GAUSS
08-01-2008, 09:29
(Kì 1) Symphony số 3 của Henryk Goreckí, kiệt tác giao hưởng của thế kỷ 20
Thế kỷ 20 của âm nhạc cổ điển là một thời kì cực kì phức tạp với nhiều trào lưu khác nhau về cả hình thức lẫn nội dung,tuy nhiên ta có thể tạm thời xếp những trào lưa này vào 3 nhóm chính: Lãng mạn, Hiện đại và Hậu hiện đại.Có thể kể đến chủ nghĩa lãng mạn(Romanticsm) đang dần biến mất nhưng mạnh mẽ hơn bao giờ hết với Sergei Rachmaninoff, Trường phái ấn tượng (impressionism) ở Pháp với Claude Debussy và Maurice Ravel, atonal -hệ thống 12 cung ,của Trường phái Vienna đệ nhị (với Schoenberg, Berg, Webbern) hay những tác phẩm mang đậm chất Blues của George Gershwin,những vở opera với hoà âm nghịch tai gay gắt của Richard Strauss. Đó cũng là thời kì đối chọi gay gắt giữa những tư tưởng mỹ học,những nguyên tắc sáng tác vì các nhạc sĩ đứng trên những lập trường tư tưởng khác nhau.
http://images1.makefive.com/images/entertainment/music/albums-that-have-changed-your-life/henryk-gorcecki-symphony-no-3-symphony-of-sorrowful-songs-7.jpg
Minimalism là trao lưa thuộc về chủ nghĩa Nghĩa Hậu hiện đại (Post-modernism).Khi nói đến chủ nghĩa Hậu hiện đại,người ta liền liên tưởng đến một hệ thống phức tạp những khái niệm,những phạm trù ,thậm chí cả những trào lưu nằm trong lòng nó và những trào lưu chống lại nó.Một cách trực quan nhất khi nghĩ về chủ nghĩa hậu hiện đại đối với nghệ thuật,trước tiên đối với hội hoạ,có thể là hình ảnh về cái bồn tiểu được trưng bày như một tác phẩm nghệ thuât của Duchamp .Hoàn toàn xa cách với truyền thống văn hoá Châu Âu trước đó với các trào lưu Phục Hưng (Renaissance), Baroque, Khai sáng (Enlightenment), hay cổ điển (classical),Chủ nghĩa hậu hiện đại còn mang những nét cực kì khác biệt với những trào lưu đầu thế kỷ 20 đã sinh ra nó (Chủ nghĩa biệu hiện-expressionism ,Dada-Dadaism…) .Dĩ nhiên là có một sự phân cách rõ rệt giữa kiệt tác Phong cảnh thành phố Deft của Danh hoạ Hà Lan Johanes Vermeer với cái bồn tiểu của Duchamp.Vậy, đâu là sự khác biệt giữa những prelude của Bach với âm nhạc Hậu Hiện Đại,hay những giai điệu du dương thời Brahms đã có những chuyến phiêu lưu như thế nào?
Sự khác biệt đó có thể quá lớn đối với các trào lưu khác của âm nhạc ,nhưng có lẽ đối với Minimalism thì không. Điễn hình là nhưng tác phẩm của Goreckí,Philip Glass,Terry Ripey vẫn rât được ưa chuông và thường xuyên làm nhạc nền cho các bộ phim.Thậm chí nhạc của Philip Glass là nhạc nền chính thức cho film ,chứ không phải là một hiệu ứng xen vào cho một cảnh quay đặc biệt nào đó như các giai điệu Baroque nổi tiếng.
Một cách đơn giản, Âm nhạc của Minimalism là sự chú trọng đến việc lập đi lập lại một giai điệu nào đó làm chủ đề trong suốt tác phẩm.Ví dụ như những hợp âm vang rền liên tục của slow string trong symphony no 3 của Gorecki hay tiếng Violin lướt đêu trong các suite của Glasss. Âm nhạc của Minimalism do đó tương đối dễ nghe và làm người nghe khá nhập tâm từ lần nghe đầu tiên, sự lặp đi lặp lại thường dẫn đến một melody cao trào với giai điệu đẹp và cảm xúc bùng nổ dâng trào.Về phương diện lịch sử âm nhạc, người ta thường nhắc đến Richard Wagner với đoạn Vorspiel (Prelude hay Overture) cho vở opera Das Rheingold trong bộ tứ Nibelungen nổi tiếng của ông ,với việc dàn nhạc cứ lặp đi lặp lại một giai điệu chính và lớn dần.
