Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
12&13/07/2012 - SUBCRIPTION CONCERT Vol.53 của VNSO [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : 12&13/07/2012 - SUBCRIPTION CONCERT Vol.53 của VNSO



Ù Ù Cạc Cạc
06-07-2012, 10:25
SUBCRIPTION CONCERT Vol.53

Bài ca Trái đất - The Song of the Earth

2913

Thời gian: 20h ngày 12&13 tháng 7/2012
Địa điểm: Nhà hát lớn Hà Nội
Đơn vị tổ chức: VNSO

Conductor HONNA Tetsuji
Alto Anna Eirnasson
Tenor Trịnh Thanh Bình

PROGRAM
Richard Wagner Prelude und Liebestod from Tristan und Isolde
Gustav Mahler Das Lied von der Erde (The Song of the Earth)

Vé được bán tại:
Phòng vé - Nhà Hát Lớn Hà Nội.
Sketch Travel Hanoi Aodai Tour Desk, 25 Trương Hán Siêu, 04 39449510
Shop P, 8 Nhà Chung, 01685144746
Phòng Đối ngoại và Tổ chức biểu diễn - Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam.
Đặt vé tại: http://www.vnso.org.vn/, 04.38331448
Giá vé: A-500.000VND; B-350.000VND; C-200.000VND; vé Sinh viên: 100.000VND.

Chương trình hòa nhạc đặt vé trước số 53 của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam sẽ giới thiệu một bản giao hưởng lần đầu tiên được công diễn tại Việt Nam, Bản giao hưởng “The Song of the Earth” (Bài ca Trái đất). Đây là tác phẩm khá đặc biệt, về kết cấu không theo truyền thống 4 chương mà có đến 6 chương. Tác phẩm được viết cho giọng tenor (nam cao), alto (nữ trầm) và dàn nhạc giao hưởng. 6 chương nhạc được phổ thơ của 7 bài thơ Trung Hoa thời kỳ nhà Đường, phần lớn là thơ Lý Bạch.

Tác phẩm là sự kết hợp tuyệt vời của tinh hoa nghệ thuật phương Tây với triết lý và văn hóa phương Đông. Mahler đã ảnh hưởng bởi giáo lý đạo Phật, quan niệm về kiếp luân hồi: sự sống, cái chết, sự hồi sinh. Bài ca Trái đất là bài ca về tự nhiên, những vòng quy luật luân hồi vô tận đang diễn từng ngày, cội rễ của sự tồn tại vũ trụ.

Bên cạnh đó chương trình còn giới thiệu phần mở đầu và aria “Love Death”(Tình yêu trong cái Chết) trong màn cuối vở opera nổi tiếng Tristan und Isolde của nhà soạn nhạc vĩ đại người Đức Richard Wagner.

Tham gia chương trình với sự trở lại của nữ nghệ sĩ người Thụy Điển Anna Einarsson, cô đã từng tham gia một số chương trình biểu diễn nhạc Mahler của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngoài ra còn có sự tham gia của nghệ sĩ hát thính phòng Trịnh Thanh Bình.

Dàn dựng và chỉ huy chương trình là nhạc trưởng danh tiếng người Nhật Bản Honna Tetsuji.

