũng khiến chàng thiếu niên Liszt mê mẩn. Tuy nhiên, năm 16 tuổi, Liszt đã trải qua một cơn chấn động lớn: thân phụ anh qua đời và chàng trai mất đi một chỗ dựa chính yếu.

Những chuyến công diễn khắp nơi bị ngưng lại, từ đó, Liszt phải kiếm kế sinh nhai bằng nghề dạy đàn dương cầm. Cái chết của người cha, cũng như mối tình đầu bất thành đã khiến Franz Liszt bị chứng trầm cảm nặng nề, anh sống ẩn dật và cách ly với thế giới bên ngoài.

Ba năm sau, cuộc cách mạng Pháp 1830 đã đưa chàng thanh niên Franz Liszt 19 tuổi trở lại với cuộc sống xã hội. Trong làn gió của sự đổi mới và tri thức, Liszt làm bạn với những nhân vật hàng đầu của giới nghệ thuật đương thời, như Chopin, Berlioz, Paganini, Lamartine, Heine, George Sand...


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/08/marie.jpg
Nữ bá tước Marie d’Agoult, người dẫn dắt Liszt Ferenc vào giới nghệ thuật Paris, mẹ của ba đứa con với nhà soạn nhạc (trong số đó, cô con gái thứ hai Cosima sau là vợ của nhạc sĩ Richard Wagner)


Năm 23 tuổi, Liszt làm quen với nữ bá tước Marie d’Agoult và cuộc tình say đắm kéo dài trong 10 năm này đã chắp cánh cho ông trong bước đường nghệ thuật: Liszt đi diễn ở hầu hết các thành phố lớn ở châu Âu và cho ra đời một số nhạc phẩm quen biết. Sau khi trở thành một danh cầm thượng thặng, ông còn được biết đến như một nhạc trưởng tài ba.

Trong những năm ấy, ý thức xã hội trong Franz Liszt cũng chín muồi, ông cảm nhận được rằng cần đưa âm nhạc ra khỏi khuôn khổ những phòng diễn xa hoa chỉ dành cho giới quý tộc, mang đến với quần chúng lao khổ.

Lịch sử âm nhạc còn ghi lại buổi hòa nhạc miễn phí đầu tiên, do Liszt thực hiện, vào năm 1841, tại Toulouse. Ở đây, Liszt trao doanh thu của một buổi hòa nhạc từ thiện cho đại diện giới thợ thuyền.

Một công nhân, sau khi cám ơn tấm lòng của người nghệ sĩ, đã tỏ ý tiếc vì quần chúng cực khổ không bao giờ được nghe hòa nhạc do giá vé quá đắt. Lập tức, Liszt hoãn chuyến đi và chơi miễn phí một buổi cho giới thợ!


Bản nhạc Liebestraum (http://tuanvietnam.net/Library/medias/Liebestraum.mp3)
(Giấc mơ tình yêu)
Trình bày: Richard Clayderman

Năm 1842, Franz Liszt định cư vĩnh viễn tại Weimar (Đức) và trong vòng 13 năm sau, ông đứng đầu dàn nhạc cung đình. Nhiệm vụ này đòi hỏi ông phải tập trung sáng tác và không thể đi lưu diễn khắp nơi như trước đó. Cũng bởi vậy, kể từ đấy, Liszt tạm ngưng sự nghiệp biểu diễn để chuyển sang sáng tạo và đại đa số các tác phẩm lớn của ông ra đời trong khoảng thời gian này.

Đồng thời, ông cũng có điều kiện bảo trợ các tài năng trẻ, cả về tinh thần lẫn tài chính, như trong trường hợp của Richard Wagner. Năm 1875, ông sáng lập Nhạc viện Budapest và là giảng viên đầu tiên tại đó; nhạc viện này, đến nay vẫn mang tên Franz Liszt và là một trung tâm đào tạo âm nhạc lớn trong vùng Đông Âu.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/08/uni.jpg

Đại học Âm nhạc Franz Liszt (Budapest)


Tuy nhiên, trong khi sự nghiệp âm nhạc của Liszt thăng hoa ở mức cao nhất thì đời tư của ông lại đầy sóng gió với những mối tình phiêu lưu. Tình cảm thoảng qua của Liszt dành cho một vũ nữ ở Paris đã khiến nhạc sĩ mất người vợ đầu, nữ bá tước d’Agoult, cũng là người đã đưa ông vào thế giới nghệ sĩ của kinh thành Ba Lê hoa lệ.

Về sau, trong một dịp biểu diễn tại Kiev, ông làm quen với quận chúa Lola Carolyne, một phụ nữ dịu dàng, khả ái và trầm lặng, nhưng đã có gia đình. Mối tình lớn nhất trong đời của Liszt đã không thành vì ông không thể kết hôn cùng Carolyne: cho dù Liszt đích thân xin Đức Giáo hoàng cho phép nữ quận chúa được ly hôn chồng cũ, nhưng rốt cục thân nhân của Carolyne đã ngăn cản điều này và người phụ nữ tuyệt vời ấy, đã bỏ nhà theo Liszt sang Đức, nhung rồi suy sụp khi biết mối tình của họ không thể trọn vẹn.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/08/4lifes.jpg
Franz Liszt, bốn chặng của cuộc đời



Kể từ đó, Franz Liszt sống cô độc, dành hết thời gian cho sáng tác và để quên dần những mối tình cũ. Franz Liszt mất tại Đức năm 75 tuổi trong cảnh cô đơn, để lại một gia tài âm nhạc đồ sộ, trong số đó, mảng nhạc có đề tài quê hương Hungary chiếm một phần đáng kể, như bản giao hưởng "Hungária" ca ngợi lịch sử anh hùng của đất nước, các bản "Cuồng tưởng khúc Hungary" (Magyar Rapszodiák) được thai nghén từ nét nhạc của sắc dân Tzigane, hay bản "Thánh ca Esztergom" (Esztergomi mise), sáng tác cho lễ khánh thành tòa Đại giáo đường lớn nhất của nước Hung.

Đối với những cặp trai gái đang và sẽ yêu, có lẽ Liszt gần gũi nhất với bản "Mơ tình" (Szerelmi álmok), mà giai điệu đã trở nên quen thuộc với người yêu nhạc Việt Nam từ nửa thế kỷ nay (với tựa đề "Giấc mơ tình yêu", nhạc điệu của Liszt đã được đặt lời Việt).


Nguyễn Hoàng Linh (Nhịp Cầu Thế Giới)

Wal
03-10-2009, 10:45
Hướng tới tự do - Bản giao hưởng của cuộc sống

Ngày 9/11/1989, Bức tường Berlin được dỡ bỏ, đánh dấu khởi đầu mới dẫn đến việc hai miền đông và tây Đức tái hợp. Sáu tuần sau, đúng lễ Giáng sinh, tại Cung hòa nhạc Berlin, nhạc trưởng huyền thoại người Mỹ Leonard Bernstein đã đem đến cho công chúng một trong những thành công lớn nhất trong lịch sử trình diễn âm nhạc cổ điển. Hơn cả một lễ kỷ niệm, đó là buổi hòa nhạc hướng tới Tự Do.
Giao hưởng số 9 - "Hợp xướng”, Opus.125 viết bởi Ludwig van Beethoven
Lời thơ (Beethoven chuyển soạn cho chương cuối): Friedrich von Schiller
Ca sĩ: Jan-Hendrik Rootering (nam trung trầm, Hà Lan), Sarah Walker (nữ trung,Anh), Klaus König (nam cao, Đức), June Anderson (nữ cao, Mỹ)
Nhạc trưởng: Leonard Bernstein
Gồm nhiều thành viên đến từ các dàn nhạc: Bavarian Radio Symphony Orchestra, Bavarian Radio Chorus, London Symphony Orchestra...
Biểu diễn ngày: 25/121989
Địa điểm: Cung hòa nhạc Berlin (Schauspielhaus Berlin, tên hiện giờ là Konzerthaus Berlin)
-----

Lịch sử thế giới sang trang khi Bức tường Berlin sụp đổ, từ đây công dân Đức hai miền Đông Tây tái hợp sau bao thập kỷ chia cắt. Khi đứng ra nhận trách nhiệm chỉ huy buổi hòa nhạc kỷ niệm sự kiện lịch sử này, Bernstein được toàn quyền lựa chọn tác phẩm, và ông đã chọn Giao hưởng số 9 của Beethoven (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay/6442/index.aspx).

Với chương bốn là chương hợp xướng phổ những lời thơ ca ngợi tình bác ái nhân loại của đại thi hào Schiller, không bản nhạc nào hợp với hoàn cảnh bấy giờ hơn bản Giao hưởng số 9 bất hủ này, và quyết định của Bernstein quả thực không thể chê vào đâu được.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/10/folderpa6.jpg

Nhạc trưởng huyền thoại Leonard Bernstein trong buổi biểu diễn lịch sử.

Với mục đích về một buổi hòa nhạc lớn nêu bật tình đoàn kết hai miền đúng vào dịp Giáng sinh, nhà tổ chức đã chọn các nghệ sĩ xuất sắc nhất thuộc các dàn nhạc có uy tín từ mọi miền như Berlin, Dresden, New York, London, Paris và cả Leningrad. Tuy nhiên, mong muốn đó đã trở thành thách thức vô cùng lớn đối với Bernstein.

Bởi dẫu nhiều thành viên đến từ nhiều dàn nhạc khác nhau có thể đem đến những nét tươi mới và thăng hoa khi biểu diễn, nhưng các nghệ sĩ khi được tập hợp hoàn toàn không biết gì về nhau, thời gian lại khá gấp rút, thực là một kỳ tích mới có thể kết nối họ lại để tạo nên một buổi hòa nhạc thành công vang dội. Vậy mà Bernstein đã làm được, và cả thế giới âm nhạc đã phải ngả mũ trước vị nhạc trưởng tài ba gốc Do Thái này.

Trong suốt buổi trình diễn, vẻ mặt Bernstein thể hiện sự tập trung cao độ, nhưng rõ ràng ông đã rất mệt mỏi, sức khỏe của ông suy giảm trông thấy nhất là vào chương cuối. Nhưng không vì thế mà chất lượng buổi biểu diễn giảm đi, thậm chí càng về sau lại càng thêm phần mạnh mẽ, quyết liệt.

Đây cũng là lần cuối Bernstein chỉ huy bản Giao hưởng số 9 của Beethoven, chỉ 10 tháng sau, ông qua đời vì viêm phổi.

Dưới đây xin giới thiệu qua từng chương của buổi hòa nhạc huyền thoại này:

Chương một:

Hùng vĩ và trang nghiêm, chương một bắt đầu mạnh mẽ như bao tác phẩm khác của Beethoven. Giai điệu hơi u ám như báo hiệu cơn bão sắp ập tới. Có vẻ như Bernstein cố ý điều khiển chương một chậm hơn so với lần chính ông từng chỉ huy trước đây với dàn giao hưởng Vienna Philharmonic, người nghe có cảm tưởng như nhạc trưởng vĩ đại Furtwangler của dàn Berlin Philharmonic đang điều khiển dàn nhạc.

Tuy nhiên cảm giác đó chỉ là thoáng qua, bởi phong cách của Bernstein đầy ngẫu hứng, khác hẳn với kiểu cổ điển lịch lãm của Furtwangler. Chương một được biểu diễn ở tốc độ vừa phải, chủ đề kịch tính xuất hiện, tan biến, rồi lại quay trở lại mạnh mẽ hơn ban đầu. Âm sắc đoạn cuối chương không đươc mô tả đầy bi thương như thường lệ, mà có gì đó ấm áp và hùng tráng hơn.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/10/ode.jpg

Hướng tới tự do.

Chương hai:

Với bản Giao hưởng số 9, Beethoven xếp khúc Scherzo ngay sau chương đầu. Dẫu Beethoven cũng từng làm vậy với một số tác phẩm khác của ông, nhưng đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng ông sắp xếp các chương của một bản giao hưởng theo hướng phá cách đó. Chương hai - Scherzo - đầy khí thế, vừa như một bản anh hùng ca vừa đầy chất thơ. Giai điệu kịch tính vẫn hiện diện không mất đi. Bernstein đã rất khéo léo khi cân bằng được sự xáo động với cảm giác hòa bình trong chương nhạc vội vã này.

Chương ba:

Đáng chú ý nhất ở chương này là sự dịu dàng, tuy chậm rãi nhưng đầy sâu lắng và trăn trở. Cũng như tại nhiều buổi hòa nhạc khác về cuối đời của Bernstein, chương ba của Giao hưởng số 9 lần này được chỉ huy chậm rãi hơn hẳn so với hồi ông còn trẻ, thậm chí là chậm hơn rất nhiều những nhạc trưởng khác. Tuy nhiên đó không phải vì sức khỏe suy giảm, có lẽ Bernstein muốn dàn nhạc chơi chậm lại nhằm nổi bật rõ hơn tư tưởng của buổi hòa nhạc.

Chương ba chậm đến mức tưởng chừng như có thể kéo dài vô tận, giai điệu nhờ đó càng như tuôn thêm chất thơ và đầy vẻ lãng mạn. Bè violin nghe rin rít như những lát cắt sâu tạo ra hiệu quả rất ấn tượng. Ở chương ba, nghệ sĩ chơi clarinet chính đã được khen là chơi hay như một thiên thần.

Chương bốn:

Điều đáng chú ý nhất ở buổi biểu diễn, là việc Bernstein yêu cầu dàn hợp xướng và các nghệ sĩ opera solo hát lên từ “tự do” thay vì từ “niềm vui” như trong bản gốc. Thế là chương thứ tư trở thành “Bản tụng ca tự do” (Ode to freedom). Về sau, cụm “Ode to freedom” được dùng chính thức khi nhắc đến buổi hòa nhạc lịch sử này.

Có ý kiến cho rằng Bernstein không tôn trọng chủ tâm sáng tác của Beethoven, nhưng ông hoàn toàn có lý khi làm vậy. Chuyện kể rằng, ban đầu khi sáng tác bài thơ “Bản tụng ca niềm vui”(Ode to joy), Schiller vốn định để tên là “Bản tụng ca tự do”, nhưng ông sợ rằng từ “freiheit”(tự do trong tiếng Đức) dễ gây hiểu nhầm là có ý ủng hộ Napoleon, nên đã chuyển sang dùng một từ an toàn hơn và đó là “freude” (niềm vui trong tiếng Đức).

Bernstein còn nói: “Tôi chắc rằng Beethoven sẽ hoàn toàn ủng hộ chúng tôi”. Những đoạn cao trào đã khiến không ít người có mặt hôm đó phải đổ lệ vì cảm thấy hân hạnh vui sướng. Vào giây phút những nốt nhạc cuối cùng kết thúc, dường như tự do và hòa bình đã trở thành thực thể hoàn toàn có thể cầm nắm được.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/10/SymphonyBerlin.jpg

Một số hình ảnh trong buổi hòa nhạc lịch sử này.

Dẫu loại bỏ hết những yếu tố chính trị hay lịch sử như sự kiện Bức tường Berlin sụp đổ và hai miền Đông,Tây Đức chuẩn bị tái hợp, buổi hòa nhạc “Ode to freedom” dưới sự chỉ huy của Leonard Bernstein vẫn luôn xứng đáng được nhắc đến như một trong những sự kiện thành công nhất trong giới nhạc cổ điển.

Buổi hòa nhạc được truyền hình trực tiếp tới hơn 20 nước trên thế giới và ước tính đã có 100 triệu người xem cùng lúc. Chương trình còn chiếu trực tiếp cảnh từng đoàn từng đoàn người tụ tập chia vui bên ngoài Cung hòa nhạc Berlin. Cả hai miền nước Đức hôm đó đã cùng nhau hân hoan chào đón sự tự do mới có được. Đó là tự do khỏi quá khứ thù địch, tự do khỏi sự chia cắt.





Nê Mô (nhaccodien.info)


Tải video tác phẩm này về (http://www.nhaccodien.info/forum/showpost.php?p=25690&postcount=41)

Wal
08-10-2009, 10:40
Opera Verdi - Lời nguyện cầu tha thiết

Sức mạnh số phận là một vở opera kì lạ. Ở đó có tất cả, tình yêu oan nghiệt của Romeo và Juliet, cuộc chiến tranh trên đất nước Ý của Ruồi Trâu, và cả mối quan hệ với nhà thờ.

Tác phẩm: Aria Pace, pace mio Dio! (http://www.fileden.com/files/2008/12/12/2220552/Opera%20Verdi%20-%20L-i%20nguy-n%20c-u%20tha%20thi-t.mp3)– Xin Chúa hãy mang đến bình yên (Peace, peace, my God!) – màn 4, cảnh 2
Vở Opera: La Forza del Destino - Sức mạnh số phận (The force of destiny)
Nhà soạn nhạc: Giuseppe Verdi (1813-1901)
Biểu diễn: Phương Mai (giọng soprano) – giải nhất cuộc thi hát thính phòng giao hưởng toàn quốc lần IV - 04/2009

-----

Nhà soạn nhạc người Ý Giuseppe Verdi (1813-1901) xuất hiện vào cuối giai đoạn lãng mạn của nhạc cổ điển với các vở opera nổi tiếng như Rigoletto, Otello hay Aida. Ông đuợc xem như một trong những cây đại thụ của thanh nhạc cổ điển – người đã làm bừng sáng một thế hệ opera belcalto – với sự chú trọng về vẻ đẹp của giọng hát và giai điệu.
Mặc dù G.Verdi thường viết những tác phẩm đồ sộ, nhưng ông cũng đặt niềm tin mạnh mẽ vào sức mạnh của giai điệu như một nhạc cụ cơ bản cần thiết để tăng sức biểu cảm trong âm nhạc. Thực sự là trong rất nhiều đoạn, đặc biệt là các aria của Verdi, các hòa âm thường rất khắc nghiệt với sự tham gia hiếm hoi của dàn nhạc, như thể cả dàn nhạc chỉ là một nhạc cụ đệm lớn – kiểu như một cây guitar khổ lớn vậy.



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/09/Verdi.jpg

Nhà soạn nhạc người Ý Giuseppe Verdi (1813-1901). Ảnh: wikipedia


Bản thân Verdi cũng đã từng nói: “So với tất cả các nhà soạn nhạc từ trước tới nay, tôi là người ít được học hành nhất” – tuy nhiên ông cũng vội vàng thêm vào: “Ý tôi là thật sự nghiêm túc đấy, về mặt học tập, tôi không có kiến thức nhiều về âm nhạc”.

Thế kỷ XIX là thời kỳ nền opera lãng mạn của châu Âu nói chung và nước Ý nói riêng đạt đến đỉnh cao cả về hình thức, nội dung lẫn chiều sâu tư tưởng. Thế kỷ này cũng là giai đoạn nước Ý trải qua nhiều biến động về mặt chính trị, điển hình là cuộc cách mạng năm 1848 đã đưa nước Ý thoát ra khỏi sự cai trị của Áo. Trong bối cảnh đó, không có gì ngạc nhiên khi các vở opera của Verdi là sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa lãng mạn và tinh thần yêu nước. Ông trở thành niềm kiêu hãnh của cả dân tộc Ý.

Vào thời điểm đó, nền chính trị Ý rất hỗn độn. Năm 1859, chiến tranh giành độc lập lần thứ 2 bùng phát, cùng với sự viện trợ của hoàng đế Pháp Napoleon III, vương quốc Savoy đã tuyên chiến với đế chế Áo. Verdi quyết định đóng vai trò tích cực trong đời sống chính trị của đất nước bằng cách trở thành đại biểu cho thành phố quê hương Bussetto tại Hội đồng nhân dân tỉnh Parma. Bên cạnh những nhiệm vụ chính trị, Verdi vẫn tiếp tục sáng tác La forza del Destino – Sức mạnh số phận (dựa trên một tác phẩm văn học lãng mạn của Tây Ban Nha) dưới đơn đặt hàng của gia đình Hoàng gia Nga.

Vở opera lần đầu được dàn dựng tai Nhà hát Opera Hoàng gia - St.Peterburg năm 1862. Từ đó đến nay, rất nhiều giọng soprano (nữ cao) danh tiếng đã cất tiếng hát nguyện cầu với Pace, pace mio Dio!. Vai Leonora là con gái của hầu tước Calatrava. Trong cảnh 2 của màn 4, Leonora đang cầu nguyện và xin Chúa trời mang bình yên đến cho tâm hồn đau khổ của nàng. Sau rất nhiều năm và sau những điều tồi tệ đã xảy ra, Leonora vẫn còn yêu Alvaro tha thiết. Nàng cầu xin Chúa hãy chấm dứt nỗi đau khổ của mình.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/09/forza.jpg
Một cảnh trong vở opera La Forza del Destino. Ảnh: operajaponica.org


Pace, pace mio Dio! cũng là một trong những aria được các ca sĩ opera Việt Nam thể hiện rất nhiều. Bản thu âm mà các bạn đang nghe được thu trực tiếp tại sân khấu Nhạc viện Hà Nội trong buổi diễn chung kết cuộc thi hát thính phòng giao hưởng toàn quốc tháng 4/2008 – do Phương Mai, trường Nghệ thuật Quân đội thể hiện. Cũng chính Pace Pace với những nốt dài và sự biến đổi mạnh mẽ trong aria đã giúp Phương Mai gây ấn tượng mạnh với ban giám khảo để đoạt giải nhất cuộc thi một cách hoàn toàn thuyết phục.

Bình yên, chỉ bình yên
Ôi Chúa hãy ban con điều đó
Từ số phận đắng cay hủy hoại cuộc đời
Từ nỗi đau tận cùng đã có
Đã nhiều năm khi con đến nơi này
Bình yên, ôi bình yên
Ơi Chúa hãy mang bình yên đến
Con đã yêu chàng bằng cả trái tim
Và Đức vua đã chúc phúc cho chàng
Với vẻ đẹp và lòng quả cảm
Con chẳng thể xóa bóng hình chàng khỏi trái tim
Ôi số phận hay bi kịch
Hay định mệnh nghiệt ngã đã chia rẽ đôi ta
Alvaro, em vẫn yêu chàng
Dù chẳng bao giờ nhìn thấy chàng được nữa
Chúa ơi, hãy để con được chết
Bởi chỉ cái chết mới mang đến bình yên
Cho trống trải, trái tim đằng đẵng đợi
Con là kết quả của bất hạnh khôn cùng
Con tìm kiếm bình yên trong vô nghĩa
Như thứ thức ăn của kẻ nghèo…
Người chỉ kéo dài lòng tuyệt vọng
Ai đang đến đấy?
Kẻ nào dám xâm phạm nơi đất linh thiêng
Hắn đáng bị một lời nguyền rủa!