Henryk Gorecki,nhà soạn nhạc người Ba Lan sinh năm 1933.Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp sáng tác, ông thiên về sáng tác theo phong cách Dissonance (hoà âm nghịch tai). Đến giữa thập niên 70 của thế kỷ 20, ông chuyển sang sáng tác theo phong cách Minimalism nhưng trên tinh thần tôn giáo , với những tác phẩm nổi bật ở giai đoạn này là Symphony số 3, “Beautus vir” hay “Miserere”.
Symphony số 3 của Gorecki chỉ có 3 chương. Âm nhạc được sáng tác theo phong cách của âm nhạc thời Trung cổ, nhưng không tuân thủ nghiêm ngặt và máy móc những quy tắc sáng tác ấy . Đó là lý do vì sao khi nghĩ về Symphony số 3 của Gorecki,người ta thường nghĩ đến tính tôn giáo,mặc dù có nhiều nhà nghệ thuật lại thấy những ý nghĩa khác bên trong tác phẩm (tình mẫu tử, sự chia ly, tố cáo Đức quốc xã).
Chương 1 ,”Lento-Sostenuto traquillo ma cantabile” dài khoảng 26 phút-ngang bằng với độ dài của bất cứ một chương nhạc nào của các symphony của Bruckner hay Mahler ,và mở đầu bằng âm thanh của dàn double bass chơi từ nhẹ và mạnh dần, rồi xuât hiện xuyên suốt cả chương.Vốn cấu trúc theo thể canon (Chứ không phải Sonata Form)-tạm gọi là hát đuổi, 10 giai điệu bổ sung vào chủ đề chính xuât hiện lần lượt cứ sau mỗi 25 khuôn nhạc.Các giai điệu ngày càng ngày càng trở nên mãnh liệt , cho đến khi cao trào xuất hiện là một đoạn nhạc tuyệt đẹp của dàn dây tràn đầy cảm xúc.Sau khi 10 giai điệu đã xuất hiện hoàn chỉnh , dàn nhạc chơi nhỏ dần, và vang lên vài tiếng piano yếu ớt riệng lẻ .Sau đó,soprano bắt đầu cất tiếng hát. Phần lời dành cho soprano được trích từ ‘Những bài ca Lygarosa” của một tu viện ở núi Świętokrzyskie vào cuối thế kỷ 15.Nội dung của những bài ca này kể về việc người me bị mật đưa con trai yêu dấu của mình:
“Con của mẹ, tình yêu của mẹ
Hãy san bớt nỗi đau với mẹ của con!”.
Giai điệu sâu lắng, không cần đòi hỏi soprano những kỹ thuật thanh nhạc phức tạp.Khi soprano vừa kết thúc những note cuối cùng, dàn nhạc ngay lập tức chơi đoạn cao trào của phần canon trước đó một lần nữa.Giai điệu mãnh liệt của đàn dây lại xuất hiện,mang người nghe lên những cung bậc cảm xúc vừa bay bổng vừa bâng khuâng của tiếng hát ban nãy.