Nguồn: VNSO

Ù Ù Cạc Cạc
06-07-2012, 10:33
THÔNG TIN NGHỆ SĨ

2916

HONNA Tetsuji – Giám đốc âm nhạc và chỉ huy chính của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam
Honna học với thầy Kazuo Yamada và Miyoshi Inoue. Các giải thưởng lớn anh nhận được gồm:
Năm 1985, giải nhì tại Cuộc thi chỉ huy quốc tế Tokyo
Năm 1990, giải nhì tại Cuộc thi chỉ huy quốc tế Toscanini, Parma, Italia.
Năm 1992, giải nhất và giải Bartok tại Cuộc thi chỉ huy quốc tế Budapest
Năm 1994, giải Matsumura
Năm 1995, giải thưởng âm nhạc của Nippon Steel dành cho nghệ sĩ tài năng trẻ
Năm 1997, giải thưởng Phát triển nghệ thuật sân khấu Osaka
Năm 2005, giải Gran Prix của Câu lạc bộ Music Pen
Năm 2009, giải thưởng của Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam
Năm 2010, giải thưởng của Hội nhạc sỹ Việt Nam
Năm 2011, giải thưởng của Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nhật Bản
Honna Tetsuji đã chỉ huy nhiều dàn nhạc trên thế giới như Dàn nhạc Philarmonica della Scala ở Milano, Orchestra Sinfonica dell Emilia Romagna “Arturo Toscanini, Mozarteum Orchestra Salzburg, Philharmonia Orchestra, Hungarian State Philharmonic, Hangarian Radio Sym.Orch., Budapest Philharmony, Zagreb Philharmonic, Brno State Philharmonic Orchestra, Prague Radio Symphony Orchestra, Romanian Radio Orchestra, Viotta Ensemble (dàn nhạc gồm các nhạc công đầu bè của Royal Amsterdam Concertgebouw Orchestra) và La Tempesta Chamber Orchestra của Phần Lan.
Năm 2000, Honna đã cùng dàn nhạc Nagoya Philharmonic công diễn tại 8 nước châu Á trong tour diễn “TOYOTA CLASSICS”.
Honna là khách mời của nhiều Liên hoan âm nhạc Quốc tế, bao gồm: Liên hoan Carinthischer mùa hè ở Áo, Liên hoan Bangkok ở Szombathely, Mostly Mozart ở Tokyo, Liên hoan Seoul mùa thu năm 2000, Liên hoan âm nhạc châu Á tại Tokyo, Liên hoan âm nhạc hiện đại “ Kogadogen SHingakukyoso” ở Bắc Kinh và Hà Nội năm 2007, Liên hoan âm nhạc mùa hè Suntory, Liên hoan Ditto tại Seoul, Liên hoan âm nhạc Quốc tế Karuizawa, “La Folle Journee au Japon” cùng Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam, Học viện Piano Quốc tế (Pháp) và Liên hoan âm nhạc “Milano Musica” lần thứ nhất tại Teatro alla Scala.
Trong lĩnh vực nhạc kịch, anh đã dựng vở nhạc kịch hiện đại “Chung Hyang” của tác giả Toroku Takagi và “Orpheo of Hirashima” của tác giả Yasushi Akutagawa, ”Momo” của tác giả Toshi Ichiyanagi và “Satyricon” của Bruno Maderna và nhiều vở nhạc kịch của Mozart.
Honna Tetsuji được bổ nhiệm làm chỉ huy thường xuyên của Dàn nhạc Giao hưởng Osaka (1995 - 2001), chỉ huy chính Dàn nhạc thính phòng Nhật Bản (1993 - 1997) chủ yếu biểu diễn tác phẩm thế kỷ XX. Từ 1998 – 2001, Honna là chỉ huy khách mời chính của Dàn nhạc Giao hưởng Nagoya. Anh cũng là Giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc Nipponica – nơi công diễn lần đầu của nhiều nhạc phẩm Nhật Bản.
Hiện nay, anh là Giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc Nipponica thành lập năm 2003. Tháng 2/2009, anh được bổ nhiệm làm Giám đốc âm nhạc và chỉ huy chính của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, nơi anh đã làm việc từ năm 2001 với tư cách là cố vấn âm nhạc và chỉ huy.

Anh đã ghi âm nhiều chương trình với các dàn nhạc như: Japan Philharmonic Orchestra, Orchestra Nipponica, Tokyo Metropolitan Symphony Orchestra, La Tempesta Chamber Orchestra ( Phần Lan), và Slovenia Philharmony.


2915

Anna Einarsson - Alto

Anna Einarsson, theo học tại Nhạc viện Malmö, Thụy Điển và Học viện Opera Oslo dưới sự hướng dẫn của giảng viên Ingrid Bjoner.

Cô tham gia biểu diễn lần đầu tiên tại Nhà hát Quốc gia Na Uy năm 1998 với vai Dryade (Nữ chúa rừng xanh) trong vở Ariadne auf Naxos. Cô cũng đảm nhiệm vai diễn này tại Santiago de Compostella.