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/75/2009/09/phuongmai.jpg
Đỗ Thị Phương Mai đã thể hiện thành công aria này và giành giải nhất cuộc thi hát thính phòng giao hưởng toàn quốc lần IV - 04/2009. Ảnh: VnMedia


Sức mạnh số phận là một vở opera kì lạ. Ở đó có tất cả, tình yêu oan nghiệt của Romeo và Juliet, cuộc chiến tranh trên đất nước Ý của Ruồi Trâu, và cả mối quan hệ với nhà thờ.

Vì một sai lầm khó tha thứ, Alvaro đã vô tình giết chết cha của Leonora, người con gái mà anh yêu mến. Sau đó là những ngày dài trốn chạy của cả hai khỏi định mệnh oan nghiệt và nỗi thống khổ không gì bù đắp được của trái tim. Carlo – anh trai của Leonora trở về truy tìm Alvaro và em gái mình để báo thù cho cái chết của cha.

Giữa lúc đó, cuộc chiến tranh Ý – Tây ban Nha nổ ra. Một cách tình cờ Carlo và Alvaro lại trở thành hai người bạn tâm giao cùng chiến đấu trong khi cô gái Leonora ẩn dật tại nhà thờ dưới cái tên cha Raphael. Nhưng rồi khi sự thật được phát hiện, Carlo đã không thể tha thứ cho cả hai và phải kết thúc bằng một cuộc đọ kiếm. Carlo chết, Leonora quyết định cùng người anh đi về cõi vĩnh hằng để lại một Alvaro điên cuồng trong đau đớn và mất mát.



Hương Giang (nhaccodien.info)
Nguồn: Tuần Việt Nam

Wal
13-11-2009, 11:19
Cuộc đối thoại âm nhạc buồn


Concierto de Aranjuez của Rodrigo có lẽ là bản concerto nổi tiếng nhất trong các concerto dành cho guitar. Và nhắc đến nó, điều đầu tiên người ta nghĩ tới là chương 2-adagio, một chương nhạc được viết ra trong hoàn cảnh thật đặc biệt.

Tác phẩm: Concierto de Aranjuez - chương 2.Adagio (http://www.mediafire.com/?koydd0nmyyk)
Tác giả: Joaquin Rodrigo
Biểu diễn: Pepe Romero và Academy of St Martin in the Fields
Chỉ huy: Sir Neville Marriner

-----

Joanquin Rodrigo có một người vợ tên là Victoria Kamhi. Khi được hỏi về hoàn cảnh ra đời chương 2 này, bà từng nói rằng: "Đó là những tháng ngày hạnh phúc trong tuần trăng mật của chúng tôi, khi hai người cùng sánh đôi trên con đường trong cung điện ở Aranjuez. Đó, là một bản tình ca". Và với những lý do như thế, bản nhạc ra đời với tên gọi Concierto de Aranjuez.


http://tuanvietnam.net/assets/images/Joaquin-Rodrigo.jpg


Nhà soạn nhạc người Tây Ban Nha Joaquin Rodrigo (22/11/1901 - 6/7/1999). Ảnh: telegraph.co.uk


Nhưng sự thực phải chăng đúng là như vậy...

... Kamhi đã phải nhập viện trong tình trạng hết sức nguy kịch khi đang mang thai đứa con đầu lòng của mình. Từ bệnh viện trở về nhà, Rodrigo đã dành trọn cả một đêm, một mình, trong bóng tối, viết nên chương 2 concerto này. Đó có lẽ là thời điểm đáng buồn nhất trong cuộc đời vợ chồng ông. Họ đã rất mong muốn, rất hi vọng về đứa trẻ. Vậy mà, Chúa đã không cho ông đôi mắt, và giờ còn đem theo cả đứa bé đi...


***


Mở đầu chương 2 với tiếng kèn oboa buồn bã, thổi những ký ức xa xăm, nhuốm màu u tối che phủ cung điện ở Aranjuez. Những tiếng rải nhẹ, đều đặn của guitar xen lẫn tiếng kèn như bàn tay đang gạt những đám mây ký ức, giúp Rodrigo kết nối với ánh sáng của cuộc sống, và trên hết cảm nhận được sự hiện hữu của Chúa trời.

Ngay sau đó, chủ đề tác phẩm đã được hiện lên. Cây đàn guitar cất tiếng. Nó như một lời van xin Chúa hãy giữ lại mạng sống cho vợ và đứa con đầu lòng của ông, đầy thống thiết, nhưng không quỵ lụy. Sự đối đáp diễn ra liên tục giữa cây đàn - người nhạc sĩ mù, với dàn nhạc - Chúa trời. Có những lúc âm thanh được cân bằng. Có những lúc, dàn nhạc nổi lên, át hẳn tiếng đàn guitar. Cảm giác rằng con người, khi đứng trước Chúa trời, thật là bé nhỏ...

...Giằng co...

Và bỗng dưng, dàn nhạc im bặt. Chúa đã ngừng lại. Chỉ còn tiếng cadenza của guitar. Sự dằn vặt nổi lên. Mọi thứ ngày càng trở nên hướng nội, và đồng thời như tìm kiếm chút lay động từ Chúa.


http://tuanvietnam.net/assets/images/concierto.jpg


Kêu gọi, nhưng không có ai trả lời. Sự im lặng đến đáng sợ của dàn nhạc khiến cho người nghệ sĩ càng trở nên bức bách trong tâm trí. Tốc độ, âm thanh được đẩy cao lên tới đỉnh điểm. Toàn bộ khối óc, cơ thể dường như căng ra. Và, ngay trước cái đỉnh điểm ấy, một tiếng rải nốt bất thường vang lên đầy đột ngột. Thân mình người nghệ sĩ dường như khẽ giật nảy lên theo tiếng rải, dồn toàn bộ sinh lực vào trong cơ thể...
ĐỈNH ĐIỂM! Sợi dây vô hình giữa Chúa và người nhạc sĩ mù đột nhiên căng lên. Cả hai đang cố gắng hết sức kéo nó về phía mình. Tiếng rasg điên cuồng của guitar.
GÀO THÉT, PHẪN NỘ, ĐIÊN CUỒNG, HOẢNG LOẠN!!!

Giờ đây tâm trí ông không còn nghĩ được gì cả, việc duy nhất có thể làm, đó là giữ chặt sợi dây vô hình trong tay.

PHỰT! Âm thanh khô khốc của tiếng pizzicato của bè dây vang lên. Sợi dây giờ đây thật mỏng mảnh.

Gần như ngay lập tức, tiếng gạt dây điên cuồng lại nổi lên, như nỗ lực cuối cùng giành lại những gì của mình.

PHỰT! Vẫn âm thanh khô khốc của dàn dây.

Lần thứ ba, lại là sự gào thét cuồng nộ trên những dây đàn. Chỉ khác rằng, không gian bỗng im bặt. Sợi dây đã đứt. Và giờ là lúc Chúa lên tiếng. Chủ đề tác phẩm lại được tái hiện, nhưng giờ đây là bởi dàn nhạc. Cây guitar lặng im, như chấp nhận số phận của mình. Kamhi được cứu, nhưng đứa bé đã mãi ra đi. Đoạn nhạc đẩy được lên đến cao trào của cảm xúc, sự vỡ òa của con tim, và nước mắt...

Bè dây của dàn nhạc giảm dần, và cây đàn guitar nhẹ nhàng lên tiếng. Từng nốt chậm rãi, và lên cao. Giờ đây, ẩn dưới tiếng đàn không còn là việc giành giật sự sống, không còn là lời van xin thống thiết nữa, mà đơn giản, đó là hình ảnh đứa bé đang bay lên thiên đường, với kết thúc bằng những bằng âm bồi trong vắt.
Đứa bé đã về với Chúa, khi chưa kịp nhìn mặt cha mẹ mình dù chỉ một lần...


Tuấn Việt (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2009-11-11-cuoc-doi-thoai-am-nhac-buon))

Wal
21-12-2009, 09:43
"Thần chết và Trinh nữ" - từ ca khúc đến tứ tấu


Có rất nhiều lời đồn đại về những năm cuối đời và bệnh tình của Schubert, căn bệnh có ảnh hưởng đến các sáng tác thời kỳ này của ông. Bản Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ" là một ví dụ hoàn hảo nhất, không chỉ bởi tựa đề hay từ những nỗi buồn thương tuyệt vọng nó có thể mang lại, mà còn bởi tác phẩm này được viết sau khi ông phát hiện ra rằng mình mang trọng bệnh.

Lied: Der Tod und das Mädchen (Thần chết và Trinh nữ) (http://www.mediafire.com/?mjyjznzdmuz)
Nhạc: Franz Schubert
Thơ: Matthias Claudius
Thể hiện: Marian Anderson (giọng nữ trầm)

Bản nhạc: Chương II, (http://www.mediafire.com/?uynzmjzmmdz)Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ" (http://www.mediafire.com/?uynzmjzmmdz)
Tác giả: Franz Schubert
Thể hiện: Nhóm tứ tấu Amadeus
-----

Ngày nay khi mà việc đạo nhạc dễ bị phát hiện, không một nhà soạn nhạc tự trọng nào lại cố tình lấy một giai điệu cũ để cho vào một tác phẩm nguyên bản có vẻ như mới mẻ (ngoại trừ lấy làm mẫu hoặc để tỏ lòng tôn kính một cách có ý thức đối với các bậc tiền bối mà họ khâm phục). Nhưng ở những thời đại trước đây khi mà việc xuất bản không vội vàng và hiếm hoi hơn cũng như bản quyền tác giả khó sinh lợi thì ít có những băn khoăn như vậy.

Các nhà soạn nhạc cổ điển thường viết những biến tấu trên các chủ đề của người khác và có nhiều xu hướng sử dụng tối đa những chủ đề sẵn có. Franz Schubert đã sử dụng lại ba trong số những ca khúc nghệ thuật phổ biến nhất của ông để tạo ra ba tác phẩm hòa nhạc thính phòng được yêu thích nhất của mình là "Die Forelle" Quintet (Ngũ tấu "Cá hồi"); "Der Tod und das Mädchen" Quartet (Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ) và "Wanderer" Fantasy (Fantasy "Người lang thang").

Có rất nhiều lời đồn đại về những năm cuối đời và căn bệnh của Schubert, căn bệnh có ảnh hưởng đến các sáng tác thời kỳ này của ông. Bản Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ" là một ví dụ hoàn hảo nhất, không chỉ bởi tựa đề hay từ những nỗi buồn thương tuyệt vọng nó có thể mang lại, mà còn bởi tác phẩm này được viết sau khi ông phát hiện ra rằng mình mang trọng bệnh.

Mùa xuân năm 1824, giữa lúc Beethoven tất bật cho đợt công diễn lần đầu tiên bản giao hưởng số 9 của mình thì Schubert đang đối diện với bệnh tật và tử thần. Ông từ bệnh viện trở về và biết mình đang đứng trước một án tử hình. Ông xác định rõ rằng mình sẽ chẳng sống được bao lâu nữa. Thời gian này, hai tác phẩm tứ tấu nổi tiếng Rosamunde và "Thần chết và Trinh nữ" bắt đầu được sáng tác. Mùa đông năm 1825, Schubert khởi thảo một bản tứ tấu cho đàn dây ở giọng Rê thứ. Đây là bản tứ tấu số 14 của ông và được hoàn thành vào năm 1826.


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/Death-the-Maiden-Egon-Schiele.jpg
Tranh "Death And The Maiden" của Egon Schiele (Nguồn: ehow)

Tôi vẫn thường nghi vấn về bản chất tự truyện trong một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc cổ điển, Schubert cũng không là ngoại lệ. Âm nhạc của Schubert dường như như luôn có một nỗi nhớ tiềm ẩn, một nỗi buồn mênh mang... Về mặt chuyển tải mạch cảm xúc nội và ngoại tại, Schubert thật sự là một bậc thầy. Trong tác phẩm Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ" cũng vậy. Dường như nó cất lời loan báo rằng trong khoảng thời gian này sức khỏe của Schubert xuống dốc trầm trọng. Trong lá thư ông gửi cho bạn mình, được viết cùng năm với Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ", có đoạn:

"Tôi tự thấy mình là một sinh linh không được may mắn và hạnh phúc khi sinh ra trên thế gian này. Một người đàn ông khỏe mạnh sẽ không bao giờ ở trong tình trạng tồi tệ đến vậy! Con người sống trong sự tuyệt vọng hoàn toàn rất có thể sẽ làm những điều tồi tệ và xấu xa, thay vì ngược lại. Thử tưởng tượng một người đàn ông với những ngọn lửa hy vọng đã hoàn toàn lụi tắt, đến cả những hạnh phúc đến từ tình yêu, tình bạn vẫn không thể nào khỏa lấp. Những khát khao mong có được những điều tốt đẹp đều bị đe dọa. Tôi hỏi bạn, liệu anh ta có đau khổ, bất hạnh hay không?"

Bởi vậy, trong chương đầu của tác phẩm là sự réo rắt dồn dập, mang đến một dự báo, một sự bất an. Chương 1 bắt đầu bằng hình thức sonata với ba điệu thức chính, Rê thứ, Fa trưởng và La thứ. Với hình thức này, việc trình bày, phát triển và tái hiện những chủ đề tương phản một cách rõ nét. Nhờ vậy Schubert đã khéo léo diễn tả tâm trạng xung đột gay gắt, những cảm xúc mãnh liệt, giằng co giữa sự sống và cái chết.

Chương 2 của tác phẩm được chuyển thể từ phần đệm piano trong ca khúc nghệ thuật cùng tên (D531) của Schubert viết vào năm 1817. Chính vì vậy tác phẩm Tứ tấu đàn dây số 14 còn được biết đến với cái tên "Thần chết và Trinh nữ".

Der Tod und das Mädchen (Thần chết và Trinh nữ)
Thơ: Matthias Claudius
Lied: Franz Schubert

Trinh nữ:
Hãy biến đi! than ôi, hãy biến đi
Hãy cút đi, bộ xương hung ác
Ta còn trẻ - cút đi, tên sốt sắng
Và đừng có mà gạ gẫm ta.

Thần chết:
Hãy đưa ta bàn tay em mềm đẹp!
Ta là bạn; đâu phải đến phạt em
Can đảm lên! ta đâu có dã man.
Em sẽ ngủ trong tay ta êm ái.

Khúc biến tấu dựa trên phần đệm piano ở ca khúc được lặp lại nhiều lần tạo một bầu không khí ảm đạm ngay phần đầu chương 2. Điệu nhảy tarantella gay gắt ở chương cuối viết theo hình thức sonata-rondo, và phần kết của chương hứa hẹn mang đến một điều tươi sáng, tốt đẹp hơn.

Thật khó có thể lập luận rằng những cảm xúc cá nhân không hề ảnh hưởng đến tác phẩm theo cách nào đó, ít nhất là gián tiếp. Có lẽ sau khi Schubert biết được bệnh tình, ông đã chọn cho mình một quyết định, đó là tiếp tục sáng tác và cống hiến. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà những năm cuối đời của ông đầy những tuyệt tác để đời, trong đó không thể không kể đến Tứ tấu "Thần chết và Trinh nữ".


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/Schubert.jpg
Franz Schubert (Nguồn: userserve-ak.last.fm)

Với 31 năm ít ỏi sống trên cõi trần, Schubert đã để lại một số lượng tác phẩm không hề khiêm tốn: 8 mass, 9 giao hưởng, khoảng 10 vở opera dở dang, 15 tứ tấu đàn dây, gần 20 piano sonata, khoảng 500 tiểu phẩm cho nhiều nhạc cụ và gần 800 ca khúc nghệ thuật. Ở độ tuổi 31, Bach và Haydn chưa có tác phẩm nổi tiếng, Beethoven thì chỉ vừa mới hoàn thành bản giao hưởng số 1. Nếu thần chết chưa đến gõ cửa, chắc chắn Schubert sẽ còn viết thêm được nhiều tác phẩm để đời nữa.


Võ Lâm (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/2009-12-18-than-chet-va-trinh-nu-tu-ca-khuc-den-tu-tau))

Wal
25-12-2009, 10:33
Corelli và món quà Giáng sinh

Hàng năm, cứ mỗi dịp Giáng sinh về, những bản nhạc quen thuộc như Jingle bells, Silent night… lại vang lên ở khắp mọi nơi. Còn lần này, chúng ta hãy thử cùng đón Giáng sinh với Concerto grosso cung Sol thứ, op.6, No.8 của Arcangelo Corelli (1653–1713). Bản concerto này còn được biết tới với tên Christmas Concerto, do Cardinal Pietro Ottoboni đặt viết và được xuất bản vào năm 1714.

Tác giả: Arcangelo Corelli
Tác phẩm: Concerto grosso op.6, No.8 - V. Pastorale (Largo) (http://www.mediafire.com/?yzg12znibd0)
Biểu diễn: Dàn nhạc Berlin Philharmonic
Chỉ huy: Herbert von Karajan
----------

Các concerto grosso của Corelli bao gồm một chuỗi các bản nhạc ngắn tương phản nhau về nhịp và tốc độ, gần giống với hình thức những tam tấu sonata thời đó. Chúng được sáng tác với một lối viết rất thực tế, cho phép người tổ chức buổi hòa nhạc điều chỉnh quy mô của dàn nhạc và vai trò của các bè để thích hợp với ngân sách và các sự kiện được tổ chức.

Tuy nhiên, có một câu hỏi đặt ra rằng tại sao Corelli sáng tác concerto này vào khoảng năm 1690 nhưng mãi tới năm 1714, một năm sau khi ông qua đời nó mới được xuất bản (trong cuốn Twelve concerti grossi, Op. 6 của ông). Điều này được lý giải rằng Corelli đã có sự thay đổi nhỏ so với hình thức sonata nhà thờ (một loại tác phẩm nghiêm túc có 4 chương theo cấu trúc chậm - nhanh - chậm - nhanh), với mục đích làm tăng thêm tính kỹ thuật và sự hấp dẫn của tác phẩm để có thể "sánh ngang với các concerto của Torelli, Albinoni...".

Bên cạnh đó, Corelli còn tỏ ra hơi cầu toàn trong việc chau chuốt tác phẩm của mình, và tất cả những điều này giải thích tại sao ông lại mất nhiều thời gian để cuốn sách được ra đời đến vậy.


http://tuanvietnam.net/assets/images/christmas.jpg
Mừng một Giáng sinh an lành. Ảnh: wallcoo.net

Bản concerto này khi sáng tác đã được Corelli mở rộng từ bốn chương (như thông thường) lên thành năm chương nhạc:
1. Vivace - Grave - Allegro
2. Adagio - Allegro - Adagio
3. Vivace
4. Allegro
5. Pastorale (Largo)

Trong khi soạn nhạc, Corelli hết sức rành mạch đối với việc xử lý của các nhạc cụ. Ở chương mở đầu, ông đã chú thích ở bên dưới dòng chữ Arcate, sostenuto e come stà, nghĩa là khi chơi nó, âm thanh của vĩ cầm cần được ngân dài và không được thêm thắt bất kỳ thứ gì. Điều này đảm bảo rằng mọi thứ đều đúng với những gì mà Corelli muốn cho âm điệu của phần Grave, và như Christopher Hogwood đã nói, nó "gợi nên ý nghĩ về đêm Giáng sinh".

Ông còn ngụ ý sâu xa rằng nếu bản concerto không được biểu diễn cho dịp Giáng sinh, thì chương cuối Pastorale có thể đã bị bỏ quên và nó sẽ quay trở về cấu trúc 4 chương như thông thường.
Trong concerto của Corelli luôn có những đoạn ngắn tương phản với nhau về tốc độ và giai điệu. Chương đầu được chia làm ba phần Vivace - Grave - Allegro. Những nhạc cụ độc tấu (gồm hai violin và một cello) cùng hòa âm với dàn nhạc dây. Chương cuối Pastorale, được yêu cầu chơi với tiết tấu Largo (rất chậm), có thể được hình dung giống như sự thoát tục của cả bản concerto này.

Hòa trên nền của dàn nhạc là màn song tấu đầy mê hoặc của hai violin. Cây đàn cello, ngoài việc giữ âm nền cho dàn nhạc cũng tham gia vào phần song tấu. Những quãng âm rộng đầy truyền cảm của cello càng làm tăng thêm sự quyến rũ cho chương nhạc đẹp mê hồn này. Bản concerto kết thúc một cách nhẹ nhàng với những nốt pianissimo, đưa chúng ta tới một sự tĩnh lặng của màn đêm và đầy ắp những xúc cảm...

Bản Concerto grosso này cũng xuất hiện trong soundtrack của bộ phim Master and Commander: The Far Side of the World.


Tuấn Việt (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2009-12-24-corelli-va-mon-qua-giang-sinh))

Wal
27-12-2009, 18:20
Beethoven và những bài thơ (phần 1)

Trong chuyến lưu diễn lần đầu trên đất Mỹ năm 1964 của The Beatles, ca khúc "Roll Over Beethoven" nhiều lần vang lên trên sân khấu làm khuấy đảo công chúng Mỹ. Một phóng viên thù nghịch với The Beatles hằn học hỏi tay trống Ringo Starr của ban nhạc: "Anh nghĩ gì về Beethoven?" Ringo Starr buột miệng đáp rất nhanh: "Tôi thích Beethoven, đặc biệt là những bài thơ".

Lied: Adelaide (http://www.mediafire.com/?cz2bmvv2wcq)
Nhạc: Ludwig van Beethoven
Thơ: Friedrich von Matthisson
Thể hiện: Hermann Prey (giọng tenor)

***

Năm 1964 hai đĩa đơn "Roll Over Beethoven" và "All My Loving" của ban nhạc The Beatles cùng lọt vào bảng xếp hạng 100 Billboard. Ca khúc "Roll Over Beethoven" do nhạc sĩ Mỹ Chuck Berry sáng tác và được các thành viên ban nhạc Anh này yêu thích ngay từ ngày họ chưa lấy tên là The Beatles.