Chương 2 ngắn hơn ,có độ dài chỉ khoảng 9 phút.Tác giả có sử dung piano cho chương nhạc này.Phần lời cho soprano khá đặc biệt.” Helena Wanda Blazusiakówna 18 tuổi,bị giam giữ từ ngày 26 tháng 9 năm 1944” . Đó là những thông tin mà ta biết đựoc về một cô gái,qua nét chữ khắc trên vách của tầng hầm tại trụ sở của bọn Gestapo (tay sai của lũ Phát xít) ở Zakopane.Tác giả đã lấy những lời cầu nguyện của cô gái đến mẹ Maria trên vách để phổ nhạc.Một lần nữa,những bài ca trong symphony lại lấy chủ đề về sự xa cách của tình mẫu tử.Tuy nhiên,khác với những bài hát của chương 1 và chương 3, lời của bài ca ở chương 2 lại thể hiện tâm trang của một đứa con biết chắc rằng cô sẽ không còn được mẹ mình cùng những người thân thêm một lần nào nữa.Cảm xúc ở chương nhạc này thậm chí còn bi thương não nề hơn ở 2 chương nhạc còn lại.Mở đầu chương 2 là âm thanh của dàn dây chơi hợp âm (rãi) La-Mi,và các hợp âm (rải) Mi –Son thăng-Fa thăng thay phiên đều đặn với hợp âm Si giáng-Rê Gíang.Tiếng piano chậm rãi,lạnh lùng đều đặn làm không khí của những giai điệu u tối và nặng nề hơn.Chương nhạc kết thúc với âm thanh của dàn dây chơi diminuendo một hợp âm ngân dài đến 2 phút.
“Không có mẹ ở đây, đừng khóc
Vị thánh nữ trinh bạch của thiên đường
Luôn luôn chở che cho con.
Ave Maria!”
Chương 3 quay trở lai phong cách sáng tác gần với chương 1,nhưng ngắn hơn, vào khoảng 18 phút,nghĩa là bao gồm nhiều biến tấu phát triển từ một chủ đề đơn giản ,gần giống với chủ đề của chương 1.Motif của việc phát triển chủ đề chính là xây dựng bằng cách đảo các hợp âm ba và hợp âm bảy.Khi soprano ngân vang note cuối cùng của mình,giai điệu chuyển sang hợp âm La trưởng.Sau đó ,dàn nhạc lại chơi một đoạn ngắn cung La thứ.Cuối cùng ,cung điệu La trưởng trở lại, cùng những hợp âm ngân dài nhưng khá đứt đoạn của dàn dây để kết thúc bản giao hưởng.
‘Hãy hát cho em
Những chú chim nhỏ của Chúa
Kể từ khi mẹ em lạc mất em
Và hỡi những bông hoa của Chúa
Hãy nở quanh em
Nơi em đang có một giấc ngủ thanh bình”
(còn tiếp)
Thế kỷ 20 của âm nhạc cổ điển là một thời kì cực kì phức tạp với nhiều trào lưu khác nhau về cả hình thức lẫn nội dung,tuy nhiên ta có thể tạm thời xếp những trào lưa này vào 3 nhóm chính: Lãng mạn, Hiện đại và Hậu hiện đại.Có thể kể đến chủ nghĩa lãng mạn(Romanticsm) đang dần biến mất nhưng mạnh mẽ hơn bao giờ hết với Sergei Rachmaninoff, Trường phái ấn tượng (impressionism) ở Pháp với Claude Debussy và Maurice Ravel, atonal -hệ thống 12 cung ,của Trường phái Vienna đệ nhị (với Schoenberg, Berg, Webbern) hay những tác phẩm mang đậm chất Blues của George Gershwin,những vở opera với hoà âm nghịch tai gay gắt của Richard Strauss. Đó cũng là thời kì đối chọi gay gắt giữa những tư tưởng mỹ học,những nguyên tắc sáng tác vì các nhạc sĩ đứng trên những lập trường tư tưởng khác nhau.
http://images1.makefive.com/images/entertainment/music/albums-that-have-changed-your-life/henryk-gorcecki-symphony-no-3-symphony-of-sorrowful-songs-7.jpg
Minimalism là trao lưa thuộc về chủ nghĩa Nghĩa Hậu hiện đại (Post-modernism).Khi nói đến chủ nghĩa Hậu hiện đại,người ta liền liên tưởng đến một hệ thống phức tạp những khái niệm,những phạm trù ,thậm chí cả những trào lưu nằm trong lòng nó và những trào lưu chống lại nó.Một cách trực quan nhất khi nghĩ về chủ nghĩa hậu hiện đại đối với nghệ thuật,trước tiên đối với hội hoạ,có thể là hình ảnh về cái bồn tiểu được trưng bày như một tác phẩm nghệ thuât của Duchamp .Hoàn toàn xa cách với truyền thống văn hoá Châu Âu trước đó với các trào lưu Phục Hưng (Renaissance), Baroque, Khai sáng (Enlightenment), hay cổ điển (classical),Chủ nghĩa hậu hiện đại còn mang những nét cực kì khác biệt với những trào lưu đầu thế kỷ 20 đã sinh ra nó (Chủ nghĩa biệu hiện-expressionism ,Dada-Dadaism…) .Dĩ nhiên là có một sự phân cách rõ rệt giữa kiệt tác Phong cảnh thành phố Deft của Danh hoạ Hà Lan Johanes Vermeer với cái bồn tiểu của Duchamp.Vậy, đâu là sự khác biệt giữa những prelude của Bach với âm nhạc Hậu Hiện Đại,hay những giai điệu du dương thời Brahms đã có những chuyến phiêu lưu như thế nào?