Sau này, cô cũng vào các vai Maddalena trong vở Rigoletto, vai Carmen trong vở Carmen, vai Flosshilde trong Rheingold và Gøtterdämmerung, vai Rossweise trong Valkyrien, vai Đệ Tam phu nhận trong vở Zauberflöte, vai Nancy trong vở Albert Herring, vai Anitra trong vở Peer Gynt, vai Audnai trong vở Stallo, vai Santuzza trong vở Cavalleria Rusticana, vai Abel trong vở Il primo Omicidio, vai Prins Orlofsky trong vở Fledermaus, vai Julie trong vở Bibalos Fröken Julie, vai Endymione trong vở Calisto, vai Olga trong vở Eugen Onegin, vai Azucena trong vở Il Trovatore, vai Amneris trong vở Aida, và nhiều vai diễn khác.

Anna là nghệ sỹ solo nhận được nhiều lời mời biểu diễn tại các chương trình hòa nhạc và tại các nhà thờ, như biểu diễn tác phẩm Missa di Requiem của Verdi, Bản giao hưởng số 9 và Missa solemnis của Beethovens, Bản giao hưởng số 2, 3, và 8 của Mahler, tác phẩm Elias của Mendehlssohns , Requiem của Mozart, Das Lied von der Erde, Lieder eines fahrenden Gesellen của Mahler, Messias của Händels, Magnificat và Christmas oratory của Bach, Gloria của Vivaldis, Stabat Mater của Dvorak, và Mass cung Fa thứ của Bruckners.

Cô đã có nhiều chương trình biểu diễn các tác phẩm đương đại và đã một vài lần xuất hiện trên các chương trình thu âm của đài phát thanh và các ấn phẩm CD âm nhạc.

Trong mùa diễn 2011 – 2012, cô sẽ tham gia biểu diễn tác phẩm Rigoletto tại Nhát hát quốc gia Na Uy (Norwegian National Opera), vào vai Batsheba trong vở ”David and Batsheba” của S. Kleiberg, vai nàng Quirini trong vở "Quirini” của H Sommero, tham gia biểu diễn Bản giao hưởng số 9 của Beethoven tại Tokyo, Chương trình lưu diễn Opera xuyên Ấn Độ, tác phẩm Mass cung La thứ của Bach tại Malmo, Thuỵ Điển, tác phẩm Requiem của Mozarts tại Bergen, tác phẩm Messias tại Oslo, Tác phẩm ”Lieder eines fahrenden Gesellen” của Mahler cùng Dàn nhạc giao hưởng Trondheim. Cô cũng là nghệ sỹ solo cho liên hoan opera tại Oskarsborg và chương trình hoà nhạc của Wagner tại Ålesund, Na Uy.

Cô cũng sẽ phát hành một CD thu âm vở opera "David và Batsheba” cùng dàn nhạc giao hưởng Trondheim.

2917

Trịnh Thanh Bình - Tenor
Trịnh Thanh Bình sinh năm 1979 tại Hà Nội. Tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành biểu diễn thanh nhạc – Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam . Anh làm việc tại Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam từ năm 2004. Với tư cách là một solist, anh đã biểu diễn nhiều chương trình hòa nhạc thính phòng của nhà hát. Đặc biệt anh đã tham gia và trực tiếp đảm nhiệm những vai diễn trong một số vở nhạc kịch nổi tiếng như: “Pagliacci” – Leoncavaro, “Cosi fan tutte” – Mozart, Rodolfo trong “La Bohème” – Puccini, “The Litte Sweep” – Benjamin Britten, solist Tenor trong bản giao hưởng số 9 của Beethoven, Gawain trong “Der Durch Das Tal Geht Through The Valley” (Người đi qua thung lũng) (http://www.goethe.de/ins/vn/prj/pod/viindex.htm) – Pierre Oser và Tankred Dorst... và mới đây nhất là vai Don Jose trong vở opera nổi tiếng Carmen.

Nguồn: VNSO

Ù Ù Cạc Cạc
06-07-2012, 10:44
THÔNG TIN TÁC GIẢ-TÁC PHẨM

Richard Wagner
Sinh ra tại Đức, Richard Wagner (1813 – 1883) được nhiều người biết đến với các vở opera do ông biên soạn. Trước khi trở thành nhà soạn kịch, ông là nhà sản xuất sân khấu và opera. Ông cũng đã từng làm chỉ huy dàn nhạc và có các bài báo và bài luận về âm nhạc và nghệ thuật kịch - những hoạt động mà cả đời ông không từ bỏ.