Trong chuyến lưu diễn lần đầu trên đất Mỹ năm 1964 của The Beatles, "Roll Over Beethoven" cũng nhiều lần vang lên trên sân khấu làm khuấy đảo công chúng Mỹ. Một phóng viên thù nghịch với The Beatles hằn học hỏi tay trống Ringo Starr của ban nhạc: "Anh nghĩ gì về Beethoven?" Ringo Starr buột miệng đáp rất nhanh: "Tôi thích Beethoven, đặc biệt là những bài thơ".

Từ đó đến nay câu trả lời hớ hênh đó của Ringo Starr đã được người ta trích dẫn lại nhiều lần để mà cười nhạo. Nhưng nếu Beethoven ở trên thiên đường nghe được câu trả lời của kẻ hậu sinh Ringo Starr, hẳn ông sẽ tủm tỉm hết sức nhân ái. Bởi vì Beethoven là một nhà soạn nhạc rất yêu thơ.


http://tuanvietnam.net/assets/images/beethoven.jpg


Quả vậy, Beethoven là một trong những nhà soạn nhạc vô cùng yêu thích thi ca. Có rất nhiều (nếu không muốn nói là tất cả) các nhà thơ yêu âm nhạc cũng như có rất nhiều các nhà soạn nhạc yêu thơ. Nhưng nói đến mối liên hệ giữa thơ và âm nhạc cổ điển, tên tuổi đầu tiên cần được nhắc tới là Ludwig van Beethoven.

Ông là nhà soạn nhạc đầu tiên đưa thơ vào thể loại giao hưởng (với thơ Schiller trong giao hưởng số 9), là tác giả của tập liên khúc được cho là tập liên khúc đích thực đầu tiên, là người đã phổ biết bao bài thơ không chỉ tiếng Đức mà cả tiếng Anh thành những ca khúc nghệ thuật hết sức tuyệt vời và có sức sống vững bền đến tận ngày nay.

Adelaide, một trong những lied nổi tiếng nhất và cũng được lấy vào hợp tuyển nhiều nhất của Beethoven, được sáng tác vào khoảng năm 1794 -1795 khi tác giả ở tuổi 25. Ca từ của Adelaide là một bài thơ Đức thời kỳ đầu lãng mạn do Friedrich von Matthisson (1761-1831) sáng tác. Có cấu trúc như một bản sonata cỡ nhỏ, Adelaide là một trong những tác phẩm rất tâm đắc của Beethoven và chính ông đã chơi phần đệm piano trong một buổi hòa nhạc kỉ niệm sinh nhật nữ hoàng Nga năm 1815.

Adelaide

Thơ: Friedrich von Matthisson
Bạn em lẻ loi có thơ thẩn trong vườn Xuân,
Ánh diệu kỳ dịu dàng vây bủa
Mà những cành trổ hoa đu đưa làm run rẩy,
Ơi Adelaide!

Trong suối phản chiếu, trong tuyết núi non,
Trong những đám mây vàng của ngày dần tắt,
Trong những cánh đồng sao, bóng hình em tỏa sáng,
Ơi Adelaide!

Những làn gió đêm trong lá mềm vi vu,
Hoa chuông bạc tháng Năm ngân nga trong thảm cỏ,
Những con sóng rầm rì và sơn ca lanh lảnh:
Ơi Adelaide!

Một ngày, lạ sao! từ mồ tôi sẽ mọc lên
Một đóa hoa từ tro tim tôi đó;
Sẽ lập lòe trên từng tờ lá tía:
Ơi Adelaide!

Thoạt nhìn bài thơ của Matthisson, nhà soạn nhạc trẻ tuổi nghĩ ngay đến một kiểu phổ nhạc theo khổ thơ và cách xử lý của Beethoven càng làm thấm đẫm lời thơ và ý thơ bằng một phương tiện màu sắc và thể hiện hết sức trữ tình. Adelaide, với thời lượng biểu diễn khoảng 6 phút, được viết ở giọng Si giáng trưởng cho giọng tenor hoặc soprano mặc dù nó cũng được biểu diễn ở những phiên bản chuyển soạn cho những loại giọng khác.

Bài thơ của Matthisson là lời thổ lộ nỗi khát khao dành cho một người con gái lý tưởng (tên là Adelaide) và hình như không thể với tới được. Bài thơ rõ ràng là đã đánh trúng tình cảm của Beethoven, người mà cuộc đời riêng thường có nỗi khát khao về một người phụ nữ lý tưởng xa xôi. Bức thư cám ơn mà Beethoven đã viết cho nhà thơ đã chứng tỏ cảm tình sâu sắc của ông đối với bài thơ này.

Adelaide (Op. 46) được Artaria xuất bản ở Vienna với lời đề tặng cho tác giả bài thơ. Rất lâu sau Beethoven mới gửi cho Matthison một bản sao lied này vì e rằng nhà thơ sẽ không thích nó. Song Matthison cảm thấy đây là lied hay nhất trong tất cả những lied phổ thơ ông. Rất nhiều thính giả sau này xem nó là một trong những tác phẩm hay nhất thời kỳ đầu của Beethoven.

Adelaide phổ biến ở thời của tác giả và đã được tái bản rất nhiều lần. Rất nhiều nghệ sỹ piano như Franz Liszt, Henri Cramer và Sigismond Thalberg đã soạn những phiên bản dành cho piano độc tấu dựa trên lied này. Ở thế kỷ 19, nhà phê bình Eduard Hanslick đã gọi Adelaide là "lied độc nhất của Beethoven mà sự mất mát của nó sẽ để lại một khoảng trống trong đời sống tình cảm của dân tộc chúng ta." Do đó thật dễ hiểu vì sao mà các lied do các nhà soạn nhạc khác (Karl Philipp Emanuel Pilz, Vincenzo Righini hay thậm chí cả Franz Schubert...) cùng phổ bài thơ này của Matthison đều không nổi tiếng bằng.

(còn nữa)



Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2009-12-25-beethoven-va-nhung-bai-tho-phan-1-))

Wal
02-01-2010, 21:21
Beethoven và những bài thơ (phần 2)


An die ferne Geliebte (Gửi người yêu phương xa) Op. 98 là tập liên khúc duy nhất của Beethoven và thường được cho là tập liên khúc đích thực đầu tiên trong lịch sử thể loại lied. Đây là một tác phẩm quan trọng không chỉ vì giá trị âm nhạc mà còn vì nó đóng vai trò như một bước ngoặt lớn trong phong cách và sự nghiệp của Beethoven.

Liên khúc 6 lied: An die ferne Geliebte (http://www.mediafire.com/?mtja5zinzan) (Gửi người yêu phương xa)
Nhạc: Ludwig van Beethoven
Thơ: Alois Isidor Jeitteles
Thể hiện: Ben Heppner (giọng tenor)

---

Tác phẩm mở ra một con đường mới cho nhà soạn nhạc ở nhiều khía cạnh: chủ nghĩa anh hùng và sự huy hoàng của quá khứ đều vắng mặt ở đây; cá tính hướng ngoại (quan tâm đến người khác hơn bản thân mình) nhường chỗ cho sự diễn tả có sức nặng hơn, nội tâm hơn.

Ở mức độ cá nhân, âm nhạc biểu trưng cho nhận thức rõ ràng của Beethoven, rằng ông có thể sẽ không bao giờ kết hôn và rằng tuổi trẻ của ông, với tất cả những thất vọng cay đắng của nó, đã qua rồi.

Tuy nhiên dù âm nhạc phản ánh nỗi đau của tác giả nhưng nó chưa bao giờ gợi lên bất cứ sự ta thán nào; thực tế là âm điệu vẫn còn khá đúng mực, thậm chí đôi chỗ mang màu sắc tươi sáng - tiếng "Ừ" thanh thản trước những điều bất khả của số phận.


http://tuanvietnam.net/assets/images/beethovenworking.jpg
Tranh: Beethoven sáng tác nhạc trong căn hộ của mình ở Vienna
trong những năm tháng cuối đời. Sách và những bản nhạc rơi
vương vãi xung quanh (Nguồn: musicwithease.com)


Tập An die ferne Geliebte (Gửi người yêu phương xa) của Beethoven gồm tất cả sáu ca khúc với phần đệm piano được biểu diễn liền một mạch:

No. 1 : Auf dem Hügel sitz ich spähend (Trên đồi đăm đắm nhì̀n)
No. 2 : Wo die Berge so blau (Nơi núi non xanh thế)
No. 3 : Leichte Segler in den Höhen (Những con én nhẹ nhõm trên không)
No. 4 : Diese Wolken in den Höhen (Ơi những đám mây kia trên trời)
No. 5 : Es kehret der Maien,es blühet die Au (Tháng Năm về, đồng cỏ nở hoa)
No. 6 : Nimm sie hin denn, diese Lieder (Thì hãy nhận những khúc ca này)

Tháng Năm về, đồng cỏ nở hoa

(Lied No. 5 trong tập liên khúc Gửi người yêu phương xa)
Thơ: Alois (Isidor) Jeitteles
Nhạc: Ludwig van Beethoven

Tháng Năm về, đồng cỏ nở hoa,
Gió nhẹ thổi thật dịu dàng, êm ả,
Những dòng suối giờ róc rách chảy.
Trên mái nhà hiếu khách, nhạn bay về,
Chim bận rộn xây phòng cưới của mình
Chính là nơi tình yêu cư ngụ.
Chim hối hả từ khắp phương mang lại
Cho giường cưới nhiều nhánh cỏ mềm,
Nhiều nhành cỏ ấm áp cho con mình.
Giờ đôi chim thuỷ chung cùng chung sống,
Tháng Năm đoàn tụ những gì đông chia cắt
Những tình yêu, nó biết cách tác thành.
Đồng cỏ nở hoa, tháng Năm về,
Gió nhẹ thổi thật dịu dàng, êm ả,
Chỉ có anh không thể nào rời bỏ.
Lúc mùa xuân tác hợp mọi lứa đôi,
Chỉ tình ta là chẳng biết mùa xuân,
Ta chỉ có lệ làm niềm an ủi.

Alois Isidor Jeitteles (1794 - 1858), tác giả của chùm thơ gồm sáu bài mà Beethoven phổ nhạc thành tập liên khúc này là một bác sĩ, nhà văn, chính trị gia và nhà báo. Jeitteles là con trai của một gia đình Do Thái theo ngành y và văn hóa. Ông học y khoa ở Prague và Vienna, từ năm 1821 ông đã hành nghề y thành công tại Brno. Ông đã được ca ngợi một cách đặc biệt trong đợt dịch tả hoành hành ở Moravia từ tháng 9/1831 đến mùa thu năm 1832 mà 65 ngàn người đã bị mắc bệnh, một phần ba trong số đó không qua khỏi.

Nhưng tình yêu suốt đời của bác sỹ Jeitteles là văn học. Ông quan tâm đến những tác phẩm kịch bằng tiếng Ý cổ và Tây Ban Nha cổ và đã dịch những tác phẩm của Calderóna de la Barca. Chính ông cũng là một người có văn phong đặc biệt đầy tài năng và những vở kịch trĩu đầy chất nhại lại một cách hài hước của ông được biểu diễn tại Vienna.

Bác sĩ Jeitteles cũng sáng tác nhiều thơ nhưng ngày nay người ta chỉ còn nhắc đến ông như là tác giả phần lời thơ trong tập An die ferne Geliebte (Gửi người yêu phương xa) của Beethoven. Alois Isidor Jeitteles qua đời ở tuổi 64, 31 năm sau khi Beethoven qua đời. Ông được chôn cất tại nghĩa trang của người Do Thái ở Brno, thành phố quê hương.

Trên bia mộ của Jeitteles có dòng chữ: "Ông đã sống trong tình yêu của Chúa và qua đời trong sự thanh bình của Thiên đường". Nếu bạn là người yêu mến Beethoven và tập liên khúc An die ferne Geliebte (Gửi người yêu phương xa), xin hãy đừng quên cái tên Alois Isidor Jeitteles bởi trong các tác phẩm thanh nhạc cổ điển lời ca cũng là một yếu tố nghệ thuật vô cùng quan trọng.


Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2009-12-31-beethoven-va-nhung-bai-tho-phan-2-))

na9
22-01-2010, 11:51
Symphony No. 9 in D minor, Op. 125
(Giao hưởng số 9 giọng Rê thứ, tác phẩm số 125)



Tác giả: Ludwig van Beethoven
Thời gian sáng tác: 1818-1824
Công diễn lần đầu: ngày 7/5/1824 tại Kärntnertortheater ở Vienna (cùng với overture Die Weihe des Hauses và 3 phần đầu của Missa solemnis) do Ignaz Umlauf và tác giả chỉ huy.
Độ dài: khoảng từ 65 đến 75 phút
Tổng phổ: piccolo (chương IV), 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet in A, B flat & C, 2 bassoon, contrabassoon (chương IV), 2 horn (1 & 2) in D & B flat, 2 horn (3 & 4) in B flat (bass), B flat & E flat, 2 trumpet in D & B flat, 3 trombone (alto, tenor & bass, chương II & IV), timpani, triangle (chương IV), cymbal (chương IV), bass drum (chương IV) và bộ dây.
Các bè thanh nhạc gồm : soprano solo, alto solo, tenor solo, baritone solo và dàn hợp xướng 4 bè (soprano, alto, tenor [chia thành Tenor I and Tenor II] và bass).

Tác phẩm gồm 4 chương:
I- Allegro ma non troppe, un pocoomaestoso (không nhanh quá mức, thêm phần trang trọng).
II- Molto vivace.
III- Adagio molto e cantabile (chậm rãi và du dương).
IV- Presto - Allegro assai.

Hoàn cảnh sáng tác:
Hiệp hội London (The Society of London - sau này là Royal Philharmonic Society) đặt hàng bản giao hưởng vào năm 1817. Beethoven bắt đầu làm việc với bản giao hưởng cuối cùng vào năm 1818 và kết thúc vào đầu năm 1824. Khoảng 10 năm sau bản giao hưởng số 8. Tuy nhiên, Beethoven bắt đầu sáng tác tác phẩm này sớm hớn. Ông đã muốn đặt An die Freude vào nhạc rất sớm từ năm 1793. Ông đã làm điều đó, nhưng thật không may tác phẩm này bị mất vĩnh viễn. Từ chủ đề cho chương scherzo có thể lần ngược về bản fugue được viết vào năm 1815.

Đoạn mở đầu cho phần thanh nhạc của bản giao hưởng gây ra rất nhiều khó khăn cho Beethoven. Bạn ông, Anton Schindler, sau này kể lại: "Khi anh ấy bắt đầu sáng tác chương 4, sự nỗ lực bắt đầu như chưa bao giờ có. Mục đích là tìm ra cách đi vào phần mở đầu của đoạn tụng ca của Schiller. Một hôm anh ấy nhảy vào phòng và la lớn "Tôi tìm ra rồi, tìm ra rồi" Sau đó anh ấy cho tôi xem phác thảo của những từ "cho chúng tôi hát bản tụng ca của Schiller bất tử". Tuy nhiên, đoạn mở đầu đó đã không có trong sản phẩm cuối cùng, và Beethoven đã trải qua rất nhiều thời gian viết lại phần đó cho đến khi nó thành hình dáng như chúng ta thấy ngày hôm nay.

[B]Phân tích:
Giao hưởng số 9 của Beethoven thuộc vào số ít tác phẩm của nền nghệ thuật thế giới, như những đỉnh núi cao nhất, trội hơn tất cả những gì mà những thiên tài nghệ thuật của nhân loại tạo nên. Cũng như những bài thơ của Homerk "Thần khúc" (Divina commedia) của Dante, tranh Đức mẹ của Raphael, "Faust" của Goethe hoặc khúc Messe (Die hohe Messe) của Bach, giao hưởng số 9, là con đẻ của thời đại của mình, đồng thời là sự thể hiện những lý tưởng và hoài bão của loài người. Nhạc sĩ hoàn thành bản giao hưởng vào cuối đời nhưng đã nghiền ngẫm trong suốt cuộc đời mình. Hồi còn trẻ, say sưa với những tư tưởng của cuộc Cách mạng Pháp, Beethoven tìm tòi thể hiện âm nhạc bài thơ ca ngợi (Ode) "Hướng tới niềm vui" (Ode to Joy) của Schiller, mà ông đã lấy lời thơ ấy viết màn hợp xướng chương cuối của giao hưởng số 9. Những tư tưởng về tình hữu ái nhân loại, về tự do được đưa vào giao hưởng đã thôi thúc ông mãi trên suốt cả con đường sáng tác. Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề âm nhạc của chương cuối nảy sinh trước khi có bản giao hưởng, và có thể tìm thấy trong các tác phẩm khác của Beethoven không ít những hình ảnh tương tự với chủ đề ấy. Nói một cách khác, giao hưởng số 9 - là sự tổng kết những tìm tòi tư tưởng nghệ thuật của nhạc sĩ.

Bản giao hưởng được xây dựng trong thời gian mà thời kỳ cách mạng Pháp đã đi vào dĩ vãng, và thế lực phản động đang ngự trị ở Châu Âu. Những hy vọng đã đổi thành thất vọng. Trong nghệ thuật đã nảy sinh một trào lưu mới - chủ nghĩa lãng mạn, thể hiện những tâm trạng mới. Công trạng của người nghệ sĩ ca ngợi Trí tuệ, Tự do, Niềm tin trong thời kỳ đen tối ấy ấy càng có ý nghĩa lớn. Giao hưởng số 9 - một bản tuyên ngôn âm nhạc của thế kỷ 19, như Lenin nói: "tiến hành dưới khẩu hiệu của cuộc cách mạng Pháp".

Giao hưởng số 9 - tác phẩm cải cách sâu sắc. Lần đầu tiên lời hát được đưa vào giao hưởng. Thủ pháp táo bạo ấy rất cần thiết đối với Beethoven. Sự phát triển của tư tưởng của bản giao hưởng đã gợi ý việc đưa lời hát vào như tiếng nói của nhân loại, tính cụ thể của lời ca cần cho việc diễn đạt kết luận tư tưởng chủ yếu của quang điểm triết học to lớn. Nhưng cái đó không hạn chế cái mới của Beethoven. Ông đổi vị trí của Scherzo và Adagio, viết những đoạn ngoài cùng của chương Scherzo theo hình hình thức sonata allegro. Thiên tài Beethoven đã đạt đến độ trưởng thành tột bực trong giao hưởng số 9. Bản giao hưởng gây xúc động mạnh bởi tính bi kịch của những nỗi đau khổ của nhân loại, cuộc đấu tranh tư tưởng lớn lao, tư tưởng cao cả, nguồn cảm hứng của chủ nghĩa nhân văn tổng kết con đường sáng tác của Beethoven - nhà soạn nhạc giao hưởng. Bản giao hưởng số 9 mở ra những triển vọng mới đối với nền nghệ thuật âm nhạc của những thế hệ tiếp theo.

Chương I - Trong màn sương tối lờ mờ, bất định, hiện ra phần mở đầu của bản giao hưởng. Hồi hộp, đầy bí ẩn của đợi chờ, tiếng vê (tremolo) chập chờn mờ ảo của violin, trên nền tremolo ấy thấp thoáng những bóng lờ mờ các motiv, nhạc sĩ đang lần dò những tuyến mạch của chủ đề chính sau này, nó đã hình thành, và sau một sự chuẩn bị lâu dài, bằng sự nỗ lực hùng mạnh của dàn nhạc, cuối cùng, khẳng định chủ đề chính. Xuất hiện hình tượng thuyết nguồn gốc vũ trụ, dường như từ bóng tối của vô biên vũ trụ xuất hiện và tuyên bố về mình một cách uy quyền, mệnh lệnh: "Tôi đang có ở đây". Nhưng vũ trụ sinh ra xù xì, đầy rẫy những mâu thuẫn sôi sục, nảy sinh không khí đấu tranh, xung đột. Sự phát triển sôi động đó dẫn đến chủ đề phụ - phản đề trữ tình đối với chủ đề một, âm nhạc mang màu sắc trưởng, xuất hiện cao trào anh hùng ca - những tia sáng đầu tiên của thắng lợi. Và bỗng nhiên trở lại một sự yên lặng hung dữ, những tiếng kèn hiệu nghiêm trọng thông báo trận chiến đấu bắt đầu, gợi lại trong ký ức những hình tượng người khổng lồ một mắt trong sử thi anh hùng cổ đại. Ngôn ngữ của bản giao hưởng bị mất tính chất tạo hình, nhưng thay vào đó là áp lực kịch tính và thoái trào kiệt sức, trong âm thanh rùng rợn của chủ đề chính, trong tính nhất quán, nhằm một mục tiêu nhất định của sự phát triển âm nhạc, đã thể hiện được hình tượng uy nghi, hùng tráng của hành động, của cuộc chiến đấu. Giai đoạn tột cùng của cuộc chiến đấu trùng hợp với sự bắt đầu phần nhắc lại (Reprise). Từ lúc ấy sự hoạt động đưa đến không thương xót sự kết thúc bi thảm trong đoạn đuôi (Coda). Âm nhạc có sắc thái tang lễ trọng thể. Tuy vậy "ý kiến tối hậu" không thể bác bỏ được vẫn thuộc về chủ đề chính quyền uy và hùng dũng.

Chương II - Phá bỏ tập tục cũ, Beethoven để khúc Scherzo ngay sau chương I. Nó xóa bỏ yếu tố bi thảm lúc đầu - Scherzo - cảnh huy hoàng có khí thế và hiệu lực, nó lao nhanh dồn dập như một trận bão lửa, tạo nên ấn tượng lúc thì mang tính chất anh hùng ca, lúc thì phóng túng, mơ mộng. Nhưng trong dòng âm thanh như đuổi theo nhau đó khuôn phép nghiêm ngặt về nhịp điệu vẫn khống chế. Những phần ngoài cùng được viết ở hình thức sonata allegro (lại một cải tiến mới mẻ nữa) tương phản với phần trio mang tính chất phong cảnh phong tục, với nhiều màu sắc tươi sáng của đồng quê.

