Apomethe
22-05-2007, 16:06
CONCERTO "MÙA XUÂN" - Antonio Vivaldi
Vài nét về Âm nhạc Phục hưng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền văn hoá, khoa học nghệ thuật và văn học, âm nhạc Phục hưng đã bắt đầu những bước non trẻ từ thế kỷ XIV và chỉ đạt tới những thành tựu xuất sắc vào thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Bên cạnh nền âm nhạc tôn giáo được coi là chủ yếu của thời kỳ trước, đến thời Phục hưng, âm nhạc dân gian và âm nhạc thế tục đã có được vị trí riêng của mình, nhưng vẫn phải dựa vào cơ sở của âm nhạc tôn giáo với những hình thức, thủ pháp vốn đã rất quen thuộc với quần chúng nhân dân để thể hiện những nội dung mới.
Do vậy, nền âm nhạc phục hưng đã tiếp thu có chọn lọc các thành quả tiến bộ của thời trước để phát huy, sáng tạo. Ở thời kỳ này đã có hầu hết các thể loại âm nhạc, nổi bật là kịch múa, nhạc cho đàn clavecin ở Pháp, nhạc kịch, nhạc đàn ở Ý. Đã có các phong cách phức điệu nghiêm khắc và tự do; các thủ pháp hoà âm như chuyển điệu và ly điệu; các điệu thức trưởng, thứ, nguyên, hoá; các tiết tấu đơn, phức... Sự xuất hiện của nhiều nhạc sĩ xuất chúng đã tạo nên những cơ sở cho mọi nhân tố âm nhạc để các thời đại sau và cả cho tới ngày nay còn phải học hỏi, nghiên cứu và sử dụng.
Âm nhạc Ý thời Phục hưng phát triển rất mạnh mẽ, với sự xuất hiện của các trường phái nhạc kịch nổi tiếng như Floren (Florence), Rim, Maltui, Venise và Napoli. Trong nhạc đàn, người Ý cũng đã nhanh chóng tạo được bộ mặt độc lập, tạo nên những thành quả của riêng mình. Tiêu biểu là đàn Luth với Francesco thuộc trường phái Milan; đàn Organ với Gabrielli thuộc trường phái Venise và Landino của trường phái Florênc. Đặc biệt, nhạc cho đàn violon đã trở thành niềm kiêu hãnh của âm nhạc Phục hưng Ý, với các trường phái tiêu biểu như Bolon gồm những nhạc sĩ nổi tiếng Vitali, Corelli; trường phái Padui (?) với nhạc si Tactini... nhưng nghệ thuật sáng tác và biểu diễn nổi bật phải kể đến trường phái Venise. Bên cạnh đó, các tác phẩm của nhạc sĩ Scarlatti và Vivaldi tuy không dành riêng cho violon, phạm vi hoạt động của họ không bó khung trong nước Ý và họ cũng không lập nên trường phái, nhưng đã góp phần làm cho vườn hoa âm nhạc của nước mình thêm đa dạng về màu sắc, và gây được ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của âm nhạc châu Âu.
Antonio Vivaldi sinh năm 1678 tại Venise. Không những là một nhạc sĩ tài năng trong sáng tác và chỉ huy, ông còn đóng góp nhiều thành quả làm phong phú và rạng rỡ cho nền âm nhạc Ý. Cả cuộc đời, ông đã từng đi khắp nơi trên đất nước mình và cả nước ngoài, được J.S. Bach đánh giá rất cao. Năm 1741 ông mất tại Vienna trong cảnh nghèo đói http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_dissapprove.gif
Vivaldi là người rất quan tâm đến nghệ thuật sử dụng dàn nhạc, ông không ngừng tìm kiếm, thể nghiệm hiệu quả dàn nhạc và khả năng tạo màu sắc của nó. Ông đã để lại một số lượng khổng lồ các tác phẩm, gồm 332 nhạc kịch, 23 cantate, 23 giao hưởng, 73 sonate cùng nhiều loại tác phẩm khác, nhưng thể loại ông yêu thích hơn cả là concerto. Phần lớn các concerto của Vivaldi viết cho một nhạc cụ nào đó (như Flûte, Hautbois, Fagotto, Cor, Violon, Mandoline...) độc tấu với dàn nhạc đệm.