Richard Wagner sang tác opera theo cách của riêng mình với lòng nhiệt huyết cách mạng. Chính vì vậy, những cách tân của ông trong cấu trúc giai điệu âm nhạc, tính hài hoà, sự truyền cảm và khả năng hoà âm phối khí đã làm say lòng thính giả cũng như các chuyên gia về âm nhạc trong hơn một thế kỷ. Âm nhạc của ông thể hiện sự lóe sáng cuối cùng đầy sinh động của khuynh hướng lãng mạn. Tuy nhiên, gần suốt thế kỷ qua, các nhà soạn nhạc theo Chủ nghĩa ấn tượng và Chủ nghĩa thể hiện đã đấu tranh để vượt ra khỏi tầm ảnh hưởng của ông nhằm chống lại chính ông.

Tristan und Isolde là một vở opera gồm 3 màn. Tác phẩm được lấy cảm hứng từ mối quan hệ của ông với Mathilde Wesendonck và tư trưởng triết học của Arthur Schopenhauer. Được đông đảo công chúng công nhận là một trong những vở opera đỉnh cao, Tristan là tác phẩm tiêu biểu cho kỹ xảo bậc thầy của ông trong việc sử dụng nửa cung, tông nhạc, màu sắc giao hưởng và sự cân đối hài hoà.

Vở opera này có ảnh hưởng to lớn đến các nhà soạn nhạc phương Tây và là nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả khác như Gustav Mahler, Richard Strauss, Karol Szymanowski, Alban Berg và Arnold Schoenberg. Nhiều người coi Tristan đánh dấu sự khởi đầu của bước chuyển đổi từ cách thức tạo tông nhạc và tính hài hoà thông thường, coi đây là nền tảng cho hướng phát triển của tác phẩm âm nhạc kinh điển trong thế kỷ 20.

“Bài ca trái đất” của nhạc sĩ Gustav Mahler – Bản Giao hưởng dành cho giọng Tenor và Alto (hoặc Baritone) và Dàn nhạc giao hưởng
(Phỏng theo tập thơ “Tiếng sáo Trung Hoa” của Hans Bethges)

Đầu tháng 7 năm 1907, Gustav Mahler và người vợ Alma gánh chịu sự mất mát to lớn - đó là cái chết của người con gái đầu lòng Maria do bị bệnh bạch hầu và sốt phát ban. Câm lặng trong đau khổ, Mahler đã huỷ bỏ mọi kế hoạch viết nhạc trong toàn bộ quãng thời gian cuối kỳ nghỉ hè – quãng thời gian ông thường làm việc một cách sung sức và hiệu quả nhất. Đây cũng là thời điểm mà Mahler sắp hết nhiệm kỳ 10 năm làm giám đốc của Nhà hát Hoàng gia Vienna, và có khả năng phải chuyển sang Hoa Kỳ làm chỉ huy trưởng Nhà hát Metropolitan ở New York.
Trong quãng thời gian chịu tang con gái, Mahler được một người bạn tặng một tập thơ Trung Quốc mới xuất bản có tên “Die Chinesische Flöte” (Tiếng Sáo Trung Hoa - The Chinese Flute”). Trong tập thơ ngắn này, tác giả Hans Bethges đã tập hợp lại những bản dịch bằng tiếng Pháp và Đức các bài thơ được viết trong quãng thời gian lịch sử khá lâu đời của các triều đại Trung Hoa. Ngôn từ và cảm xúc hàm chứa trong từng bài thơ đã thực sự tác động đến Mahler. Ông đã chọn 7 bài và dự định phổ nhạc cho 7 tác phẩm đó. Tác phẩm “Das Lied von der Erde” được Mahler bắt tay vào soạn trong dịp hè năm 1908 khi ông đang đi nghỉ ở Toblach (Dobbiaco). Tác phẩm được cơ bản hoàn thành trước thời điểm đầu mùa diễn của Mahler năm 1908-1909 ở New York.