Chương III - thể hiện lý tưởng đạo đức, vẻ đẹp và tính chất hùng vĩ của âm nhạc đầy cảm hứng bởi ý tưởng cao cả về đạo đức và hoàn thiện, sứ mệnh và nghĩa vụ của con người. Tính chất minh bạch sáng sủa, sự hài hòa của lý trí và tình cảm bao trùm niềm suy tư triết lý tỉnh táo ấy. Dòng nhạc thong thả, đầy đặn, sự luân chuyển và bổ sung lẫn nhau của hai chủ đề và các biến tấu của chúng rất chặt chẽ và hợp lý, hơi thở của giai điệu vô cùng rộng rãi. Điệu trưởng chiếm ưu thế hầu như khắp nơi trong nền tảng dàn nhạc đầy chất giai điệu tươi sáng, chỉ có hai lần bị phá vỡ do sự xâm nhập của chủ đề chính của chương I - như muốn nhắc rằng đạt được sự rõ ràng và cân đối ấy phải trả bằng một giá đắt.

Chương IV - chương cuối với phần đầu tràn lên dữ dội, khôi phục cái lạc điệu tưởng như đã được khắc phục. Nhưng điều đó chỉ là sự cố gắng để quay về. Nhưng sự trở về đã không thể có được logic phát triển của "những sự kiện" nhất quyết dẫn đến thắng lợi của niềm vui. Những chủ đề của những chương trước - những đoạn đường đã bị vượt qua - nối tiếp nhau đi, nhưng chủ đề nào cũng bị bè cello "cự tuyệt" bằng cách nói cương quyết: không một chủ đề nào có thể nói là chủ đề của chương cuối. Cần phải tìm cái nào đó có phẩm chất mới, hơn hẳn tất cả những gì đã có từ trước đến nay và có thể nói lên kết quả phát triển tư tưởng âm nhạc của bản giao hương. Một khoảnh khắc yên lặng trong dàn nhạc. Và cuối cùng chủ đề mới ấy xuất hiện, chủ đề Niềm Vui. Chính nhờ tính chất mộc mạc mà nó được xem như một sự phát triển rõ ràng. Đầu tiên là cello và contrebass diễn tấu chủ đề ấy, sau đó từng nhóm nhạc cụ khác và cuối cùng, cả dàn nhạc. Đó là niềm vui đã vượt qua đau khổ, chiến thắng cái ác, là thành quả của sự hài hòa cân đối cao độ của nội tâm và sự thoải mái về tinh thần của con người. Âm thanh của chủ đề đạt đến quy mô to lớn, và một lần nữa, lần cuối cùng, nhạc tố hốt hoảng, kinh hoàng trong chương I lại chen vào. Và lúc đó, lần đầu tiên nghe thấy tiếng nói của con người: "Ồ các bạn ơi! Không phải những âm thanh ấy! Tốt hơn hết chúng ta hãy hát cái gì vui tươi!" Chủ đề Niềm Vui xuất hiện ở các giọng đơn ca và hợp xướng: "Ôi Niềm Vui thần thánh tuyệt vời, nữ thần của bầu trời! Lòng hân hoan, chúng tôi bước vào thánh đường của người". Từ lúc đó Niềm Vui vô tận, không gì làm u tối đi, đuợc giữ mãi cho đến cuối chương. Hơn thế nữa, Niềm Vui được thể hiện trong tất cả sự phong phú về giới hạn và sắc thái. Chủ đề thông qua một loạt biến hóa, trở thành khúc ca, bài hát ca ngợi tươi sáng, hành khúc anh hùng, về tính chất có khác nhau, những đoạn chen (episodes) được trình bày trong bức tranh khổng lồ chung của niềm vui sướng của quần chúng, sự hân hoan tưng bừng của nhân loại được giải phóng và hạnh phúc. Và trong âm nhạc như tràn ngập ánh mặt trời, và trong từng ô nhịp ánh hào quang ngày càng rực rỡ, chói lọi. Về cuối giọng hát đơn ca, hợp xướng và dàn nhạc hòa thành khí thế chung ngợi ca niềm vui, trong niềm hân hoan tột độ. "Hỡi triệu triệu người, hãy xiết chặt tay nhau! "Bản giao hưởng kết thúc bằng sự ca ngợi Tự do, tình huynh đệ của Nhân loại.

Như vậy là, từ tối tăm - ra ánh sáng, qua đấu tranh và tổn thất - đến giác ngộ sứ mệnh của con người, từ u tối - đến ánh sáng của chân lý, đến niềm vui của thế giới được giải phóng và hạnh phúc. Đó là những nét lớn trong nội dung tư tưởng của bản giao hưởng số 9, thể hiện những lý tưởng bất tử mà hàng bao nhiêu thế kỷ loài người đang vươn tới.

Nguồn: Sách "Dành cho người nghe hòa nhạc giao hưởng" do Nguyễn Cửu Vỹ dịch.

Wal
30-01-2010, 09:27
Ballade - câu chuyện không lời của Chopin

Ballade của Chopin là sự kết hợp giữa cổ điển và lãng mạn, đạt tiêu chuẩn hàn lâm, được đánh giá là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Chopin nói riêng và của âm nhạc thời kỳ lãng mạn nửa đầu thế kỷ 19 nói chung.

Tác phẩm: Ballade No. 4 giọng Fa thứ Op. 52 (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Ballade-No.-4-Op.-52-In-F-Minor2.mp3)
Tác giả: Frédéric Chopin
Thể hiện: Vladimir Horowitz

Sau Chopin, một số nhạc sĩ khác như Liszt hay Brahms cũng sáng tác ballade cho piano, nhưng nhắc đến ballade mọi người đều nhớ đến Chopin trước tiên, bởi ông là người đi tiên phong trong thể loại này.


Những bản Ballade tiêu biểu nhất của thời kì âm nhạc lãng mạn

"Ballade" (cần phân biệt với thuật ngữ "ballad") là một kiểu thơ và ca khúc Pháp thời Trung cổ và Phục hưng, thường có lời đề cập đến những thiên diễm tình. "Ballade" là một trong ba hình thức ổn định (cùng với rondeau và thể thơ điệp khúc hai vần - virelai) chiếm lĩnh nền ca khúc và thi đàn Pháp trong các thế kỉ 14 và 15. Theo khuôn mẫu chuẩn mực cuối thời Trung cổ, lời của "ballade" được chia làm ba khổ thơ có chung cách sắp xếp vần luật và nhịp điệu và kết thúc bằng một đoạn điệp.


Đến thế kỉ 19 dưới bàn tay của Chopin, ballade mới trở thành một tác phẩm âm nhạc độc lập. Chopin sáng tác bốn bản ballade cho đàn piano, trải dài trong mười năm từ lúc rời Ba Lan đến sinh sống tại Paris.


Có người bảo rằng các bản ballade của Chopin là phổ nhạc cho các bài thơ của nhà thơ người Ba Lan Adam Mickiewicz. Ngay cả nhà phê bình âm nhạc, nhạc sĩ Schumann lúc đầu còn lầm tưởng các bản ballade của Chopin cũng mang tính chất kể chuyện như nhạc của chính Schumann sáng tác.


Nhưng thật sự Chopin không bao giờ có cảm hứng với loại âm nhạc có tiêu đề, cốt truyện và nhân vật như Schumann. Chopin đã từng không chấp nhận các bản nhạc trong bộ Carnival Op.9 của Schumann là một loại âm nhạc với đúng nghĩa của nó. Cũng như quan niệm riêng về tính chất lãng mạn trong âm nhạc của Chopin khác với các nhà soạn nhạc đương thời, tính chất kể chuyện trong các bản ballade của Chopin không tuân theo một khuôn mẫu nào mà ẩn trong từng câu nhạc đầy sáng tạo và phóng túng.


Mặc dù Chopin lấy cảm hứng sáng tác ballade từ các câu chuyện của quê hương Ba Lan và các bài thơ của Adam Mickiewicz, Chopin mong muốn người nghe tự cảm nhận ra câu chuyện của riêng mình thông qua âm nhạc của ông. Chính vì thế mà không nhất thiết phải tìm hiểu các bài thơ này để có thể cảm nhận được các bản ballade của Chopin.


Bốn bản ballade của Chopin là các tác phẩm lớn, với độ dài mỗi bản từ 8 đến 12 phút, được viết ở nhịp 6/4 hay 6/8, cùng mang chất thơ và thể hiện các chủ đề tương phản nhau, trữ tình nhưng cũng mang đầy kịch tính. Mặc dù bốn bản ballade có những điểm tương đồng, mỗi bản là một sự sáng tạo riêng biệt mà Chopin thổi hồn cho nhiều thể loại cổ điển từ sonata, rondo đến các khúc biến tấu rất uyển chuyển với cách chuyển âm và cấu trúc chưa từng gặp trong các ballade của các nhạc sĩ trước đó.


Ballade của Chopin là sự kết hợp giữa cổ điển và lãng mạn, đạt tiêu chuẩn hàn lâm, được đánh giá là những tác phẩm tiêu biểu nhất của Chopin nói riêng và của âm nhạc thời kỳ lãng mạn nửa đầu thế kỷ 19 nói chung. Sau Chopin, một số nhạc sĩ khác như Liszt hay Brahms cũng sáng tác ballade cho piano, nhưng nhắc đến ballade mọi người đều nhớ đến Chopin trước tiên, bởi ông là người đi tiên phong trong thể loại này.



http://tuanvietnam.net/assets/images/piano.jpg

Ballade No. 4 - hành trình tìm lại tâm hồn


Ballade No. 4 Op.52 giọng Fa thứ được đánh giá nổi bật nhất trong bốn bản ballade và giá trị có thể sánh ngang như Mona Lisa trong hội họa. Bản ballade này thể hiện hầu hết tất cả các yếu tố có thể có trong âm nhạc và tư tưởng của con người chỉ bằng cây đàn piano.


Chopin sáng tác Ballade No. 4 vào khoảng những năm 1842-1843, đề tặng cho phu nhân nam tước Rothschild, người trước đây đã giới thiệu Chopin chơi piano tại biệt thự của gia đình bà trước giới thượng lưu Paris.


Bản ballade mở đầu với khúc dẫn nhập ở giọng Đô trưởng tươi sáng nhưng ngắn ngủi, nhạt dần để nhường chỗ chủ đề chính giọng Fa thứ. Giai điệu chính nhẹ nhàng nhưng bí hiểm và ẩn chứa một nỗi buồn man mác, con người dường như đi tìm lại chính tâm hồn của mình.


Giai điệu mang tính chất Slav này được lặp lại và hòa vào trong khoảng không yên bình của những quãng tám sau đó. Cảm giác lâng lâng này biến mất khi một lời tự sự cất lên, như giãi bày những uẩn khúc trong chủ đề chính. Có thể nói đây là một trong những khúc nhạc hay nhất, phức tạp nhất về kỹ thuật hòa âm với sự chuyển giọng liên tục trong mỗi khuông nhạc.


Những uẩn khúc đó dường như vẫn chưa được sáng tỏ khi nốt Son giáng được lặp lại ba lần và dừng hẳn trước khi trở về với chủ đề chính. Chủ đề chính được bổ sung thêm một bè phụ, trở nên sôi động hơn, chuyển thành kịch tính với những quãng tám mạnh mẽ, và cuối cùng nhạt dần để chuyển qua chủ đề thứ hai ở giọng Si giáng trưởng.


Chủ đề thứ hai mang dáng dấp của những giây phút yên ả thanh bình sau cơn giông bão trong Ballade No. 2 Op.38. Sau đoạn phát triển ở giọng La giáng trưởng liên tục với những quãng sáu, phần dẫn nhập được lặp lại nhưng ở giọng La trưởng và với một khoảnh khắc nhẹ nhàng nghiêng từ Mi sang Mi thăng.


Một khúc biến tấu của giai điệu chính ở những tông nhạc khác thường, tuy nhẹ nhàng nhưng căng thẳng, lang thang vô định trước khi bắt kịp với sự trở về của chủ đề chính quen thuộc. Ở lần thứ tư này, chủ đề chính được biến tấu với những câu nhạc dài hơn, nhanh hơn, dồn dập hơn.


Chủ đề thứ hai được lặp lại ở giọng Rê giáng trưởng tạo ra một không gian rộng lớn hơn với phần trầm là những ngọn sóng cuồn cuộn và phát triển thành cao trào bởi bốn khúc rải qua ba quãng tám tương tự như bản Etude "Đại dương" số 12 Op.25. Hàng loạt những hợp âm mạnh mẽ trở nên im bặt nhường chỗ cho bốn hợp âm bí hiểm biến thể sang giọng Đô trưởng.


Khúc coda mạnh mẽ, dữ dội và náo động với những quãng ba và quãng sáu gợi lên hình ảnh những kỵ mã chạy vào rừng sâu, một trong những lý do khiến nhiều người ghép bản ballade này với bài thơ Budri của Adam Mickiewicz, bài thơ kể về một người chiến binh đưa ba người con ra trận. Những khúc hợp âm rải dâng lên đến cao trào, cuồn cuộn như thác đổ xuống nốt trầm Fa mạnh mẽ, xóa tan mọi hoài nghi, uẩn khúc xuyên suốt tác phẩm.

Có thể nói, cách kể chuyện không lời, truyện mà như không truyện của Chopin thể hiện trong bản ballade cuối cùng này đã đưa thể loại ballade cho đàn piano ra khỏi chức năng âm nhạc cho thơ thuần túy vốn có trước đây, trở thành một thể loại độc lập, đứng vững trên danh sách các thể loại hàn lâm trong lịch sử âm nhạc.


Trần Lương Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-01-30-ballade-cau-chuyen-khong-loi-cua-chopin-))

Wal
27-02-2010, 08:39
Vì xung quanh là mùa xuân...

Trong gia tài khổng lồ hơn 600 ca khúc nghệ thuật (lied) của nhà soạn nhạc người Áo- Franz Schubert (1797 - 1828), Im Frühling là 1 trong những ca khúc xuất sắc nhất về mùa xuân của ông. Franz Schubert viết Im Frühling vào thời điểm mùa xuân tháng 3/1826, và được sửa lại đôi chút trước khi được xuất bản vào năm 1828, cũng chính là năm Schubert mất.

Bản nhạc: Im Frühling (Op. 101, no. 1, D. 882) (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Im-Fruehling.mp3)
Thơ: Ernst Schulze (1789 - 1817)
Lied: Franz Schubert (1797 - 1828)
Ca sĩ: Ian Bostridge (Tenor)
Piano: Julius Drake
-----


Ca khúc này được phổ nhạc từ lời thơ của nhà thơ Đức lãng mạn đầu thế kỉ 19 Ernst Schulze (1789 - 1817) trích trong tập "Nhật ký Thơ" - "Poetisches Tagebuch", được viết trong khoảng từ 1813-1818. Ngoài Im Frühling, Schubert còn phổ nhạc cho tám bài thơ khác trong tập thơ này của Schulze.


Ernst Schulze viết Im Frühling với 6 khổ thơ, Schubert liên kết mỗi 2 khổ thơ vào một tạo thành ba lời hát riêng biệt. Ca khúc được viết ở cung Sol trưởng, có kết cấu tương đối chặt chẽ nhưng không quá phức tạp. Cả 3 cặp khổ thơ đều được viết dưới một giai điệu giống nhau, nhưng với mỗi lời hát, phần đệm piano lại có những thay đổi khác biệt nhất định. Hoà âm cơ bản và những tiết nhạc vẫn giữ nguyên, nhưng kết cấu và nhịp điệu lại biến chuyển, gần giống với cách tạo lập đơn giản những khúc biến tấu.



http://tuanvietnam.net/assets/images/fruhling.jpg

Im Frühling không phải là một ca khúc ngợi ca niềm vui hân hoan mỗi độ xuân về như phần lớn những ca khúc có chủ đề về mùa xuân. Nó là kỉ niệm của một chàng trai về một mùa xuân ngập tràn tình yêu và hạnh phúc đã qua đi không trở lại. Lời thơ là những hình ảnh đan xen giữa hiện tại và quá khứ, và âm nhạc kì diệu của Schubert như khắc hoạ lại cuộc đối thoại của chàng trai ấy với mùa xuân.


Lặng thinh tôi ngồi trên triền đồi
Ngắm bầu trời trong trẻo
Làn gió đùa ghẹo dưới thung xanh
Nơi những tia nắng đầu xuân an lành chiếu toả
Ngày xưa ấy, tôi đã từng hạnh phúc!
Khi em và tôi cùng dạo bước
Sát bên nhau, thân thiết ấm nồng.
Sâu thẳm trong tăm tối đá nguồn
Là bầu trời sáng trong, cao rộng
Giữa nền trời xanh lồng lộng - tôi thấy em.

Chàng trai ngồi thinh lặng giữa khung cảnh mùa xuân sống động. Giờ đây bên anh chỉ có thảo nguyên xanh bao la, gió mát, nắng ấm. Anh nhớ về một ngày xuân năm xưa, những phút giây say đắm hạnh phúc bên người yêu. Tất cả mọi cảnh vật, đất trời, đều hiển hiện bóng hình của người con gái anh đã yêu. Vẫn cây, vẫn cỏ vẫn những bông hoa tươi tắn ấy, nhưng có ý nghĩa gì đâu. "Em đã hái đi rồi, những bông hoa mà tôi thích nhất". Những bông hoa anh muốn hái là những bông hoa cô gái ấy thích, đâu còn ở đây nữa... Và cô ấy cũng đâu còn ở bên anh nữa.


Vẫn như xưa, vẹn nguyên tất cả
Vẫn đồng cỏ xanh, vẫn những đoá hoa.
Ánh nắng xưa cũng chẳng bớt chan hoà.
Và dòng suối duyên dáng thướt tha
Vẫn in bóng bầu trời xanh thăm thẳm.

Tất cả mọi chi tiết của bức tranh xuân đều đẹp đẽ và đầy đủ, chỉ thiếu đi một nhân vật quan trọng nhất. Phần đệm piano với giai điệu thánh thót tươi vui tựa mùa xuân dường như tương phản nhưng lại hoà quyện hài hoà với lời hát giàu tính tự sự buồn bã của nhân vật chàng trai. Mùa xuân như lắng nghe những lời tâm sự từ đáy lòng của một tâm hồn đau đớn.


Nhưng ảo tưởng và lòng người đã khác
Khao khát - đấu tranh cứ đổi chỗ nhau
Vị ngọt ái ân chẳng còn đâu
Nhưng tình yêu thì vẫn còn ở lại
Ừ,còn lại tình yêu... và cả nỗi buồn đau...

Cảnh xưa thì vẫn còn đây, nhưng lòng người đã khác. Hờn giận, trách cứ, nuối tiếc và khát khao yêu đương, những cảm xúc cứ đan xen nhau lẫn lộn. Những dư vị ngọt ngào hạnh phúc của tình yêu đã bay xa, nhưng tình yêu sâu đậm vẫn còn lại đây. Rồi buồn và ngậm ngùi thú nhận, "tình yêu và cả những nỗi buồn đau".


Chẳng bao giờ có thể lấy lại trọn vẹn những gì đã mất, nhưng cũng chẳng dễ dàng để quên đi những gì đã qua, nhất là những kỉ niệm về một mối tình. Thực sự, anh cũng không muốn quên. Ước chi ta là chú chim nhỏ để suốt ngày có thể ở đây hát mãi về cô ấy, về mối tình tươi đẹp trong sáng ấy.



http://tuanvietnam.net/assets/images/ian3.JPG

Giọng tenor Ian Bostridge.


Không biết không khí mùa Xuân đã làm gợi lại những kỉ niệm xưa cũ, hay chàng trai chỉ muốn muợn mùa Xuân để xoa dịu bớt những nỗi buồn về mối tình không thành đã qua.


* Ian Bostridge - giọng tenor người Anh sinh năm 1964. Bostridge không chỉ là một trong những tenor được công chúng mến mộ, là con cưng của hãng thu âm danh tiếng EMI classic, anh còn được giới chuyên môn đánh giá cao, và còn là một nhà phê bình, nghiên cứu âm nhạc có tên tuổi. Bostridge từng tốt nghiệp cả 2 đại học danh tiếng của Anh là Oxford và Cambridge, nhận bằng Tiến sỹ và post-doc cũng tại Oxford về chuyên ngành lịch sử, trước khi chuyển sang sự nghiệp ca hát.

Ian Bostridge tham gia biểu diễn khá nhiều Opera, nhưng chính Lieder mới thật sự mang lại danh tiếng cho anh. Anh biểu diễn và thu âm khá nhiều các ca khúc nghệ thuật của Schumann, Britten, Henze, Vaughan Williams... và đặc biệt là Schubert. Cùng với Anne Sofie von Otter, Thomas Quasthoff, Matthias Goerne..., Ian Bostridge đang được coi như một trong những đại diện xuất sắc nhất trong thế hệ ca sĩ thính phòng mới hiện nay. Bản Im Frühling được lấy trong debut album cho EMI của Ian Bostridge, thu âm năm 1996.



Văn Phương


Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-02-26-vi-xung-quanh-la-mua-xuan-)

yes_Iam_here
28-02-2010, 19:02
Post lại bản dịch đầy đủ. Có 1 số chỗ dịch hơi bay tí, thôi kệ. Mà chả hiểu sao arale phân dòng cách khổ kiểu qué gì mà trên tuanvietnam lại là 3 dòng 1 khổ.

Im Frühling

Ernst Schulze (1789-1817)

Still sitz’ ich an des Hügels Hang,

der Himmel ist so klar,

das Lüftchen spielt im grünen Tal.

Wo ich beim ersten Frühlingsstrahl

einst, ach so glücklich war.

-

Wo ich an ihrer Seite ging

so traulich und so nah,

und tief im dunklen Felsenquell

den schönen Himmel blau und hell

und sie im Himmel sah.

-

Sieh, wie der bunte Frühling schön

aus Knosp’ und Blüte blickt!

Nicht alle Blüten sind mir gleich,

am liebsten pflückt ich von dem Zweig,

von welchem sie gepflückt!

-

Denn alles ist wie damals noch,

die Blumen, das Gefild;

die Sonne scheint nicht minder hell,

nicht minder freundlich schwimmt im Quell

das blaue Himmelsbild.