Trong khoảng 450 concerto của Vivaldi, có 28 bản là concerto có tiêu đề. Trong số này, các concerto cho violon và dàn nhạc dây mang tên "BỐN MÙA" giữ một vị trí quan trong đặc biệt. Tác phẩm gồm 4 concerto mang tên Xuân - Hạ - Thu - Đông. Mỗi concerto gồm 3 chương. Nhạc sĩ đã gắn cho mỗi concerto một bản Sonnet (một thể thơ cổ của Ý) phù hợp với từng đoạn trong mỗi bản nhạc, nội dung được miêu tả rất cụ thể bằng âm nhạc. Tác giả của những bản Sonnet này không thấy đề, có thể phỏng đoán là của chính Vivaldi. Các concerto này được viết tặng "Ngài Venceslav conte de Marzin" - ông hoàng Franz von Marzin, thuộc một gia đình quý tộc vùng Bome (Tiệp). Qua chuyện này, người ta biết Vivaldi đã cho biểu diễn các concerto "Bốn mùa" phục vụ Ngài Marzin với bản in các bài Sonnet kèm theo để người nghe nắm bắt sâu rộng hơn những hình tượng diễn tả. Bốn concerto trở thành những tác phẩm hay được biểu diễn nhất của ông.
Như chúng ta đã biết, Vivaldi sáng tác rất nhiều concerto. Ông đặc biệt yêu thích thể loại concerto có tiêu đề và đã viết 28 bản, trong số đó, nổi tiếng hơn cả là các concerto "BỐN MÙA", mỗi bản tượng trưng cho một mùa trong năm. Concerto "Mùa Xuân" là bản đầu tiên, nội dung sáng tác dựa trên bài Sonnet như sau: (bản dịch này do thầy giáo của tôi - thầy Đại Đồng, giảng viên Nhạc viện Hà Nội - dịch từ bản in bằng tiếng Đức)
Mùa xuân đã đến trong niềm vui hội hè
Bầy chim chào xuân với tiếng hát vui tươi
Và những nguồn nước ngọt ngào chảy
Trong hơi thở của làn gió thoảng.
Đột nhiên, bầu trời sầm tối
Với chớp giật, sấm rung, mùa xuân báo là mình đã tới
Rồi tất cả trở lại im lặng, và bầy chim
Lại bắt đầu tiếng hát thần diệu.
Và sau đó, trên thảm cỏ thân yêu đầy hoa
Bên tiếng rì rào êm dịu, dưới bóng cây
Những chú cừu thiu ngủ bên bầy chó trung thành
Góp thêm vào âm hưởng rộn rã của cảnh sắc đồng quê
Các thiếu nữ cùng các chàng chăn cừu vui nhảy múa
Trong rạng rỡ của Mùa Xuân http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_shy.gif
Các quy tắc sáng tác của tác phẩm cũng là thông lệ viết concerto của Vivaldi: gồm 3 chương tương phản nhau: Allegro - Largo - Allegro.
CHƯƠNG I - giọng Mi trưởng (E Major): - Allegro
Hình tượng âm nhạc mà chương I mang lại như muốn diễn tả một bức tranh sinh động về vẻ đẹp rực rỡ của mùa xuân. Sự tận dụng kỹ xảo của nhạc cụ độc tấu violon kết hợp với lối diễn tấu độc đáo của dàn nhạc dây đã nâng cao tính hiệu quả của thể loại âm nhạc có tiêu đề.
Cấu trúc chương I gồm 3 phần chính. Phần thứ nhất là sự trình bày chủ đề chính của chương nhạc, với hai nhân tố mang những nét tương phản nhỏ về sự hoán vị tiết tấu, phản gương, mô phỏng - (phải chăng đó chính là những manh nha của sự tương phản giữa hai chủ đề ở hình thức sonate cổ điển sau này???)
Ở phần thứ hai, những đường nét giai điệu được trình bày ở phần trên bắt đầu được phát triển bằng sự thay đổi âm hình tiết tấu, chuyển điệu, ly điệu liên tiếp tạo sự bất ổn định ...đi lên cao trào, sau đó giảm dần cường độ và ổn định trở lại. Phần thứ 3 tái hiện tái hiện có thay đổi phần thứ nhất, có sử dụng phương thức mô phỏng.