Bảy bài thơ mà Mahler đã chọn phổ nhạc được viết trước đó hơn 1000 năm thời nhà Đường (618-907). Hầu hết các bài thơ được chọn là của thi sỹ Lý Bạch, người được coi là thi sỹ nổi tiếng nhất trong số các thi nhân cổ đại Trung Hoa.

“Das Lied” là tác phẩm gồm 6 chương, mỗi chương là một bài thơ, trừ chương cuối bao gồm hai bài. Phần lời tác phẩm có sự biến đổi so với nguyên bản của Hans Bethge, bởi Mahler đã thêm bớt rất nhiều đoạn để phù hợp với mục đích nghệ thuật của mình.

Mahler đặt tên đầy đủ cho tác phẩm khi xuất bản là "Bài ca Trái đất - Bản giao hưởng dành cho giọng Tenor và Alto (hoặc Baritone) và Dàn nhạc". Người ta cho rằng Mahler đã tránh không đánh số bản giao hưởng này (đây đáng lẽ là bản giao hưởng số 9 của ông) do e ngại tâm linh về "Lời nguyền của Bản giao hưởng số 9". Trước đó, các nhà soạn nhạc như Beethoven, Bruckner, và Dvorak đều chết khi chưa thể viết được đến bản giao hưởng số 10. Mahler đã hoàn thành bản giao hưởng số 9 sau tác phẩm “Das Lied”, nhưng theo truyện kể thì bản thân ông tự đặt tên cho bản giao hưởng số 9 của mình là bản thứ 10.

***

Trong Chương 1 của tác phẩm “Das Lied”, ("The Drinking Song of the Earth’s Miserable – “Bài hát uống rượu của một anh nghèo") Mahler đã thể hiện những chất liệu âm nhạc chính và những vấn đề mang tính triết lý. Điệp khúc cho giọng Tenor "cuộc đời tối đen, cái chết cũng đen" là âm điệu chủ đạo của chương này. Chương hai là chương chậm ("Chiều thu, cô đơn") làm trỗi dậy không khí bi ai của chương đầu. Chương 3, 4 và 5 mang âm hưởng scherzo của nhạc giao hưởng đem lại cảm giác giải thoát khi những bi ai đã qua. Đây là những chương thể hiện niềm hân hoan về tuổi trẻ, cái đẹp và uống rượu. Trong ba chương này, Mahler đã mở đầu bằng việc sử dụng ngũ cung của Phương Đông, tạo ra âm hưởng đậm chất Trung Hoa trong âm nhạc của mình.

Chương cuối cùng "Vĩnh Biệt" (“Der Abschied” – “The Farewell”) kéo dài khoảng 30 phút là kết qủa của việc sử dụng những thủ thuật soạn nhạc mới thú vị của Mahler trong bản giao hưởng số 9 và 10 của mình. Những thủ pháp này bao gồm việc sử dụng kết cấu âm nhạc giống như nhạc thính phòng, và đôi khi loại bỏ đi một nhịp nhạc. Có đoạn, lời của nghệ sỹ solo giống lời diễn thuyết hay ngâm thơ hơn là lời của bài ca.

Chương cuối mở đầu bằng âm hưởng ảm đạm, đệm thêm bằng những tiếng chiêng và đoạn trung tâm là một đoạn hòa tấu dài của dàn nhạc, tựa như một bài ca trong lễ truy điệu – cách thức mà Mahler thường sử dụng trong các bản nhạc trước đó của mình. Hai người bạn gặp để từ biệt nhau. Một người cam chịu số phận bất hạnh của mình đã quyết định quay trở lại quê hương mãi mãi để chờ đợi cái chết. Gần cuối tác phẩm, âm nhạc lại biến thành một đoạn siêu nghiệm, ngợi ca sự tái sinh vĩnh hằng của tạo hóa trên trái đất. Ca sỹ nhiều lần lặp lại từ "vĩnh hằng" bằng tiếng Đức trong khi cả dàn nhạc dần dần lặng tiếng. Những đoạn cuối đem lại sự rung động sâu sắc đối với người nghe được Mahler tạo ra bằng việc sử dụng đàn Măngđôlin, Celesta và đàn Hạc. Cuối cùng, âm nhạc lắng đọng vào không trung, nhưng người nghe vẫn còn cảm thấy day dứt, nỗi day dứt cứ đeo đẳng trong câm lặng.