Sự khác biệt đó có thể quá lớn đối với các trào lưu khác của âm nhạc ,nhưng có lẽ đối với Minimalism thì không. Điễn hình là nhưng tác phẩm của Goreckí,Philip Glass,Terry Ripey vẫn rât được ưa chuông và thường xuyên làm nhạc nền cho các bộ phim.Thậm chí nhạc của Philip Glass là nhạc nền chính thức cho film ,chứ không phải là một hiệu ứng xen vào cho một cảnh quay đặc biệt nào đó như các giai điệu Baroque nổi tiếng.
Một cách đơn giản, Âm nhạc của Minimalism là sự chú trọng đến việc lập đi lập lại một giai điệu nào đó làm chủ đề trong suốt tác phẩm.Ví dụ như những hợp âm vang rền liên tục của slow string trong symphony no 3 của Gorecki hay tiếng Violin lướt đêu trong các suite của Glasss. Âm nhạc của Minimalism do đó tương đối dễ nghe và làm người nghe khá nhập tâm từ lần nghe đầu tiên, sự lặp đi lặp lại thường dẫn đến một melody cao trào với giai điệu đẹp và cảm xúc bùng nổ dâng trào.Về phương diện lịch sử âm nhạc, người ta thường nhắc đến Richard Wagner với đoạn Vorspiel (Prelude hay Overture) cho vở opera Das Rheingold trong bộ tứ Nibelungen nổi tiếng của ông ,với việc dàn nhạc cứ lặp đi lặp lại một giai điệu chính và lớn dần.
Henryk Gorecki,nhà soạn nhạc người Ba Lan sinh năm 1933.Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp sáng tác, ông thiên về sáng tác theo phong cách Dissonance (hoà âm nghịch tai). Đến giữa thập niên 70 của thế kỷ 20, ông chuyển sang sáng tác theo phong cách Minimalism nhưng trên tinh thần tôn giáo , với những tác phẩm nổi bật ở giai đoạn này là Symphony số 3, “Beautus vir” hay “Miserere”.
Symphony số 3 của Gorecki chỉ có 3 chương. Âm nhạc được sáng tác theo phong cách của âm nhạc thời Trung cổ, nhưng không tuân thủ nghiêm ngặt và máy móc những quy tắc sáng tác ấy . Đó là lý do vì sao khi nghĩ về Symphony số 3 của Gorecki,người ta thường nghĩ đến tính tôn giáo,mặc dù có nhiều nhà nghệ thuật lại thấy những ý nghĩa khác bên trong tác phẩm (tình mẫu tử, sự chia ly, tố cáo Đức quốc xã).