Trong chương này, tác giả đã sử dụng cả lối nhạc chủ điệu và phức điệu để phát triển chủ đề. Nó mang những đặc điểm của thể loại rondo thể hiện ở tính chất âm nhạc tươi vui, ở sự nhắc lại chủ đề nhiều lần. Chương I mang những nét khác biệt với concerto cổ điển, là không viết ở hình thức sonatê, tuy nhiên, với sự trần thuật những nhân tố âm nhạc tương phản, sự phát triển các nhân tố ấy và việc tái hiện lại các nhân tố ở điệu tính chính có thể coi là bước khởi đầu, là sự đặt nền móng cho thể sonate cổ điển sau này.
CHƯƠNG I: 01 - Concerto in E Op. 8 No. 1 Spring Allegro (http://apomethe.dajoob.com/The%20four%20Seasons%20-%20Karajan%20-%20Vienna%20Philharmonic/01%20-%20Concerto%20in%20E%20Op.%208%20No.%201%20Spring% 20Allegro.wma)
CHƯƠNG II - giọng Đô thăng thứ - Largo
Ở các concerto, chương II thương có tốc độ chậm. Chương II của "Mùa xuân" cũng không nằm ngoài thông lệ đó. Nó mang những nét tương phản với chương I và chương III trước hết ở tốc độ chậm, sau đó mới đến màu sắc điệu tính.
Hình tượng âm nhạc mà chương II thể hiện cũng cùng một mục đích như chương I và chương III - tả cảnh mùa xuân - nhưng tính chất âm nhạc của chương II không sôi nổi mà rất sâu lắng, da diết; một vẻ đẹp không rực rỡ mà dịu dàng kín đáo của Mùa Xuân.
Chương II viết ở hình thức hai đoạn cổ, là hình thức rất phổ biến trong nhạc đàn thời Phục hưng. Đoạn thứ nhất có thể coi là chủ đề của chương nhạc vì nó trình bày những nhân tố tiết tấu và chất liệu âm nhạc chính.. Đoạn thứ hai là đoạn phát triển.
Chương II được viết hoàn toàn ở lối nhạc chủ điệu, giai điệu chính hoàn toàn do bè violon solo diễn tấu, bè dầy trầm không thay đổi trong cả chương nhạc giữ hoà âm nền, còn lại bè dây cao làm nhiệm vụ tô điểm cho bè giai điệu như một khúc hát ngân nga trữ tình. Nếu ở chương I, âm nhạc thể hiện cảnh sắc thiên nhiên rực rỡ của Mùa xuân, thì chương II có thể coi là sự thể hiện tâm trạng trong sáng nồng hậu của con người trước thiên nhiên tươi đẹp.
CHƯƠNG II: 02 - Concerto in E Op. 8 No. 1 Spring Largo e pianissimo (http://apomethe.dajoob.com/The%20four%20Seasons%20-%20Karajan%20-%20Vienna%20Philharmonic/02%20-%20Concerto%20in%20E%20Op.%208%20No.%201%20Spring% 20Largo%20e%20pianissimo.wma)
CHƯƠNG III - giọng Mi trưởng (E Major) - Allegro
Vào thời Phục hưng, phong trào "Nghệ thuật mới" trong âm nhạc do nhà Lý luận Pháp nổi tiếng F.Vitry đề xướng được lan truyền và phát triển rộng rãi với những cải cách tiến bộ làm cho âm nhạc trở nên tinh tế và giàu sức diễn cảm hơn. Những người theo trường phái này "cấm đường chuyển động theo quãng 5 và quãng 8 song song, coi lối chuyển động đó gây nên sự trống rỗng nghèo nàn cho bản nhạc. Họ đề cao lối chuyển động quãng 3 song song các bè, vốn đã được dùng từ rất lâu trong âm nhạc dân gian cũng như âm nhạc chuyên nghiệp thế tục, vào những năm sau đó.