***

Trong tác phẩm “Das Lied von der Erde”, Mahler đã tạo ra sự hoà hợp hoàn hảo giữa ca khúc và giao hưởng – một hướng đi âm nhạc cả đời ông theo đuổi. Bức thông điệp mang tính triết lý mà tác phẩm truyền tải đã phản ánh quan niệm của Mahler về sự sống, cái chết và sự hồi sinh. Ông bị ảnh hưởng bởi giáo lý đạo Phật về sự đầu thai. Rất nhiều những triết gia người Đức mà ông yêu thích cũng bị ảnh hưởng khá lớn bởi những tôn giáo và tín ngưỡng phương Đông. Mang theo nỗi đau trong suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của mình, Mahler chuyển cả tấn bi kịch của bản thân – cái chết của người con gái ông rất yêu thương – vào trong tác phẩm nghệ thuật. Như tác phẩm “Das Lied” đã thể hiện, niềm vui trong cõi trần tục chỉ là thoáng qua, nhưng những khổ đau của con người lại nhận được sự an ủi bởi sự tái sinh vĩnh cửu của trái đất. Quy luật luân hồi tự nhiên của bốn mùa, sự trở lại của mặt trời gieo mầm sự sống mỗi ngày mới, mỗi chúng sinh trong cõi trần tục đều là một phần của quy trình vô tận này, cả trong thế giới của sự sống và cái chết.

Mahler đã không được sống đến ngày mà ông có thể được nghe tác phẩm “‘Das Lied von der Erde” biểu diễn lần đầu tiên. Tác phẩm được công diễn thế giới lần đầu tại Munich, Đức vào ngày 20 tháng 11 năm 1911 dưới sự chỉ huy của Bruno Walter. Mahler cũng đã chuẩn bị một phiên bản khác của “Das Lied” cho giọng hát và đàn piano, tuy nhiên phải đến năm 1989 phiên bản này mới được xuất bản.

(Lời giới thiệu chương trình do Michael Bosworth viết riêng cho Mahler Cycle của VNSO)

BÀI CA TRÁI ĐẤT
Gustav Mahler
Dịch lời Việt: Thái Bá Tân

1. Bài hát uống rượu của một anh nghèo (theo Lý Bạch)

Rượu trong chén vàng đang mời gọi.
Để tôi hát anh nghe, đừng uống vội.

Tôi hát bài hát buồn trong tim anh.
Mỗi lần buồn,
Bài hát trốn trong khu vườn tâm hồn.
Niềm vui và bài hát lụi dần, và chết
Cuộc đời đen, cái chết cũng đen!

Chủ nhà đâu! Nhà anh đầy rượu ngon.
Ta ngổi đây,
Thổi cây sáo này.
Và rồi sáo thổi xong, cốc rượu cũng trống không: Sáo và rượu luôn song hành, thật tuyệt.
Cốc rượu ngon uống khi cần còn quí hơn nghìn vàng.
Còn giờ thì đời tối đen, cái chết cũng đen!

Bầu trời xanh vĩnh viễn một màu xanh; trái đất sẽ luôn tồn tại, và mùa xuân hoa vẫn nở.
Nhưng con người, anh sẽ sống bao lâu?
Thậm chí không đến 100 năm để vui cái vui phù phiếm của cuộc đời.
Nhìn kia, hãy nhìn kia! Dưới ánh trăng, trên bãi tha ma, những bóng hình vật vờ đáng sợ.
Một con vượn! Hãy nghe tiếng hót xé lòng của nó trong mùi hương dịu ngọt cuộc đời.

Nào nâng cốc! Giờ là lúc ta say!
Hãy uống hết, đến không còn một giọt.
Vì cuộc đời tối đen, cái chết cũng đen!

2. Chiều thu, cô đơn (theo Trương Kế)

Mùa thu, sương treo trên mặt hồ.
Cỏ cây giá băng phủ trắng.
Như có bàn tay họa sĩ
Rắc phấn ngọc lên từng cánh hoa.

Hương hoa tàn.
Cơn gió lạnh làm bông hoa cúi gập.
Lá sen héo, rụng xuống,
Trên nước bập bềnh trôi.