-

Es wandeln nur sich Will und Wahn,

es wechseln Lust und Streit,

vorüber flieht der Liebe Glück,

und nur die Liebe bleibt zurück,

die Lieb und ach, das Leid.

-

O wär ich doch ein Vöglein nur

dort an dem Wiesenhang

dann blieb ich auf den Zweigen hier,

und säng ein süßes Lied von ihr,

den ganzen Sommer lang.

(3-1815)

—————————-

Trong xuân

Lặng thinh tôi ngồi trên triền đồi

Ngắm bầu trời trong trẻo

Làn gió đùa ghẹo dưới thung xanh

Nơi những tia nắng đầu xuân an lành chiếu toả

Ngày xưa ấy, tôi đã từng hạnh phúc!

-

Khi em và tôi cùng dạo bước

Sát bên nhau, thân thiết ấm nồng.

Sâu thẳm trong tăm tối đá nguồn

Là bầu trời sáng trong, cao rộng

Giữa nền trời xanh lồng lộng – tôi thấy em.

-

Hãy nhìn xem xuân tươi xinh rực rỡ

Đang bừng nở những mầm lá, nụ hoa

Nhưng hoa nào, với tôi cũng vậy thôi

Em đã hái đi rồi,

Những bông hoa mà tôi thích nhất.

-

Vẫn như xưa, vẹn nguyên tất cả

Vẫn đồng cỏ xanh, vẫn những đoá hoa.

Ánh nắng xưa cũng chẳng bớt chan hoà.

Và dòng suối duyên dáng thướt tha

Vẫn in bóng bầu trời xanh thăm thẳm.

-

Nhưng ảo tưởng và lòng người đã khác

Khao khát – đấu tranh cứ đổi chỗ nhau

Vị ngọt ái ân chẳng còn đâu

Nhưng tình yêu thì vẫn còn ở lại

Ừ,còn lại tình yêu … và cả nỗi buồn đau…

-

Ôi, giá chi ta là chú chim nhỏ

Ở nơi đây, trên đồi cỏ ngát xanh

Ta sẽ đậu trên cành mà hót

Những khúc ca dịu ngọt êm đềm

Chỉ về em, suốt ngày hè không mỏi.

YIH Dịch

Mme Ngô
02-03-2010, 03:07
Tartini : Devil's Sonata (Devil's Trills)

Hello Wal.
Tartini ha ? So với Paganini thì ngón đờn có thể hổng bằng, nhưng tài sáng tác có thể trên một bực.
Nói có thể là vì vẫn cứ tranh cãi hoài vụ này trong "cò giới", nghĩa là giới chơi đờn dây kéo với bow (archet).
Mà nói tới bow là phải nói tới Tartini.

Chuyện lỏng dỏng lòng dòng về Tartini dán dzô đây cho Wal đọc chơi lấy thảo. Văn phong của tui khúc này có hơi ba gai, nhưng hổng sao hết, tui nghĩ Wal vốn là người hổng câu nệ chấp nhứt chuyện "bất đồng ngôn ngữ", nếu có.

Happy new year năm con cọp. Chúc thành viên website Nhạc cổ điển mọi điều may mắn an vui.
Hello hết mấy anh em tui quen bên topic "Về cái chết của B."
Hổng thấy Petite Phương đâu ráo, hổng biết lóng nay cổ sao rồi nữa lận.
Thân ái.


Vì là nhạc Dvorak nên tất nhiên phải có Dvorak’s cello concerto. Nhạc sĩ khách - guest star - chính là anh tàu phù Yo Yo Ma không ai khác. Của đáng tội, vừa rồi thế giới mất đi một thiên tài, đại nhạc sĩ Rostropovich cởi cello về trời trong sự thương tiếc khôn nguôi của toàn nhơn loại. Rồi nhạc giới xầm xì chuyện ấn tín kế vị sẽ về ai ?

Dĩ nhiên ở bắc mỹ, tên tuổi sáng giá nhứt vẫn là anh Yo Yo Ma điển trai lịch sự hào huê phong nhã là cái cẳng. Cây đờn anh ôm cũng thứ dữ hổng thua chi. Hồi đầu nó là người tình tây ban nha của ông Pablo Casals, rồi nó biến thành người yêu hồng mao của cô Jacqueline Du Pré. Tình yêu tới khúc ni thì sanh bẽ bàng đau khổ : Số là hào quang của Du Pré đang rực rở thì cô lâm trọng bịnh, multiple sclerosis, bị yếu liệt vận động. Chồng cô, anh Daniel Barenboim Á căn đình gốc Do-Thái, nhạc sĩ dương cầm tài năng kiêm nhạc trưởng sáng giá, mới đặt làm cho cô một cây đờn khác nhẹ và dễ kéo hơn, cây cello của cô – y chang Thúy Kiều – lại đổi chủ, và lần nay nó lọt vào tay Yo Yo Ma Từ Hải anh hùng.

Số phận Thúy Kiều tới đây ngó chừng có mòi ổn định. Anh Ma mới năm mươi ngoài, còn trẻ măng mà cũng hổng nghe nói có bịnh chi ráo, thành ta cứ yên lòng rằng nàng Kiều sẽ được ảnh ôm ấp dài lâu - Hồ Tôn Hiến còn phải chờ đám Congo ăn tết xong thì mới có thể manh nha niềm hy vọng.

Phải nói thêm cho vui, rằng Pablo Casals vốn nghệ sĩ nên tiềm tàng thói trăng hoa, thành khó mà chung thủy. Ngoài cái cây cello Thúy Kiều của anh Yo Yo Ma, ông còn vài cây khác nữa, đặc biệt là cây Thúy Vân. Hồi ông hát farewell với nhơn loại, thì tiểu ái đồ, kiêm nàng vợ trẻ gốc Puerto Rico sàn sàn tuổi con cháu trong nhà của ông, mới mang Thúy Vân cho bà con thỉnh thoảng mượn xài đỡ.

Thúy Vân hiện nay (y hình) đang ở đợ với anh Haimovitch nít ranh. Anh Haimovitch một tay ôm Thúy Vân, một tay cầm Vĩ mã cò cưa thân ngọc, nghe não nuột thấm ý thì thôi nha. Vĩ mã là cây bọ ngựa tức cái bow hay cái archet, Haimovitch thừa hưởng được từ sư phụ Larose của mình.

Cổ sử về cây vĩ mã kể rằng, thời nẳm nó vừa thô vừa sơ, cho mãi tới khi nó lọt vào mắt nâu của Tartini (dà, mắt nâu, hổng nói lộn đâu mà, vì Tartini vốn dân bắc ý) Tarnini là đại nhạc sĩ vĩ cầm với tiếng đờn mê hoặc lòng người, tới nỗi đờn bà con gái xếp hàng dài trải hoa chờ gót giày chàng dẵm ngang, rồi mang bông dzìa bỏ dưới gối mà tưởng nhớ mùi hương.

Tartini sanh lòng luyến ái cháu gái của một chức sắc giáo phận thành phố nhà, rồi tỉnh bơ mang nàng đi … đăng ký. Thương xót số phần cô cháu non dại, yêu lầm thằng nghệ sĩ còm ‘trên vĩ cầm dưới vĩ mã’, đức Hồng y tổng Giám mục cậu bèn ký trát lệnh tống giam nó.
Tartini bỏ của chạy lấy người, trốn biệt vô dòng ẩn tu Phan Xi Cô lánh nghiệp. Thời gian trốn tránh làm thày tu, Tartini chẳng những tinh nghệ tiếng đờn mà còn upgrade luôn cả cây vĩ mã truyền thống.

Chuyện kể tiếp theo là … mỗi dịp lễ trọng, Tatini bận áo chùng nâu, đội hood, mang dép cỏ, đứng sau một tấm màn vải và cho đờn hát lên những tuyệt khúc ca ngợi ân sủng đất trời. Xui cái … một bữa có gió lớn, màn tung lên rồi Tartini bị nhận diện và bị trói gô mang dzìa bót thụ án. Hên cái … nhờ lượng từ bi chúa vô biên, Tartini được đức Hồng Y đổi ý, ban phát tự do, thế là chàng xếp áo dòng trả tu viện rồi lại ‘trên vĩ cầm dưới vĩ mã’, tiếp tục chu du thiên hạ mà thổn thức lòng người.

Cây vĩ mã từ lúc có chàng ngó chừng đã đạt tới tuyệt đỉnh, nên rồi mải đến nay nó không (không thèm và không thể) thay đổi nữa. Hiện nay, nếu là thứ xịn (của Tourbe) giá nó có thể lên tới cả trăm ngàn đô la hổng ít !

Wal
08-05-2010, 21:55
Romeo và Juliet - bản nhạc 10 năm của Tchaikovsky

Romeo and Juliet là một trong những tác phẩm xuất sắc của Tchaikovsky, được sáng tác theo thể loại Overture-Fantasy dựa trên vở kịch cùng tên của Shakespeare.

Donwnload mp3 (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Romeo-and-Juliet-Overture.mp3)

Cũng giống như những nhà soạn nhạc khác như Berlioz và Prokofiev, Tchaikovsky có những cảm hứng sâu sắc từ Shakespeare, và ông còn viết những tác phẩm khác dựa theo những vở kịch như The Tempest và Hamlet. Romeo and Juliet, không giống như những tác phẩm khác của Tchaikovsky, không được đánh số tác phẩm.

Tác phẩm được viết dựa trên các chủ đề chính về cha Friar Laurence, mối thâm thù giữa hai dòng họ Montague - Capulet và tình yêu giữa Romeo và Juliet.

Chủ đề đầu tiên được tách ra làm hai phần rõ rệt. Bộ gỗ mở đầu đầy trang nghiêm ở giọng Pha thăng thứ, giống như âm nhạc được sử dụng trong nhà thờ Chính thống giáo Nga - ở đây muốn ám chỉ tới cha Friar Laurence, và vang lên nối tiếp sau đó là bộ dây và kèn co.

Những âm trầm của dàn dây tạo một cảm giác bất an về điềm bất hạnh sắp ập tới. Âm lượng của dàn nhạc tăng dần với những âm thanh mạnh mẽ, đầy khích động trong sự mâu thuẫn giữa hai dòng họ Montague và Capulet. Một trận đấu kiếm quyết liệt diễn ra.


http://tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage431600-11608-Romeoandjulietbrown.jpg


Giai điệu đột nhiên chậm lại, chuyển sang giọng Rê giáng trưởng, mở đầu cho chủ đề tình yêu, đầy nồng thắm và khát khao của đôi tình nhân trẻ Romeo và Juliet nhưng luôn phảng phất chút lo lắng. Tiếp theo đó chủ đề trận chiến quay trở lại, với cường độ mạnh hơn và đẩy đến cao trào của bản nhạc.

Tiếng sáo flute và kèn oboe mang theo chủ đề tình yêu vút lên trên giai điệu dữ dội của bè dây. Dàn nhạc vang lên những tiếng như sấm dậy cùng tiếng cymbal chát chúa đổ ầm xuống như báo hiệu sự tự vẫn của đôi tình nhân.

Chủ đề cuộc chiến được tái hiện lần cuối, và rồi dịu bớt, nhường chỗ cho điệu nhạc chậm buồn ở giọng Si thứ nối tiếp sau đó, với tiếng trống timpani lặp lại liên hồi cùng tiếng tuba kéo dài liên hồi. Những giai điệu ngọt ngào dành cho đôi tình nhân lại được ngân lên, và lời ám chỉ cuối cùng cho chủ đề tình yêu được đưa lên tới đỉnh điểm, mở đầu với tiếng trống đầy timpani đầy sức mạnh, dàn kèn đồng cũng thét vang để kết thúc overture.

Phiên bản đầu tiên của Romeo and Juliet có phần mở đầu được viết theo thể thức fugue và sự đối lập của hai chủ đề - đúng như lý thuyết mà một nhà soạn nhạc có thể trông chờ cho sản phẩm của mình.

Trong khi Balakirev trả lời cho chủ đề tình yêu mà Tchaikovsky viết, “Tôi chơi nó thường xuyên, và tôi muốn ôm anh rất nhiều vì nó”, ông cũng loại bỏ rất nhiều những bản thảo trước mà Tchaikovsky đã gửi – phần mở màn, lấy thí dụ, âm thanh rất giống với tứ tấu của Haydn hơn hợp xướng của Liszt mà ông đề nghị lúc ban đầu – và tác phẩm liên tục được thư từ giữa Moscow và St. Peterburg, giữa Tchaikovsky và Balakirev.


http://tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage453297-11608-romeo-juliet2.jpg


Tchaikovsky chấp nhận một số góp ý của Balakirev nhưng không phải là tất cả. Khi hoàn thành xong tác phẩm, ông đề tặng nó cho Balakirev.

Trong lần đầu tiên công diễn vào ngày 16 tháng 3 năm 1870, sự ra mắt của tác phẩm bị trở ngại bởi một câu chuyện lùm xùm về mối quan hệ giữa nhạc trưởng Nikolai Rubinstein, bạn của Tchaikovsky, và nữ học trò của ông.

Mối quan hệ này khi được phát hiện đã gây trở ngại không nhỏ trước ngày công diễn, và nó còn có sức thu hút khán thính giả hơn là bản overture mới. Và kết quả là tác phẩm Romeo and Juliet không được thành công như mong đợi.

Tchaikovsky đã phải nói rằng: “Sau buổi công diễn chúng tôi cùng nhau ăn bữa tối… Không ai nói một lời nào với tôi về bản overture trong suốt buổi tối đó. Và tôi đã thầm mong sự đánh giá đúng về nó”.

Sự thất bại trong phiên bản Romeo and Juliet đầu tiên đã khiến Tchaikovsky hoàn toàn chấp nhận những lời phê bình của Balakirev và viết lại tác phẩm này. Nó còn buộc Tchaikovsky phải vươn xa hơn thứ âm nhạc mà ông được đào tạo và viết lại rất nhiều để có được phiên bản như chúng ta biết ngày nay.

Lần này có một thay đổi đặc biệt, đó là Tchaikovsky đã chuyển chủ đề tình yêu ra khỏi phần phát triển, đưa nó đối đầu với chủ đề đầu tiên (sự xung đột giữa hai dòng họ Montague và Capulet). Sự kết lại của chủ đề thứ nhất có ảnh hưởng hết sức mạnh mẽ đến chủ đề tình yêu, và rốt cuộc phá hoại nó. Tiếp sau mô hình này, Tchaikovsky thay đổi sự xung đột trong giai điệu từ phần phát triển sang phần kết, nơi nó đạt đến đỉnh điểm của bi kịch.

Trong lúc ấy, Rubinstein rất ấn tượng với những tác phẩm xuất sắc của Tchaikovsky nói chung và tác phẩm Romeo and Juliet nói riêng. Ông đã thu xếp với nhà xuất bản Bote and Bock để xuất bản tác phẩm này vào năm 1870. Nó được coi là một thành công khi vào thời gian này âm nhạc của Tchaikovsky hầu như không được biết tới ở Đức.

Balakirev thì nghĩ rằng Tchaikovsky đã vội vàng khi cho xuất bản Romeo and Juliet. “Đó là điều đáng tiếc đối với anh, hay đúng hơn là Rubinstein, đã hấp tấp khi cho xuất bản Overture này”, ông viết cho Tchaikovsky. “Mặc dầu phần mở đầu mới đã được sửa đổi, ở đó có những thay đổi khác mà tôi đã muốn anh làm.”

Balakirev kết lại bằng việc hy vọng Jurgenson sẽ một lúc nào đó đồng ý “duyệt lại và hoàn thiện hơn Overture”. Phiên bản thứ hai được trình diễn tại St. Peterburg vào ngày 17/2/1872, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Eduard Nápravník.

Vào năm 1880, 10 năm sau khi phiên bản đầu tiên được công diễn, Tchaikovsky viết lại phần kết của tác phẩm này. Được hoàn thành vào ngày 10/9/1880, nhưng nó chỉ thực sự giành được tiếng vang lớn vào ngày 1/5/1886 tại Tbilisi, Georgia, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Mikhail Ippolitov-Ivanov.

Phiên bản thứ ba và cũng là cuối cùng này là phiên bản được trình diễn nhiều nhất hiện nay. Những phiên bản trước đó chỉ thỉnh thoảng được biểu diễn như để tham khảo về một giai đoạn lịch sử hình thành của tác phẩm.


Kỳ Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-04-29-romeo-va-juliet-ban-nhac-10-nam-cua-tchaikovsky-))

Wal
05-06-2010, 00:51
Robert Schumann - hiện thân của thăng trầm tình cảm

Là người kế thừa tinh thần của Bach và Beethoven, người tiên đoán về Chopin và Brahms, một nhà phê bình tận tâm và sắc sảo và một trí thức dòng dõi quý tộc cởi mở với bất cứ cái gì liên quan đến văn chương thơ phú, Robert Schumann là hiện thân của sự thăng trầm tình cảm và trí tuệ của toàn bộ trào lưu Lãng mạn Đức.

Bản nhạc: Märchenbilder Op. 113/1 (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Mrchenbilder-No.-1-Nicht-schnell-for-viola-or-violin-piano-Op.-113-1.mp3)
Tác giả: Robert Schumann
Thể hiện: Martha Argerich và Mischa Maisky

***

Robert Schumann sinh ra tại Zwickau ở Saxony ngày 8/6/1810, là út trong số năm người con của gia đình. Cha ông, một nhà xuất bản và buôn bán sách, rất yêu âm nhạc và văn chương. Mẹ ông, là một nhạc sĩ nghiệp dư có tài, đã dạy cho ông những bài cơ bản về piano, vậy nên khi 11 tuổi, ông đã cố gắng để biến giấc mơ thời niên thiếu thành một tác phẩm nhỏ dành cho giọng hát và nhạc cụ dựa trên bài thánh ca thứ 150.

Ông đọc rất nhiều, và nhà văn khiến cho ông có cảm giác ngây ngất là Friedrich Richter, nhà văn người Đức mới quá cố (1825), người lấy bút danh bằng một cái tên Pháp là Jean Paul Richter. Mặc dù rất mê âm nhạc, Schumann lại được ghi danh vào khoa Luật của trường Đại học Leipzig năm 1828. Ông đã không phản đối nhưng lại bị rơi vào một tình trạng lãnh đạm sâu sắc. Để vượt qua cú sốc đầu tiên, ông đã phải rất nỗ lực để thích nghi với nó. Ông tới các sàn đấu kiếm, thám hiểm các vùng quê xung quanh Leipzig, du lịch tới Munich và Bayreuth với bạn mình là Rosen, bắt đầu nghiên cứu về triết học của Kant, Fichte, Schelling và Hegel, học đấu kiếm, chơi piano và viết những lá thư tinh tế quen thuộc kiểu Proust.

Chuyến đi đến Leipzig của bác sĩ Carus, một người quen cũ ở Zwickau đã giúp kết thúc thời kì băn khoăn, không phương hướng này trong cuộc đời ông. Được đón chào tại ngôi nhà thân thiện, Schumann rốt cuộc cũng có thể nghỉ ngơi và nói chuyện thẳng thắn, không còn bị hạn chế bởi sự e ngại mà ông luôn cảm thấy khi có mặt của những người xa lạ. Bạn bè của Carus gồm cả hai con người rất tuyệt vời là giáo sư Wieck và con gái của ông, họ đồng thời là thầy và trò. Clara Wieck, người mà Schumann sẽ gắn bó trong phần đời còn lại mình, là một cô gái rất thông minh và có tài năng âm nhạc bẩm sinh (cô đã có một buổi biểu diễn piano rất thành công khi chưa đến 10 tuổi). Schumann và Wieck ngay lập tức đã rất hiểu nhau và mối quan hệ thầy trò giữa họ không thể mặn nồng hơn thế. Dưới sự dạy dỗ nghiêm khắc của Wieck, ông đã được củng cố thêm về kỹ thuật piano mà cho đến tận lúc đó vẫn chỉ là những mảng chắp vá, và mặc dầu nghiên cứu âm nhạc chiếm gần trọn thời giờ của ông, ông vẫn tiếp tục học luật để làm vui lòng mẹ mình.


http://tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage430327-11701-robertschumann.jpg


Đến cuối tháng 8/1829 Schumann khởi hành tới Italy và trở về sau hai tháng đi thăm Brescia, Milan và Venice. Rồi ông chuyển từ Leipzig tới Heidelberg, ông lại cảm thấy sự căng thẳng trước đó. Sự mặc cảm, bản năng dịch chuyển của ông không ngừng khao khát tình yêu, cái đẹp và âm nhạc và sự khủng hoảng mà đôi khi xảy ra trong ông đã đột ngột bắt đầu tại một buổi hoà nhạc ngoài trời Easter ở Frankfurt ngày 11/4/1830, khi ông nghe Paganini chơi lần đầu tiên. Buổi biểu diễn đó đã làm ông loá mắt, như thể Paganini đã lột bỏ lớp mạng che của một sự thật cổ xưa, bị che giấu trong con người ông. Cho đến mùa hè năm 1830 đó, lần đầu tiên ông đã hiểu được sức mạnh ma thuật của âm nhạc.

Với sự khuyến khích của mẹ và sự tán thành của Wieck, Schumann đã dùng phần tài sản trong gia đình mà mình được hưởng để đầu tư đầy đủ vào việc học nhạc. 1831 là một năm quan trọng trong cuộc đời âm nhạc của ông. Khi ông làm khiếu thẩm mỹ phê bình của mình tinh tế hơn trong một bầu không khí âm nhạc luôn được trau dồi của Leipzig, một cách vô thức, ông đã tự trang bị thứ rồi đây sẽ trở thành nghề nghiệp nghệ thuật lớn thứ hai và mang tính chuyên nghiệp trong cuộc đời mình, nghề phê bình âm nhạc. Với các hiệp hội âm nhạc, các buổi hoà nhạc Gewandhaus, viện hàn lâm, và rất nhiều buổi hoà nhạc thính phòng bậc thầy của nó, Leipzig là một trong những kinh đô âm nhạc vào thời Schumann.