Có lẽ Vivaldi cũng là một nhạc sĩ yêu thích phong trào "Nghệ thuật mới" vì trong các concerto nói chung và trong concerto "Mùa Xuân" nói riêng, chúng ta rất hay gặp lối chuyển động quãng 3 song song và cách khai thác chất liệu từ âm nhạc dân gian, nhất là ở chương III.
Nhìn chung, chương III có những nét tương tự với chương I về điệu tính, tốc độ. Về cấu trúc cũng có thể chia làm 3 phần nhưng về chi tiết, chương III có nhiều khác biệt với chương I.
CHƯƠNG III: 03 - Concerto in E Op. 8 No. 1 Spring Danza pastorale - Allegro (http://apomethe.dajoob.com/The%20four%20Seasons%20-%20Karajan%20-%20Vienna%20Philharmonic/03%20-%20Concerto%20in%20E%20Op.%208%20No.%201%20Spring% 20Danza%20pastorale%20-%20Allegro.wma)
Concerto "Mùa xuân" của Vivaldi thiên về tính tạo hình rõ nét. Sự tận dụng kỹ xảo của nhạc cụ độc tấu và cách khai thác hiệu quả của dàn nhạc dây đã mang lại màu sắc âm thanh đẹp, đồng thời đảm bảo việc diễn tả hình tượng âm nhạc có tiêu đề.
Về cấu trúc, chịu ảnh hưởng của âm nhạc thời Phục hưng, hình thức cấu trúc các chương còn chưa định hình rõ, trừ chương II thuộc thể 2 đoạn cổ. Các thủ pháp cấu thành âm nhac dựa trên những đặc điểm của âm nhạc chủ điệu pha trộn với âm nhạc phức điệu. Nhạc cụ độc tấu cũng không hoàn toàn giữ vai trò chủ yếu diễn tấu giai điệu chính, mà chỉ trần thuật một phần giai điệu, làm nhiệm vụ dẫn dắt các nhạc cụ khác thi đua cùng diễn tấu.
Welcome http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_rose.gif
____________________________________
Bài viết của Fleur-de-Lys (http://www.nhaccodien.info/forum/member.php?u=72)
Vài nét về Âm nhạc Phục hưng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền văn hoá, khoa học nghệ thuật và văn học, âm nhạc Phục hưng đã bắt đầu những bước non trẻ từ thế kỷ XIV và chỉ đạt tới những thành tựu xuất sắc vào thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Bên cạnh nền âm nhạc tôn giáo được coi là chủ yếu của thời kỳ trước, đến thời Phục hưng, âm nhạc dân gian và âm nhạc thế tục đã có được vị trí riêng của mình, nhưng vẫn phải dựa vào cơ sở của âm nhạc tôn giáo với những hình thức, thủ pháp vốn đã rất quen thuộc với quần chúng nhân dân để thể hiện những nội dung mới.
Do vậy, nền âm nhạc phục hưng đã tiếp thu có chọn lọc các thành quả tiến bộ của thời trước để phát huy, sáng tạo. Ở thời kỳ này đã có hầu hết các thể loại âm nhạc, nổi bật là kịch múa, nhạc cho đàn clavecin ở Pháp, nhạc kịch, nhạc đàn ở Ý. Đã có các phong cách phức điệu nghiêm khắc và tự do; các thủ pháp hoà âm như chuyển điệu và ly điệu; các điệu thức trưởng, thứ, nguyên, hoá; các tiết tấu đơn, phức... Sự xuất hiện của nhiều nhạc sĩ xuất chúng đã tạo nên những cơ sở cho mọi nhân tố âm nhạc để các thời đại sau và cả cho tới ngày nay còn phải học hỏi, nghiên cứu và sử dụng.