Trái tim tôi mệt mỏi.
Con cừu non bước đi tung tăng làm ta buồn ngủ.
Tôi đã về đến nhà, nơi tôi tin tưởng.
Hãy để tôi nghỉ ngơi, là cái tôi cần.

Cô đơn, tôi thường khóc.
Mùa thu trong tim tôi quá dài.
Hỡi mặt trời tình yêu, liệu ngươi còn chiếu sáng
Và sưởi khô những giọt nước mắt buồn?

3. Bài thơ về những chàng trai trẻ (theo Lý Bạch)

Giữa hồ, chiếc lầu
Lợp ngói xanh và trắng.
Lốm đốm như lưng con báo.
Chiếc cầu ngọc bắc ngang.

Đám bạn ngồi trong lầu,
Ăn mặc đẹp, uống say, làm thơ và nói chuyện.
Tay áo lụa hất phía sau,
Dải mũ lụa vắt ngang bên cổ.

Mặt hồ lặng yên phản chiếu chiếc lầu
Qua tấm gương hình ảnh diệu mầu.
Mọi thứ trên lầu ngói trắng xanh lộn ngược.
Chiếc cầu chênh vênh như vành trăng bơi dưới nước.

Đám bạn ăn mặc đẹp, uống say, làm thơ và nói chuyện...

4. Bài thơ về cái đẹp (theo Lý Bạch)

Các cô gái trẻ hái hoa; hái hoa sen bên bờ sông.
Họ ngồi dưới bóng cây, nhặt từng cánh hoa trên đùi,
và cười nói đùa nhau.
Những tia nắng vàng đan quyện nhau quanh người họ,
soi bóng họ xuống mặt hồ long lanh.
Mặt trời soi sáng thân hình mảnh mai và đôi mặt dịu dàng của họ;
Gió nhẹ thổi, khẽ làm bay tay áo,
gió mang hương thơm kỳ diệu của họ đi khắp nơi.

Nhìn kìa, đẹp sao những chàng trai tuấn tú cưỡi những con ngựa béo đi dọc bờ sông!
Rực rỡ như tia nắng, những chàng trai bước đi giữa những khóm liễu xanh.
Ngựa của một chàng vui sướng lồng lên trên bãi cỏ đầy hoa,
luôn đổi chân, nó dẫm nát những cánh hoa đang rơi như bất ngờ gặp gió.
Chao, chiếc bờm của nó tung bay trong gió thật đẹp, hơi thở ấm từ mũi phì phì.

Những tia nắng vàng đan quyện vào nhau quanh người họ,
soi bóng họ xuống mặt hồ long lanh.
Và cô gái đẹp nhất trong số các cô gái đưa mắt liếc tình người cô yêu quí.
Vẻ ngoài nghiêm khắc chỉ là cái vỏ.
Ánh mắt long lanh của đôi mắt to, và màu sẫm của cái nhìn nồng
cháy đã bộc lộ niềm khát khao trong trái tim nàng.

5. Mùa xuân, người say rượu (theo Lý Bạch)

Một khi đời chỉ là giấc mơ, thì cớ gì phải buồn và lo?
Tôi sẽ uống cho đến khi không thể uống, uống suốt ngày!
Và khi không thê uống thêm vì bụng và đầu đầy rượu, tôi sẽ lảo đảo về nhà
để ngủ say khoan khoái.

Vừa tỉnh dậy, tôi nghe gì đấy nhỉ?
Ồ, con chim hót trên cây.
Tôi hỏi chim: Phải chăng đã mùa xuân? Tôi thấy như mình đang mơ.
Con chim chiếp chiếp trả lời: Vâng, đã mùa xuân. Mùa xuân mới đến đêm
qua.
Vừa ngắm nhìn, tôi vừa nghe nó.
Con chim hót, và cười!

Tôi rót rượu đầy bát rồi uống cạn,
rồi tôi hát cho đến khi trăng chiếu sáng trên trời.
Khi không hát thêm được nữa, tôi lại ngủ.
Mùa xuân thì can gì đến tôi?
Cứ để tôi say!

6. Vĩnh biệt (theo Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy)

Mặt trời lặn sau núi.
Thung lũng đêm chìm trong bóng tối mát mẻ.
Nhìn kia, như chiếc liềm bạc, trăng nhô lên trên mặt hồ xanh của bầu trời.
Tôi cảm thầy làn gió nhẹ thở dài sau rừng vân sam sẫm tối.