Thông tin âm nhạc tại đó đến từ sự trải nghiệm âm nhạc trực tiếp , các bản nhạc mới liên tục được chơi và được bàn luận. Bài báo đầu tiên của Schumann được xuất bản trong số tháng 12 của một tạp chí phê bình âm nhạc mới có tên là Allêgmeine musikalische zeitung (universal musical gazette - Báo âm nhạc đại chúng).

Một trong những bài báo được xem là quan trọng đối với sự nghiệp cầm bút của Schumann sau này, một bài bình luận sắc sảo, thấu hiểu và rất xuất sắc, giới thiệu cho giới âm nhạc của Leipzig một nhạc sĩ mà cho đến tận lúc đó vẫn hoàn toàn chưa được biết tới, Frédric Chopin, với một câu nói đầy ấn tượng: "hãy ngả mũ thưa quý bà quý ông, con người này là một thiên tài!".

Ây vậy mà Schumann cũng có thể nói về chính mình như thế. Khả năng sáng tạo mà ông có chỉ được nhận biết một cách mơ hồ trước đó, giờ đây đã bắt đầu thành hình cụ thể, các bản phác thảo ngắn của ông trở nên mạch lạc hơn, thanh nhã hơn, và một Piano concerto, những chương giao hưởng riêng lẻ, và hơn hết là các bản nhạc cho Piano đã bắt đầu hình thành. Cuối cùng, vào năm 1831, tác phẩm đầu tiên của ông được xuất bản Theme and variations on the name Abegg, op.1 cho piano.

Ông cũng viết Papillons, op.2 cho piano vào thời gian này, nhưng đến năm 1832 nó mới được xuất bản. Kết cấu bởi 2 hồi vũ khúc, 12 tiểu khúc tạo thành Papillons đã khẳng định tài năng của ông với tư cách một nhà soạn nhạc. Một loạt các bản nhạc ngắn vẫn còn dở dang cho chúng ta thấy sự sáng tạo tuyệt vời của ông trong việc tạo ra một bầu không khí hay một miêu tả một trạng thái cảm xúc mà lại sử dụng những chất liệu âm nhạc ngắn gọn nhất có thể.

Đầu năm 1832, ông bị cuốn theo một ám ảnh "tuyệt vọng và điên cuồng" đã giữ ông hàng giờ mỗi ngày bên phím đàn, đến mức Schumann đã làm cho ngón thứ tư của bàn tay phải bị căng cứng do làm việc quá độ, rồi sau này ảnh hưởng đến cả bàn tay. Mặc dù chữa theo phương pháp "vi lượng đồng căn", ông vẫn không bao giờ chữa khỏi hoàn toàn được bàn tay đó và buộc phải chấm dứt sự nghiệp pianist của mình.

Giờ đây, khi không còn khả năng chơi piano nữa, cảm xúc sáng tác của ông theo bản năng lại phát triển lên, và đến năm 1833 ông đã xuất bản một số lượng lớn các tác phẩm quan trọng. Studies on caprices by Paganini op.3 và six concer studies on caprices by Paganini op.10, là hai tác phẩm ông bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình với violinist người Italy này, người đã mở rộng tầm mắt cho ông về sức mạnh huyền bí của âm nhạc, cũng như là một sự tái tạo bằng ngôn ngữ piano trình độ violin bậc thầy mà ông đã nghe được từ Paganini.

Virtuosity cũng là một điểm nổi bật đáng chú ý của một số bản nhạc khác ít quan trọng hơn của thời kỳ này như 6 intermezzi op.4 và Impromptu op.54, trên chủ đề của Clara Wieck, nhưng nó đã đạt được một ý nghĩa mới trong bản Toccata "Huy hoàng" op.7, một tác phẩm tuyệt vời không thể phủ nhận ngay cả khi Papillons vẫn là kiệt tác của ông thời kỳ này.

Những kỹ thuật khô khan nhất đã được Schumann biến đổi thành một dòng chảy tuyệt vời trong vắt như pha lê, "moto perpetuo", đầy màu sắc và giai điệu.

Tháng 10/1833 bị bóng đen bao phủ bởi cái chết trẻ đột ngột của hai người là Julian- anh trai ông và vợ của Carl - một người anh trai khác. Schumann thực sự bị sốc và rơi vào một sự phiền muộn sâu sắc, dấu hiệu đầu tiên của sự điên loạn huỷ hoại ông trong quãng đời sau này. Bệnh trầm cảm đã ngăn cản luồng sáng tạo trong sáng tác của ông, nhưng ông vẫn làm việc không ngừng nghỉ.

Tác phẩm đòi hỏi nỗ lực tình cảm lớn nhất của ông, với ý nghĩa rằng nó được ông viết khi tâm trạng đang dao động giữa sự lạc quan hân hoan và sự bi quan sâu sắc nhất, là Grande sonata giọng Fa thăng thứ op.11, được ông hoàn thành năm 1835. Sau đó ít lâu cũng vào năm 1835 là tác phẩm dành cho piano được xem là vĩ đại nhất của ông Carnaval op.9, 1 tập hợp gồm 20 bản nhạc ngắn cho 4 nốt.

Cảm thấy cần phải sáng tác trên một hệ thống thang âm rộng lớn hơn, Schumann quay trở lại với thể loại sonata và viết ra Fantasie op.17, thực chất là một sonata không phải như tên của nó mặc dầu nó cũng có đầy đủ yếu tố "fantasy" của Schumann. Fantasie

Tuy nhiên, ông cũng có những mối quan tâm khác ngoài sáng tác nhạc. Sự khởi đầu xuất sắc của ông với cương vị là một nhà phê bình âm nhạc đã được chú ý và triển vọng ban đầu này chỉ được khẳng định bằng những bài viết sau này của ông. Một nhóm những nhạc sỹ và nhà văn tiên phong dần dần hình thành xung quanh ông. Các cuộc gặp gỡ sôi nổi của họ tại quán rượu ở Fleichergasse là những dịp hâm nóng các tranh luận trong đó tác phẩm của Beethoven, Bach, Weber và Schubert được đề cao, và những nỗ lực của những nhạc sỹ mới, đặc biệt là Chopin và Mendelssohn, được nhìn nhận như sự đại diện của tính độc đáo âm nhạc đặc trưng Đức mà các nhà phê bình bàn giấy đã khá lâu không để ý.

Một liên minh mới được thành lập mà như Schumann nói: "Còn hơn cả điều bí mật vì nó chỉ tồn tại trong đầu của những nhà sáng lập", "League of the Brothers of David" (Liên minh những người anh em của David) chống lại những định kiến tư sản và chủ nghĩa tầm thường trong âm nhạc trên danh nghĩa tiến bộ và cảm hứng tự do của thời kỳ lãng mạn.

Với cái chết của người bạn thân nhất, Schunke, và sự thờ ơ của Hartmann, ông chủ của tạp chí mà Schumann đang viết bài cho, tờ Neue Zeitschrift fur Musik, những lý tưởng của Liên minh dường như tất bị thất bại, nhưng Schumann vẫn tự mình làm tất cả công việc xuất bản lẫn biên tập cho tờ tạp chí, và kết quả là nó đã trở thành một sự sáng tạo của riêng ông (tên của ông luôn đi cùng với nó trong giới phê bình âm nhạc từ đó).

Mặc dù giọng viết trẻ trung và nhiệt tình, tờ tạp chí cũng rất đáng chú ý bởi trình độ cao của tranh luận mà nó đưa ra và sự rõ ràng của các lập trường đầy tính trí tuệ và lý thuyết, và nó nhanh chóng trở thành một trong những tạp chí âm nhạc hàng đầu thời kỳ này.

Thời kỳ sáng tạo ban đầu mà piano chiếm ưu thế gần như hoàn toàn đã đi đến kết thúc vào khoảng những năm 1838 - 1839 với một loạt các tác phẩm quan trọng rất ấn tượng, cho dù là hầu hết các tác phẩm nguyên gốc cho piano của ông đã được viết ra đến thời điểm đó: Kriesleriana, op.16, một tập hợp những bản nhạc dựa trên những câu chuyện hư cấu của Hoffmann, Kapellmeister Kriesler đi từ những điều kỳ quái nhất cho đến những điều siêu phàm nhất; 8 Novelletten, op.2; sonata giọng Son thứ, op.22; Kinderszenen (Những hoạt cảnh từ thuở ấu thơ), op.15, một kiệt tác về sự thấu hiểu tâm lý; và Humoresque Op 20 đầy màu sắc biến ảo.

Sau bao khó khăn không thể kể hết, Schumann cũng cưới được Clara Wieck vào năm 1840 khi ông đã ở đỉnh cao của danh vọng. Khi còn trẻ, Clara luôn luôn có mặt trong các cuộc gặp gỡ sôi nổi của liên minh, và kết quả là, đã nhanh chóng trở nên có một ảnh hưởng lớn lao tới nó bằng sự quyến rũ và tính nhạy cảm đầy sắc bén của một nghệ sĩ, nhưng khi Schumann đặt vấn đề với cha cô năm 1836, ông đã không đồng ý cho họ lấy nhau với lý do cô còn trẻ, và trên hết, khả năng tài chính bấp bênh của một nhạc sĩ cộng với sức khoẻ vốn đã không lấy gì làm tốt của Schumann.

Ông còn làm mọi việc càng trở nên tệ hơn khi bắt Clara đi xa bằng những tour diễn kiệt sức tới các thủ đô của Châu Âu, với hy vọng rằng sự xa cách lâu ngày sẽ làm cho cô phai nhạt dần tình cảm với Schumann.

Năm 1840, Clara dến tuổi được tự do kết hôn mà không cần có sự ưng thuận của cha mẹ, và mặc cho bao sự phản đối, đôi uyên ương vẫn quyết định tới toà án hoàng gia Leipzig ở Appeal để xin cưới được nhau, và đám cưới đã diễn ra vào 12/9/1840 mà không có sự tham dự của người cha nghiêm khắc của cô.

Đó là một cuộc hôn nhân hạnh phúc, cả hai đều mang trong mình nghệ sĩ tính và đầy xúc cảm. Nhiều tháng trước đám cưới của mình, Schumann đã viết một loạt các bài hát thể hiện một cách rõ ràng đỉnh cao trong cuộc đời sáng tạo của ông. Với vai trò một người viết ca khúc, ông đã tiếp tục cái truyền thống tuyệt vời đã được thiết lập bởi Schubert, mặc dù ông không bao giờ đạt được hoàn toàn cái xúc cảm mãnh liệt đến sung sướng vô ngần của sức tưởng tượng như Schubert.

Điều này có thể là vì Schubert có thiên tài bẩm sinh hơn về giai điệu ca từ và khả năng của giọng hát, và có ít cách biểu đạt gián tiếp hơn, nhưng sức mạnh biểu đạt một cách khác thường của Schumann và sự phát triển tâm lý bên trong nó ít ra cũng sánh được và trong nhiều trường hợp còn trội hơn Schubert. Piano cũng được đưa vào những bài hát của Schumann với một niêm luật mới: có lẽ là đầy nghịch lý, có thể nói rằng những bản nhạc dành cho piano của ông đã đạt tới sự tinh tế nhất của nó và cái độc đáo trong các bản nhạc đệm cho các bài hát của ông, nơi mà tài năng piano bẩm sinh của ông được thử thách tới mức cực điểm bởi chất thơ trong lời của các bài hát.

Thế nên chúng ta mới có những Liederkreise op.24 dựa trên những bài thơ của Heine; The myrthen cycle, op.25 từ Goethe, Ruckert, Byron, Heine và nhiều người khác; Liederkriese op.39 dựa trên thơ của Eichendorff; tập liên khúc Frauenliebe und lebenDiechterliebe (Tình yêu của thi nhân) op.48 cũng dựa vào những bài thơ của Heine.

Trong lĩnh vực nhạc thính phòng, 3 tứ tấu cho đàn dây op.42 (1842) rất hay, nhất là bản giọng La trưởng, và piano đã góp phần làm nên một ngũ tấu op.47 thật huyền ảo (1842); tam tấu, op.63 (1847). Hai sonata cho violon, op.105 (1851) và op.121 (1851), mặc dầu có lẽ ít nhất quán hơn, nhưng vẫn có những chương tràn đầy cảm xúc khác thường và sức mạnh bên trong.

Bốn giao hưởng của Schumann, dù có hơi yếu về mặt cấu trúc, nhưng ấn tượng về mặt âm nhạc cùng hoà âm độc đáo của chúng, vẫn ở vị trí trung tâm của truyền thống giao hưởng Đức. Piano concerto, op.54 (1846), Introduction and Allegro, op.92 (1849) cho piano và dàn nhạc và Cello concerto, op.129 (1850) cũng rất được yêu thích vì chúng có cảm giác lôi cuốn, đầy ngẫu hứng khi biểu diễn.

Genoveva, op.81 (1847), vở opera duy nhất của Schumann, không bao giờ được diễn lại từ sau lần đầu công diễn đầy thảm hoạ của nó vào năm 1850 (mặc dù nó nên được nhớ tới vì xuất hiện cùng năm với vở Lohengrin của Wagner) và có lẽ cũng đáng xem xét lại một cách tỉ mỉ vì có yếu tố Wagner trong đó. Ba oratorio phi tôn giáo của ông, Das Paradies und die Peri (Paradise and the Peri), op.50 (1843); Scenes from Goethe's Faust (1847 - 1853) và câu chuyện ngụ ngôn Der rose Pilgerfahrt (Cuộc hành hương của đóa hồng) op.112 (1851) thành công hơn, và đều có liên quan tới giao hưởng hợp xướng Requiem fur Mignon, op.98b (1849) với sự ứng khẩu trong lời nói rất đặc trưng của Schumann.

Mặc dầu Schumann vẫn tiếp tục soạn nhạc, song dường như có cái gì đó trong tính cách của ông bị sụp đổ. Clara đã có những buổi biểu diễn thắng lợi ở nước ngoài tại Copenhagen, Hamburg và Bohemia, đôi vợ chồng đã cư xử thật gần gũi và khéo léo trong suốt chuyến thăm Nga của mình, nhưng Schumann ngày càng khó chịu. Năm 1844 ông đã phải từ bỏ cây đàn piano của mình cũng như vị trí giảng dạy ở Leipzig Conservatory (được Mendelssohn thành lập), và bác sĩ khuyên ông nên chuyển đến một thành phố khác.

Hậu quả giờ đây là chứng mất trí nhớ và khó khăn trong đi lại, ám ảnh bởi một nỗi sợ chết mãnh liệt và bị giày vò bởi sự thay đổi tâm tính khắc nghiệt, ông đã chuyển đến Dresden năm 1846, ở đó ông bị một cơn suy sụp nặng hơn mà từ đó đã sản sinh ra một sự bùng nổ khác trong soạn nhạc. Chuyển từ Dresden tới Dusseldorf năm 1850, ông chấp nhận vị trí chỉ huy trong dàn nhạc của thành phố, nhưng lại bị buộc phải từ chức vì sự không ổn định về tinh thần ngày càng tăng. Bài báo cuối cùng của ông với vai trò nhà nhà phê bình xuất hiện năm 1853.

Trong đó ông đã chỉ ra những nét tiêu biểu của một người trẻ tuổi Johannes Brahms (mà ông chỉ vừa mới gặp), đánh giá anh ta như một người kế vị thực thụ của Beethoven trong thể loại nhạc giao hưởng, một sự biệt đãi mà trước đến giờ ông luôn từ chối.

Khi trở lại Dussendorf từ chuyến thăm Hà Lan, Schumann gần như đã cạn hết nguồn năng lượng trong mình, bị hành hạ bởi chứng mất ngủ vì ông sợ rằng sẽ chết trong giấc ngủ. Tin chắc rằng mình đang bị theo đuổi, ông đã bỏ trốn khỏi nhà mình một đêm giá rét vào tháng 2 năm 1854 và nhảy xuống sông Rhine.

Ông đã được những người đi thuyền cứu sống và mang về nhà, nhưng giờ đây ông gần như đã điên hoàn toàn. Ông được đưa đến một bệnh viện ở Endenich gần Bonn, và từ chối không tiếp khách. Ông qua đời vào ngày 29/7/1856. Clara vẫn sống rất lâu sau đó và trình diễn các bản nhạc giúp tạo nên sự vĩ đại của chồng mình trên khắp thế giới này. là một tác phẩm đầy chín chắn trong đó Schumann đã xử lý các cấu trúc kiến trúc lớn với một sự thuận lợi và dễ dàng mà ông hiếm khi đạt được trong các tác phẩm sau này. (Cuộc sống và tình yêu của một người phụ nữ) op.42 tuyệt vời dựa trên lời của Adelbert von Chamisso và có lẽ là kiệt tác ca khúc lớn nhất của ông; và cuối cùng là Diechterliebe (Tình yêu của thi nhân) op.48 cũng dựa vào những bài thơ của Heine.
Trong lĩnh vực nhạc thính phòng, 3 tứ tấu cho đàn dây op.42 (1842) rất hay, nhất là bản giọng La trưởng, và piano đã góp phần làm nên một ngũ tấu op.47 thật huyền ảo (1842); tam tấu, op.63 (1847). Hai sonata cho violon, op.105 (1851) và op.121 (1851), mặc dầu có lẽ ít nhất quán hơn, nhưng vẫn có những chương tràn đầy cảm xúc khác thường và sức mạnh bên trong.

Bốn giao hưởng của Schumann, dù có hơi yếu về mặt cấu trúc, nhưng ấn tượng về mặt âm nhạc cùng hoà âm độc đáo của chúng, vẫn ở vị trí trung tâm của truyền thống giao hưởng Đức. Piano concerto, op.54 (1846), Introduction and Allegro, op.92 (1849) cho piano và dàn nhạc và Cello concerto, op.129 (1850) cũng rất được yêu thích vì chúng có cảm giác lôi cuốn, đầy ngẫu hứng khi biểu diễn.

Genoveva, op.81 (1847), vở opera duy nhất của Schumann, không bao giờ được diễn lại từ sau lần đầu công diễn đầy thảm hoạ của nó vào năm 1850 (mặc dù nó nên được nhớ tới vì xuất hiện cùng năm với vở Lohengrin của Wagner) và có lẽ cũng đáng xem xét lại một cách tỉ mỉ vì có yếu tố Wagner trong đó. Ba oratorio phi tôn giáo của ông, Das Paradies und die Peri (Paradise and the Peri), op.50 (1843); Scenes from Goethe's Faust (1847 - 1853) và câu chuyện ngụ ngôn Der rose Pilgerfahrt (Cuộc hành hương của đóa hồng) op.112 (1851) thành công hơn, và đều có liên quan tới giao hưởng hợp xướng Requiem fur Mignon, op.98b (1849) với sự ứng khẩu trong lời nói rất đặc trưng của Schumann.

Mặc dầu Schumann vẫn tiếp tục soạn nhạc, song dường như có cái gì đó trong tính cách của ông bị sụp đổ. Clara đã có những buổi biểu diễn thắng lợi ở nước ngoài tại Copenhagen, Hamburg và Bohemia, đôi vợ chồng đã cư xử thật gần gũi và khéo léo trong suốt chuyến thăm Nga của mình, nhưng Schumann ngày càng khó chịu. Năm 1844 ông đã phải từ bỏ cây đàn piano của mình cũng như vị trí giảng dạy ở Leipzig Conservatory (được Mendelssohn thành lập), và bác sĩ khuyên ông nên chuyển đến một thành phố khác.

Hậu quả giờ đây là chứng mất trí nhớ và khó khăn trong đi lại, ám ảnh bởi một nỗi sợ chết mãnh liệt và bị giày vò bởi sự thay đổi tâm tính khắc nghiệt, ông đã chuyển đến Dresden năm 1846, ở đó ông bị một cơn suy sụp nặng hơn mà từ đó đã sản sinh ra một sự bùng nổ khác trong soạn nhạc. Chuyển từ Dresden tới Dusseldorf năm 1850, ông chấp nhận vị trí chỉ huy trong dàn nhạc của thành phố, nhưng lại bị buộc phải từ chức vì sự không ổn định về tinh thần ngày càng tăng. Bài báo cuối cùng của ông với vai trò nhà nhà phê bình xuất hiện năm 1853.

Trong đó ông đã chỉ ra những nét tiêu biểu của một người trẻ tuổi Johannes Brahms (mà ông chỉ vừa mới gặp), đánh giá anh ta như một người kế vị thực thụ của Beethoven trong thể loại nhạc giao hưởng, một sự biệt đãi mà trước đến giờ ông luôn từ chối.

Khi trở lại Dussendorf từ chuyến thăm Hà Lan, Schumann gần như đã cạn hết nguồn năng lượng trong mình, bị hành hạ bởi chứng mất ngủ vì ông sợ rằng sẽ chết trong giấc ngủ. Tin chắc rằng mình đang bị theo đuổi, ông đã bỏ trốn khỏi nhà mình một đêm giá rét vào tháng 2 năm 1854 và nhảy xuống sông Rhine.

Ông đã được những người đi thuyền cứu sống và mang về nhà, nhưng giờ đây ông gần như đã điên hoàn toàn. Ông được đưa đến một bệnh viện ở Endenich gần Bonn, và từ chối không tiếp khách. Ông qua đời vào ngày 29/7/1856. Clara vẫn sống rất lâu sau đó và trình diễn các bản nhạc giúp tạo nên sự vĩ đại của chồng mình trên khắp thế giới này.

Lê Thanh Huyền (Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-05-12-robert-schumann-mot-chan-dung))

Wal
07-06-2010, 19:01
Các biến tấu đặc sắc của Schumann

Trong âm nhạc cổ điển, biến tấu (variation) là một hình thức trong đó các cách trình bày một chủ đề âm nhạc được biến đổi hoặc đưa ra theo các cách sắp xếp có sự thay đổi. Vào thế kỉ 18 và 19 chủ đề thường được trình bày trước, tiếp theo là một số biến tấu, do đó mà có cách diễn đạt "chủ đề và các biến tấu" (theme and variations).