Âm nhạc Ý thời Phục hưng phát triển rất mạnh mẽ, với sự xuất hiện của các trường phái nhạc kịch nổi tiếng như Floren (Florence), Rim, Maltui, Venise và Napoli. Trong nhạc đàn, người Ý cũng đã nhanh chóng tạo được bộ mặt độc lập, tạo nên những thành quả của riêng mình. Tiêu biểu là đàn Luth với Francesco thuộc trường phái Milan; đàn Organ với Gabrielli thuộc trường phái Venise và Landino của trường phái Florênc. Đặc biệt, nhạc cho đàn violon đã trở thành niềm kiêu hãnh của âm nhạc Phục hưng Ý, với các trường phái tiêu biểu như Bolon gồm những nhạc sĩ nổi tiếng Vitali, Corelli; trường phái Padui (?) với nhạc si Tactini... nhưng nghệ thuật sáng tác và biểu diễn nổi bật phải kể đến trường phái Venise. Bên cạnh đó, các tác phẩm của nhạc sĩ Scarlatti và Vivaldi tuy không dành riêng cho violon, phạm vi hoạt động của họ không bó khung trong nước Ý và họ cũng không lập nên trường phái, nhưng đã góp phần làm cho vườn hoa âm nhạc của nước mình thêm đa dạng về màu sắc, và gây được ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của âm nhạc châu Âu.
Antonio Vivaldi sinh năm 1678 tại Venise. Không những là một nhạc sĩ tài năng trong sáng tác và chỉ huy, ông còn đóng góp nhiều thành quả làm phong phú và rạng rỡ cho nền âm nhạc Ý. Cả cuộc đời, ông đã từng đi khắp nơi trên đất nước mình và cả nước ngoài, được J.S. Bach đánh giá rất cao. Năm 1741 ông mất tại Vienna trong cảnh nghèo đói http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_dissapprove.gif
Vivaldi là người rất quan tâm đến nghệ thuật sử dụng dàn nhạc, ông không ngừng tìm kiếm, thể nghiệm hiệu quả dàn nhạc và khả năng tạo màu sắc của nó. Ông đã để lại một số lượng khổng lồ các tác phẩm, gồm 332 nhạc kịch, 23 cantate, 23 giao hưởng, 73 sonate cùng nhiều loại tác phẩm khác, nhưng thể loại ông yêu thích hơn cả là concerto. Phần lớn các concerto của Vivaldi viết cho một nhạc cụ nào đó (như Flûte, Hautbois, Fagotto, Cor, Violon, Mandoline...) độc tấu với dàn nhạc đệm.
Trong khoảng 450 concerto của Vivaldi, có 28 bản là concerto có tiêu đề. Trong số này, các concerto cho violon và dàn nhạc dây mang tên "BỐN MÙA" giữ một vị trí quan trong đặc biệt. Tác phẩm gồm 4 concerto mang tên Xuân - Hạ - Thu - Đông. Mỗi concerto gồm 3 chương. Nhạc sĩ đã gắn cho mỗi concerto một bản Sonnet (một thể thơ cổ của Ý) phù hợp với từng đoạn trong mỗi bản nhạc, nội dung được miêu tả rất cụ thể bằng âm nhạc. Tác giả của những bản Sonnet này không thấy đề, có thể phỏng đoán là của chính Vivaldi. Các concerto này được viết tặng "Ngài Venceslav conte de Marzin" - ông hoàng Franz von Marzin, thuộc một gia đình quý tộc vùng Bome (Tiệp). Qua chuyện này, người ta biết Vivaldi đã cho biểu diễn các concerto "Bốn mùa" phục vụ Ngài Marzin với bản in các bài Sonnet kèm theo để người nghe nắm bắt sâu rộng hơn những hình tượng diễn tả. Bốn concerto trở thành những tác phẩm hay được biểu diễn nhất của ông.
Như chúng ta đã biết, Vivaldi sáng tác rất nhiều concerto. Ông đặc biệt yêu thích thể loại concerto có tiêu đề và đã viết 28 bản, trong số đó, nổi tiếng hơn cả là các concerto "BỐN MÙA", mỗi bản tượng trưng cho một mùa trong năm. Concerto "Mùa Xuân" là bản đầu tiên, nội dung sáng tác dựa trên bài Sonnet như sau: (bản dịch này do thầy giáo của tôi - thầy Đại Đồng, giảng viên Nhạc viện Hà Nội - dịch từ bản in bằng tiếng Đức)
Mùa xuân đã đến trong niềm vui hội hè
Bầy chim chào xuân với tiếng hát vui tươi
Và những nguồn nước ngọt ngào chảy
Trong hơi thở của làn gió thoảng.