Con suối róc rách qua bóng đêm.
Giữa hoàng hôn hoa trở nên trắng nhạt.
Cả trái đất thở nhẹ, thiu thiu ngủ yên lành, mọi mong muốn giờ chỉ là mơ ước.

Người mệt mỏi lê bước về nhà, hy vọng được sống lại tuổi xuân và niềm vui trong giấc ngủ.
Chim đậu xuống cây, thôi không còn hót.
Cả thế giới rơi vào giấc ngủ.

Có tiếng thở dài mát mẻ trong những cây thông của tôi.
Tôi đứng chờ bạn mình; chờ để nói lời vĩnh biệt.
Tôi muốn chia sẻ với anh, bạn của tôi, về vẻ đẹp đêm nay.
Anh đang ở đâu? Anh bắt tôi chờ đã lâu.

Quay đi quẩn lại trên đường, chiếc sáo cầm tay, cỏ mềm mọc dày.
Ôi, thật đẹp! Thế giới vĩnh cửu, ngấy ngây vì tình yêu và sự sống.

Bạn tôi xuống ngựa, đang đi lại gần để uống cốc rượu vĩnh biệt.
Được hỏi sẽ đi đâu và vì sao phải đi, chàng đáp, giọng kín đáo:
“Bạn tôi ơi, Thần May Mắn không mỉm cười với tôi ở đời này. Tôi còn biết đi đâu?
Tôi sẽ đi lang thang trên núi.
Tôi sẽ tìm kiếm sự bình yên cho trái tim mình.
Rồi tôi sẽ quay về với ngôi nhà của tôi, quê hương của tôi.
Và sẽ không bao giờ đi xa nữa.
Trái tim tôi sẽ được nghỉ ngơi, chờ phút giây cuối cùng của nó.”

Những bông hoa dễ thương nở rộ khắp nơi trên mặt đất. Cây cối đâm chồi nẩy lọc mỗi lần xuân về.
Chân trời sẽ ngả màu xanh lơ cùng ánh sáng, khắp nơi và vĩnh cửu.

Vĩnh cửu... Vĩnh cửu...

Nguồn: VNSO

Ù Ù Cạc Cạc
26-09-2013, 09:14
Bi ca hành (Lý Bạch - 李白, Trung Quốc)

Bài hát buồn (Người dịch: phanlang @www.tvvn.org)

Buồn đến rồi
Buồn đến rồi
Chủ nhân sẵn rượu rót tràn cho
Hãy nghe tôi hát khúc buồn lo
Buồn mà không hát cười không được
Thiên hạ có ai người hiểu cho
Tôi có đàn ba xích
Bạn có rượu trăm chung
Đàn kêu rượu uống hợp cùng với nhau
Một chén có đáng vào đâu
Làm sao sứt mẻ trăm cân vàng ròng
Buồn đến rồi
Buồn đến rồi
Trời tuy trường
Đất tuy cửu
Vàng ngọc đầy nhà không thể giữ
Giàu có trăm năm rồi được gì
Đời người một lần ai cũng tử
Dưới trăng vượn hú ôi sầu bi
Uống đi cho hết rượu trong ly
Buồn đến rồi
Buồn đến rồi
Phượng hoàng bất chí biết đường mô
Vi Tử đến rồi Kỳ Tử nô
Hán Đế nhớ gì Lý Lăng cũ
Sở Vương đày ải Khuất Nguyên xưa
Buồn đến rồi
Buồn đến rồi
Lý Tư nhớ lại hối đã đành
Không để tấm thân ngoài hư danh
Ngũ hồ nương mây thuyền Phạm Lãi
Thân thoái khi công toại danh thành
Kiếm, lợi cho một người
Sách, để lại họ tên
Ban ơn rồi lại bỏ quên
Đoán người khi đã ở bên nhau thường
Râu vàng cùng với đầu đen
Tiện nghi phương bá nhanh chân chiếm liền
Nho sinh này hỡi nho sinh
Đừng lừa tóc bạc mà mang tội trời.

Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=7587


https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=Wp8GMBTmhpU