Chương 1 ,”Lento-Sostenuto traquillo ma cantabile” dài khoảng 26 phút-ngang bằng với độ dài của bất cứ một chương nhạc nào của các symphony của Bruckner hay Mahler ,và mở đầu bằng âm thanh của dàn double bass chơi từ nhẹ và mạnh dần, rồi xuât hiện xuyên suốt cả chương.Vốn cấu trúc theo thể canon (Chứ không phải Sonata Form)-tạm gọi là hát đuổi, 10 giai điệu bổ sung vào chủ đề chính xuât hiện lần lượt cứ sau mỗi 25 khuôn nhạc.Các giai điệu ngày càng ngày càng trở nên mãnh liệt , cho đến khi cao trào xuất hiện là một đoạn nhạc tuyệt đẹp của dàn dây tràn đầy cảm xúc.Sau khi 10 giai điệu đã xuất hiện hoàn chỉnh , dàn nhạc chơi nhỏ dần, và vang lên vài tiếng piano yếu ớt riệng lẻ .Sau đó,soprano bắt đầu cất tiếng hát. Phần lời dành cho soprano được trích từ ‘Những bài ca Lygarosa” của một tu viện ở núi Świętokrzyskie vào cuối thế kỷ 15.Nội dung của những bài ca này kể về việc người me bị mật đưa con trai yêu dấu của mình:
“Con của mẹ, tình yêu của mẹ
Hãy san bớt nỗi đau với mẹ của con!”.
Giai điệu sâu lắng, không cần đòi hỏi soprano những kỹ thuật thanh nhạc phức tạp.Khi soprano vừa kết thúc những note cuối cùng, dàn nhạc ngay lập tức chơi đoạn cao trào của phần canon trước đó một lần nữa.Giai điệu mãnh liệt của đàn dây lại xuất hiện,mang người nghe lên những cung bậc cảm xúc vừa bay bổng vừa bâng khuâng của tiếng hát ban nãy.
Chương 2 ngắn hơn ,có độ dài chỉ khoảng 9 phút.Tác giả có sử dung piano cho chương nhạc này.Phần lời cho soprano khá đặc biệt.” Helena Wanda Blazusiakówna 18 tuổi,bị giam giữ từ ngày 26 tháng 9 năm 1944” . Đó là những thông tin mà ta biết đựoc về một cô gái,qua nét chữ khắc trên vách của tầng hầm tại trụ sở của bọn Gestapo (tay sai của lũ Phát xít) ở Zakopane.Tác giả đã lấy những lời cầu nguyện của cô gái đến mẹ Maria trên vách để phổ nhạc.Một lần nữa,những bài ca trong symphony lại lấy chủ đề về sự xa cách của tình mẫu tử.Tuy nhiên,khác với những bài hát của chương 1 và chương 3, lời của bài ca ở chương 2 lại thể hiện tâm trang của một đứa con biết chắc rằng cô sẽ không còn được mẹ mình cùng những người thân thêm một lần nào nữa.Cảm xúc ở chương nhạc này thậm chí còn bi thương não nề hơn ở 2 chương nhạc còn lại.Mở đầu chương 2 là âm thanh của dàn dây chơi hợp âm (rãi) La-Mi,và các hợp âm (rải) Mi –Son thăng-Fa thăng thay phiên đều đặn với hợp âm Si giáng-Rê Gíang.Tiếng piano chậm rãi,lạnh lùng đều đặn làm không khí của những giai điệu u tối và nặng nề hơn.Chương nhạc kết thúc với âm thanh của dàn dây chơi diminuendo một hợp âm ngân dài đến 2 phút.
“Không có mẹ ở đây, đừng khóc
Vị thánh nữ trinh bạch của thiên đường
Luôn luôn chở che cho con.
Ave Maria!”
Chương 3 quay trở lai phong cách sáng tác gần với chương 1,nhưng ngắn hơn, vào khoảng 18 phút,nghĩa là bao gồm nhiều biến tấu phát triển từ một chủ đề đơn giản ,gần giống với chủ đề của chương 1.Motif của việc phát triển chủ đề chính là xây dựng bằng cách đảo các hợp âm ba và hợp âm bảy.Khi soprano ngân vang note cuối cùng của mình,giai điệu chuyển sang hợp âm La trưởng.Sau đó ,dàn nhạc lại chơi một đoạn ngắn cung La thứ.Cuối cùng ,cung điệu La trưởng trở lại, cùng những hợp âm ngân dài nhưng khá đứt đoạn của dàn dây để kết thúc bản giao hưởng.
‘Hãy hát cho em
Những chú chim nhỏ của Chúa
Kể từ khi mẹ em lạc mất em
Và hỡi những bông hoa của Chúa
Hãy nở quanh em
Nơi em đang có một giấc ngủ thanh bình”
(còn tiếp)