Đột nhiên, bầu trời sầm tối
Với chớp giật, sấm rung, mùa xuân báo là mình đã tới
Rồi tất cả trở lại im lặng, và bầy chim
Lại bắt đầu tiếng hát thần diệu.
Và sau đó, trên thảm cỏ thân yêu đầy hoa
Bên tiếng rì rào êm dịu, dưới bóng cây
Những chú cừu thiu ngủ bên bầy chó trung thành
Góp thêm vào âm hưởng rộn rã của cảnh sắc đồng quê
Các thiếu nữ cùng các chàng chăn cừu vui nhảy múa
Trong rạng rỡ của Mùa Xuân http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_shy.gif
Các quy tắc sáng tác của tác phẩm cũng là thông lệ viết concerto của Vivaldi: gồm 3 chương tương phản nhau: Allegro - Largo - Allegro.
CHƯƠNG I - giọng Mi trưởng (E Major): - Allegro
Hình tượng âm nhạc mà chương I mang lại như muốn diễn tả một bức tranh sinh động về vẻ đẹp rực rỡ của mùa xuân. Sự tận dụng kỹ xảo của nhạc cụ độc tấu violon kết hợp với lối diễn tấu độc đáo của dàn nhạc dây đã nâng cao tính hiệu quả của thể loại âm nhạc có tiêu đề.
Cấu trúc chương I gồm 3 phần chính. Phần thứ nhất là sự trình bày chủ đề chính của chương nhạc, với hai nhân tố mang những nét tương phản nhỏ về sự hoán vị tiết tấu, phản gương, mô phỏng - (phải chăng đó chính là những manh nha của sự tương phản giữa hai chủ đề ở hình thức sonate cổ điển sau này???)
Ở phần thứ hai, những đường nét giai điệu được trình bày ở phần trên bắt đầu được phát triển bằng sự thay đổi âm hình tiết tấu, chuyển điệu, ly điệu liên tiếp tạo sự bất ổn định ...đi lên cao trào, sau đó giảm dần cường độ và ổn định trở lại. Phần thứ 3 tái hiện tái hiện có thay đổi phần thứ nhất, có sử dụng phương thức mô phỏng.
Trong chương này, tác giả đã sử dụng cả lối nhạc chủ điệu và phức điệu để phát triển chủ đề. Nó mang những đặc điểm của thể loại rondo thể hiện ở tính chất âm nhạc tươi vui, ở sự nhắc lại chủ đề nhiều lần. Chương I mang những nét khác biệt với concerto cổ điển, là không viết ở hình thức sonatê, tuy nhiên, với sự trần thuật những nhân tố âm nhạc tương phản, sự phát triển các nhân tố ấy và việc tái hiện lại các nhân tố ở điệu tính chính có thể coi là bước khởi đầu, là sự đặt nền móng cho thể sonate cổ điển sau này.
CHƯƠNG I: 01 - Concerto in E Op. 8 No. 1 Spring Allegro (http://apomethe.dajoob.com/The%20four%20Seasons%20-%20Karajan%20-%20Vienna%20Philharmonic/01%20-%20Concerto%20in%20E%20Op.%208%20No.%201%20Spring% 20Allegro.wma)
CHƯƠNG II - giọng Đô thăng thứ - Largo
Ở các concerto, chương II thương có tốc độ chậm. Chương II của "Mùa xuân" cũng không nằm ngoài thông lệ đó. Nó mang những nét tương phản với chương I và chương III trước hết ở tốc độ chậm, sau đó mới đến màu sắc điệu tính.
Hình tượng âm nhạc mà chương II thể hiện cũng cùng một mục đích như chương I và chương III - tả cảnh mùa xuân - nhưng tính chất âm nhạc của chương II không sôi nổi mà rất sâu lắng, da diết; một vẻ đẹp không rực rỡ mà dịu dàng kín đáo của Mùa Xuân.
Chương II viết ở hình thức hai đoạn cổ, là hình thức rất phổ biến trong nhạc đàn thời Phục hưng. Đoạn thứ nhất có thể coi là chủ đề của chương nhạc vì nó trình bày những nhân tố tiết tấu và chất liệu âm nhạc chính.. Đoạn thứ hai là đoạn phát triển.