Bản nhạc: Chủ đề và biến tấu trên cái tên "Abegg" (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Abeggvariationsop.1.mp3)
Tác giả: Robert Schumann
Thể hiện: Vladimir Ashkenazy

***

Trong âm nhạc cổ điển, biến tấu (variation) là một hình thức trong đó các cách trình bày một chủ đề âm nhạc được biến đổi hoặc đưa ra theo các cách sắp xếp có sự thay đổi. Vào thế kỉ 18 và 19 chủ đề thường được trình bày trước, tiếp theo là một số biến tấu, do đó mà có cách diễn đạt "chủ đề và các biến tấu" (theme and variations).

Các biến tấu đầu thế kỷ 19 rơi vào hai nhóm: các "biến tấu chính thức" của kiểu Cổ điển Vienna và các "biến tấu đặc sắc" được định đoạt bởi những ý tưởng và hình tượng mới mẻ của trường phái Lãng mạn. Nhóm biến tấu thứ nhất do các nhà soạn nhạc Hummel, Cramer và Spohr đại diện, nhóm biến tấu thứ hai do các nhà soạn nhạc Weber, Mendelssohn và đặc biệt là Robert Schumann đại diện.

Nhắc đến các tác phẩm ở thể loại biến tấu của nhà soạn nhạc người Đức Robert Schumann (1810 - 1856) đầu tiên phải kể đến Chủ đề và các biến tấu trên cái tên "Abegg" Op. 1 viết cho piano độc tấu. Tác phẩm này nằm trong số những tác phẩm được biểu diễn thường xuyên nhất của Schumann, một phần vì nó không đòi hỏi những thách thức quá lớn về kỹ thuật diễn tấu.

Mặc dù số opus gắn kèm với Chủ đề và các biến tấu trên cái tên "Abegg" hàm ý rằng đây là tác phẩm đầu tiên được xuất bản của Schumann nhưng nó không phải là tác phẩm đầu tiên mà Schumann sáng tác cũng như không phải là cuộc thám hiểm đầu tiên của ông ở hình thức biến tấu. Trước khi hoàn thành tác phẩm này vào năm 1830 ông đã soạn không ít hơn 8 polonaise, 6 waltz, 1 piano concerto chưa hoàn thành, một số ca khúc trẻ, một bộ các biến tấu cho piano bốn tay và các tác phẩm ngắn hơn ở thể loại khác.


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage326487-11977-Tuong-dai-Robert-Schumann.jpg

Tượng đài Robert schumann tại Zwickau, Đức (Nguồn: Wikipedia)


Chủ đề và các biến tấu trên cái tên "Abegg" gồm các đoạn: Chủ đề (Animato); 3 Biến tấu; Cantabile; Finale alla Fantasia (Vivace). Vào thời điểm Schumann ở tuổi 20 soạn tác phẩm này, tiếng nói khá bấp bênh của Schumann còn đang bị phong cách của các bậc tiền bối của mình là Carl Maria von Weber và Johann Hummel che mờ. Tuy nhiên các biến tấu này cùng đoạn Finale alla Fantasia đã hàm chứa một sự hứa hẹn dồi dào về những điều lớn lao còn chưa tới.

Theo một ấn phẩm do Clara Schumann biên tập, chất liệu chủ đề của tác phẩm bắt nguồn từ tên họ của người được đề tặng, nữ bá tước Pauline von Abegg: A-B-E-G-G (tương đương với các nốt La-Si giáng-Mi-Sol-Sol). Một giả thuyết khác cho rằng Schumann lấy chất liệu chủ đề từ tên họ của Meta Abegg, một nghệ sĩ piano trẻ và con gái một thương nhân bình thường mà ông đã gặp và kết bạn tại Mannheim.

Ở chủ đề mở đầu của tác phẩm, motive tiết tấu 3-4 vụng về và lặp lại cùng phần đệm theo thông lệ dường như tỏ ra không mấy hứa hẹn cho khả năng biến tấu. Song ngay lập tức phán đoán đó được chứng minh là sai khi nhà soạn nhạc đưa ra ba biến tấu liên tục (ở cùng điệu thức Fa trưởng và nhịp độ Animato) khá là phóng khoáng và khéo léo.

Đoạn trung gian trữ tình Cantabile (du dương) đẹp tuyệt vời vẫn bắt nguồn từ chất liệu cơ bản nhưng không được nhà soạn nhạc trình bày như một biến tấu tan thành một sự chuyển giọng trực tiếp sang đoạn Finale alla Fantasia (Vivace) đầy hào hứng.

Những năm về sau Schumann sẽ sử dụng các nguồn gốc cao độ-chữ cái còn kiểu cách hơn vậy khi soạn nhạc như ở bộ Carnaval Op. 9 hay các fugue trên cái tên BACH. Carnaval, có tiêu đề phụ là "Những hoạt cảnh nhỏ trên bốn nốt", bao gồm 21 khúc nhạc mà Schumann xây dựng trên cơ sở biến tấu từ một chủ đề không hoàn thiện là 4 chữ cái ASCH (trong tiếng Đức tương đương với 4 nốt La-Mi-Đô-Si).


Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-06-05-trang-page-2))

Wal
08-06-2010, 10:32
Ngũ tấu piano – ngũ tấu của kỉ nguyên Lãng mạn

Ngũ tấu piano giọng Mi giáng trưởng của Schumann là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của thể loại này và cũng là một trong không nhiều những ngũ tấu piano xuất hiện thường xuyên trong danh mục biểu diễn.

Bản nhạc: Chương 3 & 4, Ngũ tấu piano giọng Mi giáng trưởng, Op. 44
Tác giả: Robert Schumann
Thể hiện: Arthur Rubinstein (piano) và nhóm tứ tấu Guarneri
Tải về: chương 3 (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Robert-Schumann-Piano-Quintet-in-E-flat-Op.-44-III.-Scherzo.mp3), chương 4 (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Robert-Schumann-Piano-Quintet-in-E-flat-Op.-44-IV.-Allegro-ma-non-troppo.mp3)

***

Nhạc thính phòng là nhạc viết cho nhạc cụ hòa tấu, thường dao động từ 2 đến 10 người chơi, mỗi người chơi một bè và mọi bè đều có tầm quan trọng ngang bằng. Nhạc thính phòng từ khoảng năm 1750 phần lớn dành cho tứ tấu đàn dây (2 violin, viola và cello), mặc dù các ngũ tấu đàn dây cũng như các tam tấu và các ngũ tấu cho 4 đàn dây cùng với 1 piano hay 1 nhạc cụ hơi cũng đã phổ biến. Gọi là nhạc thính phòng là bởi vì ban đầu nó ngụ ý là nhạc dành cho biểu diễn riêng, điển hình là trong một sảnh nhỏ hoặc các phòng riêng của cá nhân. Các buổi hòa nhạc các tác phẩm thính phòng trước công chúng chỉ bắt đầu vào thế kỉ 19.

Nhạc thính phòng trong kỉ nguyên Lãng mạn (khoảng năm 1820 đến khoảng năm 1900) có xu hướng tuân theo các truyền thống Cổ điển. Các nhà soạn nhạc thường sử dụng cấu trúc sonata 4 chương và tứ tấu đàn dây tiếp tục là một lối kết hợp nhạc cụ được ưa thích.

Khi các nhà soạn nhạc tìm cách thể hiện cảm xúc mãnh liệt trong tác phẩm của mình, các tác phẩm đề cao piano, chẳng hạn như Ngũ tấu "Cá hồi" (http://www.tuanvietnam.net/die-forelle-tu-bai-ca-den-ngu-tau-phan-2) (1819) của Schubert và Ngũ tấu Piano giọng Fa thứ (1864) của Brahms, trở nên phổ biến. Bởi vì piano sở hữu một phạm vi cường độ và sắc thái lớn hơn các nhạc cụ thính phòng khác. Những buổi biểu diễn nhạc thính phòng trước công chúng cũng trở nên phổ biến và các nhà soạn nhạc thường sáng tác nhạc thính phòng với dự tính để biểu diễn trước công chúng, vì vậy làm thay đổi chức năng ban đầu của nhạc thính phòng.



http://tuanvietnam.net/assets/images/Arthur-Rubinstein-va-nhom-tu-tu-Guarneri3.JPG
Ảnh minh họa: Nghệ sĩ piano Arthur Rubinstein và nhóm tứ tấu Guarneri


Ngũ tấu piano giọng Mi giáng trưởng của Schumann là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của thể loại này và cũng là một trong không nhiều những ngũ tấu piano xuất hiện thường xuyên trong danh mục biểu diễn. Tác phẩm được phác thảo trong tháng 9 và hoàn thành vào tháng 12 năm 1842. Mendelssohn đã đưa tác phẩm này vào trong một chương trình biểu diễn có tính chất riêng tư vào ngày 6 tháng 12 năm 1842, và Clara Schumann - người được đề tặng tác phẩm này - đã lần đầu tiên đưa tác phẩm ra biểu diễn trước công chúng tại Gewandhaus, Leipzig vào ngày 8 tháng 1 năm 1843.

Tác phẩm gồm 4 chương:

I - Allegro brillante
II - In modo d'una marcia
III - Scherzo (Molto vivace) & Trio I & II
IV - Finale: Allegro manon troppo

Chương I có rất nhiều sắc thái, ngay khi bắt đầu là một chủ đề chính táo bạo, bùng nổ rồi tan ra trong những giai điệu trữ tình. Chủ đề 2 phát triển trên âm thanh của cây đàn cello. Sự phát triển này hoàn toàn dựa trên chủ đề 1, piano chống đỡ lại dàn dây với những nốt móc đơn rất đặc trưng.

Chương II chậm là 1 rondo, với những nhịp nhanh của giai điệu hành khúc đóng vai trò như điệp khúc, với 2 đoạn chen tương phản nhau, nét đặc biệt là đoạn đầu tiên phóng khoáng ở giọng Đô trưởng, đoạn 2 chen ngang với sức mạnh bão tố ở giọng Fa thứ (Agitato) với những chùm 3 bão táp của piano và những dự đoán u ám của dàn dây.

Chương III là một khúc Scherzo, mở đầu khá dồn dập. Chương này gồm có 2 Trio. Trio đầu tiên ở giọng Son giáng trưởng, Trio thứ 2 quay cuồng ở giọng La giáng thứ với chất liệu âm nhạc gipsy Hungary quen thuộc và rất được yêu mến của Brahms.

Chương IV lại là một rondo, với một chủ đề kiên quyết được xuất hiện và tái hiện trong những giọng "buồn": bắt đầu là giọng Son thứ, tiếp nối là Si thứ sau đoạn chen đầu tiên và ở giọng Son thăng thứ sau đoạn thứ 2. Phần phát triển là một đoạn đối thoại đầy kịch tính giữa piano và dàn dây. Chương cuối kết thúc một cách khéo léo đúng hơn là một tính toán tỉ mỉ, một coda viết theo hình thức phức điệu với chủ đề chính của phần đầu tiên tỏa sáng mang đến cảm giác đồng nhất trong toàn bộ tác phẩm.


nhaccodien.info (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-06-07-ngu-tau-piano-ngu-tau-cua-ki-nguyen-lang-man))

sssrsw
13-06-2010, 20:42
Wal ơi, nhắc đến Ngũ tấu piano mới nhớ. Wal có thông tin gì về tác phẩm của Schubert: Piano Trio No 2 in E flat major D 929 không?
Cảm ơn Wal nhiều.

Wal
14-06-2010, 00:08
Wal ơi, nhắc đến Ngũ tấu piano mới nhớ. Wal có thông tin gì về tác phẩm của Schubert: Piano Trio No 2 in E flat major D 929 không?
Cảm ơn Wal nhiều.
Nhờ bác Gúc là ra thôi :). Bạn có thể xem thông tin ở các trang dưới đây (tiếng Anh)
http://classicalmusic.about.com/od/romanticperiod/a/schubertop100.htm

http://en.wikipedia.org/wiki/Piano_Trio_No._2_%28Schubert%29

http://www.answers.com/topic/piano-trio-no-2-in-e-flat-major-d-929-op-100

Còn có thông tin trên 1 booklet này nữa:
http://www.4shared.com/document/PzCD1m7i/pdf.html

Wal
07-07-2010, 19:46
Nỗi buồn mang tên Adagio for Strings

Từ đầu đến cuối, bản nhạc tạo ra cảm giác về tính vững chãi, sự liên tục trong dòng chảy của giai điệu, và khiến người nghe hài lòng về kết cấu - đó chính là Adagio for Strings, một tác phẩm lớn trong thời kỳ âm nhạc cổ điển đương đại.
*****
Tác phẩm: Adagio for Strings, op.11 (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Adagio-for-Strings-Samuel-Barber-Bernstein.mp3)
Tác giả: Samuel Barber
Thể hiện: Los Angeles Philharmonic Orchestra (Chỉ huy: Leonard Bernstein)

*****

"Con viết cho mẹ để kể về nỗi lo lắng thầm kín bấy lâu trong con. Giờ thì đừng khóc khi mẹ đọc nó, bởi nó không phải là lỗi của mẹ cũng như của con. Con tin rằng con sẽ nói về nó ngay bây giờ mà không một chút vòng vo gì cả. Để bắt đầu con phải nói rằng con không muốn trở thành một vận động viên. Con muốn trở thành một nhà soạn nhạc, và con chắc chắn về điều đó. Con sẽ nói với mẹ thêm một điều nữa. Đừng khuyên con quên đi ý nghĩ khó ưa này và hãy chơi bóng đá. Con xin mẹ đấy. Đôi khi nó khiến con bị lo lắng nhiều đến mức làm con cảm thấy bực bội (nhưng tất nhiên không đến nỗi tức điên lên)." Đó là những dòng trong lá thư mà Barber viết cho mẹ mình vào năm lên 9 tuổi.

Samuel Osborne Barber (1910-1981) là một nhà soạn nhạc người Mỹ. Ông viết các tác phẩm dành cho dàn nhạc, opera, hợp xướng và piano. Bản Adagio for Strings nằm trong số những tác phẩm phổ biến nhất của ông và thường được ví như một tác phẩm lớn trong thời kỳ âm nhạc cổ điển đương đại.

Barber sinh ra trong một gia đình tri thức và sung túc. Cha ông là bác sĩ, mẹ ông là nghệ sĩ piano và người cô của ông, Louise Homer, là giọng nữ trầm hàng đầu tại Metropolitan. Barber cảm thấy yêu thích sâu sắc với âm nhạc khi ông còn nhỏ tuổi. Năm lên 7, bản nhạc đầu tay của ông được ra đời, và 3 năm sau là một bản opera. Ông là nghệ sĩ organ vào năm lên 12 và khi lên 14 tuổi, ông được nhận vào Curtis Institute, nơi ông được học piano, sáng tác và thanh nhạc.

Từ khi còn nhỏ tới quãng tuổi 20, Barber viết rất nhiều tác phẩm thành công, đưa ông trở thành một điểm sáng được chú ý trong mảng âm nhạc cổ điển. Rất nhiều sáng tác của ông được chọn chơi hoặc trình diễn lần đầu tiên bởi những nghệ sĩ danh tiếng như Vladimir Horowitz, Eleanor Steber, Raya Garbousova, John Browning, Leontyne Price, Pierre Bernac, Francis Poulenc, và Dietrich Fischer-Dieskau.

Barber giành được giải thưởng Pulitzer hai lần: một lần vào năm 1958 với vở opera đầu tay Vanessa, và lần thứ hai vào năm 1963 cho bản Concerto dành cho piano và dàn nhạc. Ông còn giữ chức chủ tịch của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (IMC) thuộc UNESCO, và là thành viên của Viện Hàn lâm Văn học và Nghệ thuật Hoa Kỳ.


http://tuanvietnam.net/assets/images/220px-SamuelBarber.jpg


Phong cách sáng tác của Barber dành được nhiều lời ngợi khen bởi sự logic trong âm nhạc cũng như sự khôn ngoan trong xây dựng cấu trúc một tác phẩm của ông. Bản Adagio for Strings nguyên bản là chương hai trong Tứ tấu đàn dây số 1, op.11, được sáng tác năm 1936.

Vào tháng 1 năm 1938, Barber gửi tác phẩm của mình cho Arturo Toscanini. Vị nhạc trưởng danh tiếng thế giới này đã gửi trả lại bản nhạc mà không kèm theo bất kỳ một lời nào. Barber đã hết sức tức giận và không tiếp xúc với Toscanini cho đến khi biết được Toscanini nói người bạn của mình rằng ông đang có kế hoạch biểu diễn tác phẩm này, và việc trả lại nó chỉ đơn giản bởi ông đã ghi nhớ trong đầu mà thôi. Tác phẩm được biểu diễn lần đầu tiên trên sóng radio với sự chỉ huy của Arturo Toscanini cùng dàn nhạc giao hưởng NBC vào ngày 5/11/1938. Bản thu âm buổi công diễn đầu tiên năm 1938 được Thư viện Quốc hội Hoa kỳ chọn để bảo bảo vĩnh viễn vào năm 2005.

Sự xúc động mãnh liệt, đó là cảm giác không thể chối bỏ khi nghe bản Adagio for Strings này. Ở đó, Barber đã tạo nên một thứ giống như một bài ca tráng lệ với quãng rộng những hợp âm. Sự hài hòa cân đối của chủ đề cùng với sự chuyển động không ngừng trong nhịp điệu mà nó hàm chứa đưa ta đến những cung bậc khát khao, cay đắng và rồi nhẹ trôi trong một cái kết êm đềm.

Mở đầu tác phẩm là một giai điệu của nỗi luyến tiếc về quá khứ với chuỗi hợp âm kéo dài, mượt như nhung song hành cùng chủ đề. Barber đã khéo léo gợi lên những tình cảm khát khao bằng việc sử dụng những hợp âm trội hẳn lên, trong khi giai điệu vẫn dần lên cao với những quãng âm. Cứ như vậy, những cung bậc cảm xúc nhẹ nhàng được đẩy lên cùng với giai điệu êm ả lặp lại từ phần đầu của chủ đề. Sự phức tạp được cảm nhận một cách rõ rệt khi Barber bổ sung kết cấu với sự đan xen của những bè khác nhau. Từ từ vươn tới cữ giọng cao nhất cho phép, những nhạc cụ dây vang lên với sức mạnh lớn nhất của mình, căng vút và lạnh lẽo.

Âm thanh đột ngột lặng im ở quãng âm cao nhất, để lại một khoảng không trống vắng khiến ta như bồng bềnh nhẹ trôi trong vẻ đẹp của xúc cảm. Sự êm đềm, yên ả nhẹ nhàng quay trở lại như một sự phục sinh. Sau hành trình mãnh liệt về cảm xúc của tác phẩm, giờ đây chủ đề chính được tái hiện với một vẻ êm đềm và điềm tĩnh...

Bản nhạc được chơi tại đám tang hoàng tử Monaco là Rainier và đám tang của Albert Einstein, cũng như trên sóng trên radio trong thông cáo cái chết của Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt. Nó còn được diễn vào năm 2001 trong một nghi lễ ở Royal Albert Hall để tưởng nhớ nạn nhân của vụ tấn công ngày 11/9. Năm 2004, các thính giả của chương trình BBC's Today đã bầu Adagio for Strings là "bản nhạc cổ điển buồn nhất", trên cả Dido's Lament trong vở opera Dido and Aeneas của Henry Purcell, chương Adagietto trong giao hưởng số 5 của Gustav Mahler, và Metamorphosen của Richard Strauss.

Adagio for Strings có thể được nghe trong rất nhiều bộ phim cũng như những bản thu trên TV, như bộ phim đạt giải Oscar Platoon của Oliver Stone, phim The Elephant Man của David Lynch được đề cử giải Oscar năm 1980, phim tư liệu Sicko của Michael Moore, hay bộ phim Amélie được đề cử Oscar năm 2001 của Jean-Pierre Jeunet.


Super Vịt (Súp vịt)
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-07-02-noi-buon-mang-ten-adagio-for-strings)

Wal
07-07-2010, 19:52
Nghe chàng Werther đọc thơ

Giọng hát Alfredo Kraus tỏ ra đặc biệt phù hợp với các vai nam chính trong opera của Massenet, đặc biệt là vai Werther. Các chuyên gia opera nhất trí với nhau rằng cho đến nay chưa có giọng tenor nào vượt qua mặt Kraus khi vào vai Werther và đặc biệt là thể hiện aria "Pourquoi me réveiller".

Aria: Pourquoi me réveiller (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/Pourquoi-me-reveiller-by-Kraus.mp3)
Trích từ opera Werther
Tác giả: Jules Massenet
Thể hiện: Alfredo Kraus (tenor)
*****

Jules Massenet và opera Pháp

Nhà soạn nhạc Jules Massenet (1842-1912) là một trong những đại diện quan trọng nhất của tinh thần Pháp trong nghệ thuật âm nhạc thể kỷ 19 bằng đặc tính tinh tế, sắc sảo, hấp dẫn và duyên dáng của mình. Những ca sĩ opera ngày nay đã nhất trí với nhau rằng càng hát Massenet họ càng thấy thú vị vì sự tương hợp hoàn toàn giữa âm nhạc của ông với khả năng thanh nhạc và cữ giọng của họ.

Massenet đã chú tâm vào việc dịch mọi chỗ biến giọng của ngôn ngữ Pháp và thực tế là dòng giai điệu dường như thường bắt nguồn từ thơ trữ tình. Cuối cùng, cảm giác sân khấu và gu mầu sắc dàn nhạc của ông đã cho phép ông tạo ra những tác phẩm có hiệu quả kịch tính cao.

Khi đề cập đến opera Pháp gần như không thể không nhắc đến Jules Massenet. Đúng như Francis Poulenc, nhà soạn nhạc đồng hương với ông, đã nói: "Mỗi nhạc sĩ Pháp đều có chút ít Massenet trong tim, cũng như mỗi nhạc sĩ Ý đều giữ chút ít Verdi hay Puccini."


http://tuanvietnam.net/assets/images/massenetjules.jpg

Nhà soạn nhạc Jules Massenet (1842-1912)


Danh mục opera của Massenet gây cho chúng ta ấn tượng lớn về tài năng nhiều mặt của ông. Ông sáng tác nhiều loại hình opera và hầu như mọi thời kỳ sáng tác đều có chất lượng nghệ thuật ngang bằng: opéra bouffe (La Grand'Tante), thần thoại phương Đông (Le Roi de Lahore), grand opera "à la Meyerbeer" (Hérodiade, Le Cid), opera thần thoại (Ariane), truyện thần tiên (Cendrillon), kịch tính tự nhiên chủ nghĩa (La Navarraise), truyện thời Trung cổ (Grisélidis), opera sử thi (Don Quichotte), kịch tính trữ tình (Werther), opéra comique (Manon), opera thần bí (Le Jongleur de Notre-Dame)...