Chương II được viết hoàn toàn ở lối nhạc chủ điệu, giai điệu chính hoàn toàn do bè violon solo diễn tấu, bè dầy trầm không thay đổi trong cả chương nhạc giữ hoà âm nền, còn lại bè dây cao làm nhiệm vụ tô điểm cho bè giai điệu như một khúc hát ngân nga trữ tình. Nếu ở chương I, âm nhạc thể hiện cảnh sắc thiên nhiên rực rỡ của Mùa xuân, thì chương II có thể coi là sự thể hiện tâm trạng trong sáng nồng hậu của con người trước thiên nhiên tươi đẹp.
CHƯƠNG II: 02 - Concerto in E Op. 8 No. 1 Spring Largo e pianissimo (http://apomethe.dajoob.com/The%20four%20Seasons%20-%20Karajan%20-%20Vienna%20Philharmonic/02%20-%20Concerto%20in%20E%20Op.%208%20No.%201%20Spring% 20Largo%20e%20pianissimo.wma)
CHƯƠNG III - giọng Mi trưởng (E Major) - Allegro
Vào thời Phục hưng, phong trào "Nghệ thuật mới" trong âm nhạc do nhà Lý luận Pháp nổi tiếng F.Vitry đề xướng được lan truyền và phát triển rộng rãi với những cải cách tiến bộ làm cho âm nhạc trở nên tinh tế và giàu sức diễn cảm hơn. Những người theo trường phái này "cấm đường chuyển động theo quãng 5 và quãng 8 song song, coi lối chuyển động đó gây nên sự trống rỗng nghèo nàn cho bản nhạc. Họ đề cao lối chuyển động quãng 3 song song các bè, vốn đã được dùng từ rất lâu trong âm nhạc dân gian cũng như âm nhạc chuyên nghiệp thế tục, vào những năm sau đó.
Có lẽ Vivaldi cũng là một nhạc sĩ yêu thích phong trào "Nghệ thuật mới" vì trong các concerto nói chung và trong concerto "Mùa Xuân" nói riêng, chúng ta rất hay gặp lối chuyển động quãng 3 song song và cách khai thác chất liệu từ âm nhạc dân gian, nhất là ở chương III.
Nhìn chung, chương III có những nét tương tự với chương I về điệu tính, tốc độ. Về cấu trúc cũng có thể chia làm 3 phần nhưng về chi tiết, chương III có nhiều khác biệt với chương I.
CHƯƠNG III: 03 - Concerto in E Op. 8 No. 1 Spring Danza pastorale - Allegro (http://apomethe.dajoob.com/The%20four%20Seasons%20-%20Karajan%20-%20Vienna%20Philharmonic/03%20-%20Concerto%20in%20E%20Op.%208%20No.%201%20Spring% 20Danza%20pastorale%20-%20Allegro.wma)
Concerto "Mùa xuân" của Vivaldi thiên về tính tạo hình rõ nét. Sự tận dụng kỹ xảo của nhạc cụ độc tấu và cách khai thác hiệu quả của dàn nhạc dây đã mang lại màu sắc âm thanh đẹp, đồng thời đảm bảo việc diễn tả hình tượng âm nhạc có tiêu đề.
Về cấu trúc, chịu ảnh hưởng của âm nhạc thời Phục hưng, hình thức cấu trúc các chương còn chưa định hình rõ, trừ chương II thuộc thể 2 đoạn cổ. Các thủ pháp cấu thành âm nhac dựa trên những đặc điểm của âm nhạc chủ điệu pha trộn với âm nhạc phức điệu. Nhạc cụ độc tấu cũng không hoàn toàn giữ vai trò chủ yếu diễn tấu giai điệu chính, mà chỉ trần thuật một phần giai điệu, làm nhiệm vụ dẫn dắt các nhạc cụ khác thi đua cùng diễn tấu.
Welcome http://www9.ttvnol.com/forum/images/emotion/icon_smile_rose.gif
____________________________________
Bài viết của Fleur-de-Lys (http://www.nhaccodien.info/forum/member.php?u=72)