Chúng ta tính được 25 vở trải dài suốt từ năm 1867 (với opera La Grand'Tante) đến năm 1912 (năm ông mất và sáng tác vở Roma). Có 3 vở opera không được trình diễn lúc ông sinh thời (Panurge, Cléopatre, Amadis) và tất nhiên không thể không nhắc đến 3 vở opera thành công nhất của Jules Massenet là Manon, Werther và Thaïs.

Manon là opéra comique 5 màn với libretto của Henri Meilhac và Philippe Gille, dựa trên tiểu thuyết L'histoire du chevalier des Grieux et de Manon Lescaut (Câu chuyện về chàng kỵ sĩ des Grieux và nàng Manon Lescaut) của Abbé Prévost. Vở Manon đã duy trì được vị trí quan trọng trong danh mục biểu diễn opera thế giới. Đó cũng là một hình mẫu tinh túy về sức sống và sức hấp dẫn của âm nhạc và văn hóa Paris trong Kỉ nguyên Đẹp (Belle Époque).

Opera 3 màn Thaïs với libretto của Louis Gallet dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Pháp Anatole France. Đến nay sau Manon và Werther, Thaïs là vở được diễn thường xuyên nhất của Massenet. Vai Thaïs, tương tự như một vai nữ khác của Massenet là Esclarmonde, vô cùng khó hát và chỉ dành riêng cho những ca sĩ thật sự xuất chúng.

Tiết mục nổi tiếng nhất trong opera Thaïs là một khúc nhạc chuyển cảnh ở giữa màn II có tên "Méditation de Thaïs" (Khúc trầm tư của Thaïs). (http://www.tuanvietnam.net/meditation-de-tha%C3%AFs-noi-long-nang-ky-nu) Nó đã trở thành một trong số những tiểu phẩm hòa nhạc được biểu diễn thường xuyên và cũng được chuyển soạn cho nhiều nhạc cụ khác nhau.

Chàng Werther từng phải đọc lại thơ

Opera 4 màn Werther với libretto của Édouard Blau, Paul Milliet và Georges Hartmann, dựa trên truyện Nỗi đau của chàng Werther của Johann Wolfgang von Goethe. Massenet khởi thảo Werther từ năm 1886. Đến tháng 7/1887 ông đã phối xong dàn nhạc nhưng Carvalho, giám đốc Nhà hát Opéra Comique, thấy nó quá ảm đạm và từ chối dàn dựng.

Nhà hát Hoàng gia Vienna sau thành công của vở Manon được trình diễn tại đó đã đề nghị dược dàn dựng tiếp Werther của Massenet. Ngày 16/2/1892 Werther đã được công diễn tại đây với phiên bản tiếng Đức. Một năm sau vào ngày 16/1/1893 Werther được công diễn lần đầu tại Nhà hát Opéra Comique, Paris với phiên bản tiếng Pháp. Werther đến nay vẫn là vở opera được biểu diễn thường xuyên ở các nhà hát opera lớn trên thế giới.

Trong opera Werther, các trích đoạn hấp dẫn nhất và thường xuyên được biểu diễn như các tiết mục hòa nhạc độc lập đều thuộc về màn III. Đó cảnh Charlotte đọc thư và cảnh Werther đọc thơ sau đó.


http://tuanvietnam.net/assets/images/Kraus-in-Werther-2.jpg
Ca sĩ giọng tenor Alfredo Kraus (1927 - 1999) trong một lần vào vai Werther


Ở nhà một mình vào đêm Giáng sinh, Charlotte (lúc này đã là vợ Albert) đọc lại những lá thư tràn đầy thất vọng mà Werther viết cho cô. Trong lúc cô đang cầu khẩn để tinh thần mình mạnh mẽ lên thì anh đột ngột xuất hiện. Charlotte cố gắng giữ bình tĩnh và đề nghị anh đọc cho mình nghe bản dịch thơ Ossian của anh. Werther chọn đọc một đoạn thơ trong đó tác giả Ossian thấy trước cái chết của mình (aria "Pourquoi me réveiller"):

Vì sao đánh thức ta, hỡi làn gió mùa xuân?
Ta cảm thấy mi vuốt ve trên trán.
Thế mà tiết âm u và bão táp
Đang gần đến lắm thay!
Vì sao đánh thức ta, hỡi làn gió mùa xuân?
Tới thung lũng ngày mai, người lữ khách
Hồi tưởng vinh quang của ta thủa trước
Mắt vô ích tìm cảnh rực rỡ của ta.
Chẳng thấy nữa đâu, chỉ tang tóc và buồn đau!
Than ôi! Sao đánh thức ta, hỡi làn gió mùa xuân?

Theo nội dung vở opera, Charlotte quá xúc động và phải cầu xin Werther thôi đừng đọc thơ nữa, anh nghe theo và nhận ra rằng cô vẫn yêu anh. Nhưng vào năm 1965, trong một buổi trình diễn opera Werther tại nhà hát Teatro Municipale di Piacenza, nước Ý, chàng Werther (do giọng tenor Tây Ban Nha Alfredo Kraus thủ vai) đã được mời đọc lại bài thơ này một lần nữa bằng tiếng Ý.

Nguyên do là vào thời gian đó ở nước Ý, opera của các tác giả ngoại quốc như Massenet đều được trình diễn bằng phiên bản tiếng Ý. Aria "Pourquoi me réveiller" trong nguyên bản tiếng Pháp được chuyển ngữ thành aria "Ah non mi ridestar" trong phiên bản tiếng Ý.

Giọng hát Alfredo Kraus tỏ ra đặc biệt phù hợp với các vai nam chính trong opera của Massenet, đặc biệt là vai Werther. Trong đêm diễn lịch sử nói trên, trước áp lực của tràng pháo tay của khán giả, Kraus đã phải hát lại aria "Ah non mi ridestar", cũng có nghĩa là đọc lại bài thơ của Ossian - một chuyện cực hiếm xảy ra trên sân khấu opera.

Đó cũng là lần đầu tiên Alfredo Kraus đảm nhiệm vai Werther. Sau đó Werther mau chóng trở thành vai yêu thích của Kraus. Trong nhiều năm tiếp theo Kraus đã vào vai Werther trên khắp các sân khấu opera thế giới ở nguyên bản tiếng Pháp. Các chuyên gia opera nhất trí với nhau rằng cho đến nay chưa có giọng tenor nào vượt qua mặt Kraus khi vào vai Werther và đặc biệt là thể hiện aria "Pourquoi me réveiller".


Ngọc Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-06-23-nghe-chang-werther-doc-tho)

Wal
08-08-2010, 19:26
Những bài ca từ Beuern
Là một tác phẩm thời kỳ Hiện đại nhưng bản cantata này rất đơn giản về mặt hòa âm, không như rất nhiều tác phẩm âm nhạc cổ điển được sáng tác trong thời kỳ này. Tiết tấu dồn dập và bản năng âm nhạc cơ bản luôn cho phép thính giả hưởng ứng tác phẩm ngay lập tức.

*****
Chương hợp xướng: Fortuna Imperatrix Mundi (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/OhFortuna-AndreRieu.mp3)
Trích từ cantata Carmina Burana
Tác giả: Carl Orff
Thể hiện: Nhạc trưởng André Rieu cùng các nghệ sĩ Hà Lan


*****
Khi khám phá ra tập thơ Carmina Burana, hẳn Carl Orff (1895 - 1982) chẳng thể ngờ rằng rồi đây tập thơ này sẽ làm thay đổi hoàn toàn sự nghiệp của ông. Ông bắt đầu soạn Cantata Carmina Burana dựa trên tập thơ cùng tên ở tuổi 38 và hoàn thành nó ở tuổi 42. Trước đó ông nổi tiếng ở quê hương Munich trong vai trò một nhà giáo dục âm nhạc hơn là một nhà soạn nhạc đa phong cách đã cho ra đời khá nhiều tác phẩm. Và chỉ với Cantata Carmina Burana, Carl Orff mới thực sự tìm được phong cách nghệ thuật không thể trộn lẫn của chính mình.


"Carmina Burana" theo tiếng Latin có nghĩa là "Những bài ca từ Beuern" (Beuern là tên viết tắt của thành Benediktbeuern ngày nay thuộc hạt Bad Tölz-Wolfratshausen, bang Bavaria, nước Đức). Cái tên "Carmina Burana" là do Johann Andreas Schmeller đặt cho một tập thơ xuất bản năm 1847. Tập này gồm các bài thơ có trong một bản thảo viết tay của người Đức đầu thế kỉ 13 mà người ta phát hiện ra vào năm 1803 trong tu viện Benediktbeuern.



http://tuanvietnam.net/assets/images/800px-Benediktbeuren.jpg


Tu viện Benediktbeuern, nơi người ta phát hiện ra tập bản thảo Carmina Burana (Ảnh: Wikipedia)


Phần lớn các booklet CD thu âm Cantata Carmina Burana, chữ "Benediktbeuern" đã bị in nhầm thành "Benediktbeuren". Chuyện này đã được atlas nước Đức của Britannica and Hallwag xác nhận. Lý do khiến nhiều booklet CD nói trên bị nhầm là vì cụm chữ kết từ "-beuren" rất phổ biến trong tiếng Đức.


Kể từ khi tập thơ được xuất bản, bản thảo cổ được biết đến dưới cái tiêu đề của tập thơ ngay cả khi giờ đây người ta đều nhất trí rằng có thể nó không được khởi thảo tại Benediktbeuern mà đúng hơn là từ Seckau. Tập bản thảo có lẽ là nguồn tài liệu quan trọng nhất về thi ca thế tục tiếng Latin trong một danh mục khổng lồ các thi phẩm thế kỉ 12. Ngoài ra trong đó còn có một số bài thơ bằng tiếng Đức cổ và tiếng Pháp cổ. Một số bài đã được phổ nhạc bằng một kiểu ký âm khá hiếm vào thời ấy.


Tập bản thảo bao gồm xấp xỉ 250 bài thơ và có thể được chia thành bốn nhóm dựa theo đề tài: 55 bài ca luân lý và giễu nhại; 131 tình ca; 40 bài ca chuốc rượu và đùa cợt; 2 tác phẩm cho nhà hát Thiên Chúa giáo thời Trung cổ.


Tất nhiên cantata Carmina Burana của Carl Orff chỉ sử dụng một phần nhỏ trong số những bài thơ đó. Về cấu trúc, Carl Orff chia Cantata Carmina Burana thành 5 phần lớn, gồm tất cả 25 chương nhạc. Ông dùng ký hiệu attacca ở sau mỗi chương để thể hiện ý đồ rằng các chương phải được trình diễn tiếp nối nhau ngay lập tức mà không ngừng nghỉ.


Fortuna Imperatrix Mundi (Nữ thần May mắn thống trị thế gian): 2 chương
I. Primo vere (Lúc vào xuân): 3 chương Uf dem anger (Trên đồng cỏ): 5 chương
II. In Taberna (Trong quán trọ): 4 chương
III. Cour d'amours (Sự quyến rũ của ái tình): 9 chương
Blanziflor et Helena (Blanziflor và Helena): 1 chương
Fortuna Imperatrix Mundi (Nữ thần May mắn thống trị thế gian): 1 chương


Ý tưởng về sự quay tròn của bánh xe may mắn đã góp phần hình thành nên cấu trúc tác phẩm. Tác phẩm được mở đầu và kết thúc bằng cùng một chương nhạc có tên "Fortuna Imperatrix Mundi" (Nữ thần May mắn thống trị thế gian). Trong phạm vị một cảnh, và đôi khi là trong phạm vi một chương nhạc, bánh xe may mắn cũng quay tròn khiến niềm vui chuyển thành nỗi đắng cay, niềm hi vọng chuyển thành nỗi khổ đau.


O Fortuna

Nữ thần May mắn
Tựa như vầng trăng
Người luôn thay đổi
Luôn nhạt mờ dần
Luôn khuyết hao dần;
Kiếp người đáng ghét
Thoạt tiên nặng gánh
Sau đó nhẹ bồng
Như có ước mong
Cất đi gánh nặng;
Bần cùng, quyền lực
Tan chảy tựa băng.


http://tuanvietnam.net/assets/images/Carmina-Burana-05-010-anh-uwsp.edu.jpg


Một buổi trình diễn Cantata "Carmina Burana" (Ảnh: uwsp.edu)


Để trình diễn Cantata Carmina Burana đúng chuẩn mực, người ta cần tới các ca sĩ solo giọng soprano, giọng tenor, giọng baritone; một dàn hợp xướng nam; một dàn hợp xướng hỗn hợp; cùng một dàn nhạc cực lớn với nhiều nhạc cụ bộ gõ (14 trong số các chương nhạc của cantata này viết cho hợp xướng). Điệu bộ diễn xuất của các ca sĩ là không bắt buộc và tùy thuộc vào người dàn dựng.


Cantata Carmina Burana được trình diễn lần đầu tại Frankfurt vào năm 1937, lần đầu tại San Francisco vào năm 1958, lần đầu tại Luân Đôn vào năm 1960. Vào tháng 10 năm 2003, Cantata Carmina Burana cũng đã vang lên lần đầu tiên tại Hà Nội trong một chương trình do các nghệ sĩ đến từ Viện Thanh nhạc Frankfurt phối hợp với Nhà hát Nhạc vũ Kịch Việt Nam và Dàn hợp xướng quốc tế Hà Nội thực hiện.


Thính giả có thể không hiểu được cặn kẽ những câu thơ ca tụng các thú vui trần tục (rượu vang, phụ nữ và tình yêu) trong đời sống của một giáo xứ thời Trung cổ được thể hiện bằng tiếng Latin, tiếng Đức cổ và tiếng Pháp cổ trong Cantata Carmina Burana. Nhưng đây không phải là một tác phẩm thuộc loại khó nghe.


Là một tác phẩm thời kỳ Hiện đại nhưng bản cantata này rất đơn giản về mặt hòa âm, không như rất nhiều tác phẩm âm nhạc cổ điển được sáng tác trong thời kỳ này. Tiết tấu dồn dập và bản năng âm nhạc cơ bản luôn cho phép thính giả hưởng ứng tác phẩm ngay lập tức. Và Cantata Carmina Burana sẽ tiếp tục là một lựa chọn sáng giá cho những buổi hòa nhạc lớn ngoài trời dành cho đại chúng.



Ngọc Anh (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-07-23-nhung-bai-ca-tu-beuern))

Wal
08-08-2010, 19:31
Năm 1948, R. Strauss soạn bộ 4 Lied này dựa trên 3 bài thơ của Hermann Hesse và 1 bài thơ của Josef Karl Benedikt von Eichendorff. Đó là các bài "Frühling" (Mùa xuân), "September" (Tháng chín), "Beim Schlafengehen" (Lúc đi ngủ) và "Im Abendrot" (Lúc hoàng hôn).

Lied: September (Tháng Chín) (http://media.tuanvietnam.net/assets/mp3/R-Strauss-September.mp3)
Trích từ tập Vier letzte Lieder (Bốn bài ca cuối cùng)
Âm nhạc: Richard Strauss
Thơ: Hermann Hesse
Thể hiện: Elisabeth Schwarzkopf (soprano) và Philharmonia Orchestra of London (chỉ huy: Otto Ackermann), Mời các bạn nghe bản nhạc ngay bên cạnh

Trong một tác phẩm thanh nhạc cổ điển, phần lời (thơ) và phần nhạc (không chỉ giai điệu mà còn cả bè nhạc khí đệm) có tầm quan trọng ngang bằng. Và khác với nghệ thuật thơ, tác phẩm thanh nhạc cổ điển nói riêng và âm nhạc nói chung muốn đến được với công chúng thưởng thức thì phải thông nghệ sĩ biểu diễn chứ không thể chỉ qua những kí hiệu âm nhạc in trên giấy. Hơn nữa việc tổ chức biểu diễn hay thu âm tác phẩm âm nhạc có chất lượng là một công việc tốn kém kinh phí hơn nhiều so với kinh phí xuất bản tác phẩm thơ.

Trong lịch sử âm nhạc cổ điển có nhiều trường hợp nghệ sĩ biểu diễn tồi đã giết chết những kiệt tác âm nhạc khi nó mới chào đời hoặc kiệt tác âm nhạc không được công chúng biết đến mãi cho đến hàng trăm năm sau. Nhưng cũng có trường hợp nhờ cơ duyên mà kiệt tác âm nhạc mới chào đời không lâu đã được đông đảo công chúng đón nhận và giới phê bình đánh giá cao.



http://tuanvietnam.net/assets/images/Bonbaica1.jpg
Ảnh: amazon.com


Vier letzte Lieder (Bốn bài ca cuối cùng) viết cho giọng soprano và dàn nhạc, kiệt tác cuối cùng của nhà soạn nhạc Đức Richard Strauss, là một trường hợp may mắn như vậy. Năm 1948, R. Strauss soạn bộ 4 Lied này dựa trên 3 bài thơ của Hermann Hesse và 1 bài thơ của Josef Karl Benedikt von Eichendorff. Đó là các bài "Frühling" (Mùa xuân), "September" (Tháng chín), "Beim Schlafengehen" (Lúc đi ngủ) và "Im Abendrot" (Lúc hoàng hôn).

Khoảng một năm sau khi soạn Vier letzte Lieder, R. Strauss qua đời và ông không kịp chứng kiến tác phẩm này được biểu diễn. Nhưng kể từ lần công diễn đầu tiên vào ngày 22 tháng 5 năm 1950 (giọng soprano Kirsten Flagstad và Dàn nhạc Philharmonia Orchestra dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Wilhelm Furtwängler), Vier letzte Lieder đã trở thành một tác phẩm thường xuyên được biểu diễn cho đến tận ngày nay.

Với sự tiến bộ của công nghệ thu âm, trong 60 năm qua, số lượng thính giả may mắn có mặt trong một buổi biểu diễn trực tiếp Vier letzte Lieder chắc chắn là ít hơn nhiều so với số lượng thính giả chỉ được thưởng thức nó "gián tiếp" qua các băng cassette, đĩa than, đĩa CD, DVD.... Và cuộc bàn cãi xem bản thu âm nào là tốt nhất đối với tác phẩm này sẽ mãi mãi không có kết quả cuối cùng.

Hai bản thu âm Vier letzte Lieder của Elisabeth Schwarzkopf, người thường được xem là một trong giọng soprano Đức vĩ đại nhất của thế kỉ 20 là hai trong số những bản thu âm rất đáng được thính giả quan tâm.

Elisabeth Schwarzkopf là ca sĩ hát Lied xuất sắc một cách tuyệt vời, là ca sĩ thể hiện hiện Lied Đức xuất sắc nhất trong giới nữ của thể kỉ 20, và có lẽ là của bất cứ thời đại nào. Cũng như Fischer-Dieskau hay Wunderlich, bà hiểu Lied hơn ai khác: Lied không chỉ là những giai điệu đẹp, Lied không phải là chỗ để khoe giọng mà đó là nơi ca sĩ phải tìm ra sự cân bằng giữa lời thơ và âm nhạc.

Và còn ai có thể hiểu được điều này rõ hơn Schwarzkopf? Không một âm tiết, một phụ âm nào bị bỏ qua, bị câu nhạc lấn át. Schwarzkopf uốn câu theo lời thơ chứ không để âm nhạc đi trước. Quá nhiều người cho rằng bà cầu kì, kiểu cách với lối hát của mình, nhưng có bao nhiêu người hiểu được sự tinh tế đến hoàn mỹ của Schwarzkopf? Chính vì cái sự "cầu kì" ấy mà Schwarzkopf mới bắt được cái hồn trong từng bài thơ và liên tục đem đến những chi tiết mà có lẽ không một ai khác có thể chỉ ra được.

Bản thu âm Vier letzte Lieder (Bốn bài ca cuối cùng) của Schwarzkopf dưới sự chỉ huy của Szell sẽ khiến bạn hiểu được cái chất Đức có thể đẹp đến mức nào. Âm thanh của nó có thể hơi nặng, nhưng khả năng truyền cảm qua lời thơ của nó thì thật không thể tin được. Hãy lắng nghe từ "zu" kết thúc bài "September" (Tháng Chín) hay những âm thanh tưởng như những tiếng rên rỉ trong từ "Einsamkeit" hay sự lơ lửng của "der Tod" kết thúc "Abendrot".

Schwarzkopf là một ca sĩ làm người nghe kính phục vì khả năng đem đến những tinh tế tuyệt diệu. Khả năng để ý đến từng chi tiết nhỏ trong một bản nhạc của Schwarzkopf còn hơn cả Fischer-Dieskau và nó gợi ra một cảm giác về một sự thông thái, từng trải đến đáng khâm phục. Và chính điều đó đã tạo ra sự độc nhất của Schwarzkopf trong Lied Đức cũng như trong các vai diễn opera của bà.
Cả hai lần thu âm Vier letzte Lieder của Schwarzkopf đều là những thành công tuyệt vời. Lần thứ nhất dưới sự chỉ huy của Ackermann, lần thứ hai dưới sự chỉ huy của Szell. Cả hai lần Schwarzkopf đều ghi dấu ấn về khả năng nhả chữ và thể hiện lời thơ hoàn hảo.

Lần thứ nhất giọng hát của bà lúc trẻ, dày, âm sắc tuyệt đẹp và nổi bật lên trên nền dàn nhạc. Lần thứ hai giọng hát đã tối đi và có màu sắc từng trải, rất thích hợp với 4 bài thơ được R. Strauss lựa chọn. Lần này khả năng thể hiện lời thơ của bà cao hơn hẳn lần đầu và Vier letzte Lieder lần thứ hai của bà có lẽ là thu âm thanh nhạc cổ điển tuyệt vời nhất trong lịch sử thu âm của nhân loại.


Bút nhóm nhaccodien.info (Nguồn: Tuần Việt Nam (http://tuanvietnam.net/2010-08-06-bon-bai-ca-cuoi-cung))