Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
11/4/2011 - Gérard Akoka (Pháp) chỉ huy Dàn nhạc giao hưởng Hà Nội [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : 11/4/2011 - Gérard Akoka (Pháp) chỉ huy Dàn nhạc giao hưởng Hà Nội



Ù Ù Cạc Cạc
30-03-2011, 15:32
Không chỉ giành Giải nhất dành cho Chỉ huy dàn nhạc tại Rome, Giải xuất sắc của Quỹ BBC-Ruppert, Gérard Akoka từng là học trò của những nghệ sỹ bậc thầy quốc tế như Sergiu Celibidache, Léonard Bernstein.

Thời gian: 20h thứ Hai ngày 11/4/2011
Địa điểm: Nhà Hát Lớn, số 1 Tràng Tiền - Hà Nội

Dàn nhạc giao hưởng Hà nội - Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
Hanoi Philharmonic Orchestra - Vietnam National Academy of Music
Chỉ huy/Conductor: Gérard Akoka (Pháp)

THÔNG TIN NGHỆ SĨ

http://www.vphanoi-lespace.com/chuong-trinh-van-hoa/gerard-akoka/image_normale

Từng biểu diễn cùng các Dàn nhạc danh giá như : Dàn nhạc Giao hưởng BBC của Luân Đôn, Dàn nhạc Giao hưởng Mới và Dàn nhạc Quốc gia của Radio France, Teatro la Fenice của Venise, Dàn nhạc giao hưởng "Guiseppe Verdi"của Milan... Ông đã hợp tác với những nghệ sỹ lỗi lạc khác như Alexis Weissenberg, Pierre Boulez, Ricardo Muti, Narcisso Yepes...

Như rất nhiều chuyên già và nhà phê bình quốc tế đã nói và viết, những lần biểu diễn khó quên của ông những tác phẩm của Beethoven, Brahms, Mahler, Bruckner, Wagner, Richard Strauss, Berlioz, Debussy, Ravel, Stravinsky, Bartók… luôn được đón nhận nồng nhiệt bởi công chúng. "Sự cầu kỳ trong cách ngắt quãng, sự kì diệu của những khuông nhạc, sự phân tích thiên cảm đấy sáng tạo, sự chính xác không thể hơn trong nhịp điệu, óc tỷ lệ trong những chi tiết và trong những đường nét kiến trúc của âm nhạc, sự tăng dần những căng thẳng bên trong và sự năng động, cảm giác về sự chặt chẽ và thống thiết..." là tất cả những gì mang lại từ những trình bày luôn tôn trọng cảm giác chân thực trong tác phẩm mà ông thể hiện.

CHƯƠNG TRÌNH:

Phần I
L.V. Beethoven: Bản giao hưởng số 5 - Symphony No. 5

Nghỉ giải lao

Phần II
F. Liszt:
- Những Khúc dạo đầu - Les Préludes
- Khúc phóng tác Hungary số 2 - Hungarian Rhapsody N°2

THÔNG TIN VÉ HÒA NHẠC

Giá vé (VND): 150000, 250000, 350000

Các điểm bán vé:
Nhà hát lớn Hà Nội
Trang Web: www.ticketvn.com
Hotline: 0913489858, 0983067996, 6617859

Link tham khảo:
http://www.vphanoi-lespace.com/chuong-trinh-van-hoa/gerard-akoka
http://www.vnam.edu.vn/NewsDetail.aspx?lang=&ItemID=488&CatID=11&SubID=39
http://www.ticketvn.com/hh_event.php?evnt_id=233

na9
30-03-2011, 17:59
Phần II
F. Liszt:
- Những Khúc dạo đầu - Les Préludes (http://i128.photobucket.com/albums/p190/kikiTriomphe/BIA%20SACH/Thovanhaccodien.jpg)
- Khúc phóng tác Hungary số 2 - Hungarian Rhapsody N°2 (http://i128.photobucket.com/albums/p190/kikiTriomphe/BIA%20SACH/CngccBnghenhccinhightqualitycover.jpg)


buổi hòa nhạc trong mơ của mình đây rồi! :x

Ù Ù Cạc Cạc
31-03-2011, 12:53
Giao hưởng No. 5 giọng Đô thứ “Định mệnh”, Op. 67

Tác giả: Ludwig van Beethoven
Thời gian sáng tác: 1804-1808
Công diễn lần đầu: ngày 22/12/1808 ở Theater an der Wien tại Vienna do tác giả chỉ huy
Độ dài: khoảng 35 phút
Đề tặng: hai người bảo trợ là hoàng thân Lobkowitz và bá tước Rasumovsky
Xuất bản lần đầu: tháng 4/1809
Tổng phổ: Ba chương đầu gồm 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 2 horn, 2 trumpet, timpani, và bộ dây thường dùng gồm violin 1 và 2, viola, cello, và double bass. Trong chương cuối, piccolo, contrabassoon và 3 trombone (alto, tenor và bass) được thêm vào.

Tác phẩm gồm 4 chương:
I- Allegro con brio.
II- Andante con moto.
III- Allegro
IV- Allegro

Hoàn cảnh sáng tác:
Bản giao hưởng số 5 nổi tiếng về thời gian khổng lồ trong thời kỳ thai nghén. Bản phác thảo đầu tiên từ 1804, nối tiếp việc hoàn tất bản giao hưởng số 3. Tuy nhiên, Beethoven đã ngắt quãng tác phẩm của mình nhiều lần để chuẩn bị các sáng tác khác, bao gồm phiên bản đầu của Fidelio, Appassionata piano sonata, 3 Razumovsky string quartet, violin concerto, piano concerto số 4, và giao hưởng số 4. Lần chuẩn bị cuối cùng của bản giao hưởng số 5 vào năm 1807-1808, tiến hành song song với giao hưởng số 6, và được biểu diễn lần đầu vào cùng một buổi hòa nhạc.

Beethoven đã quá 30 tuổi trong thời gian này, cuộc sống riêng tư bị rắc rối bởi chứng điếc ngày càng tăng. Trên thế giới, thời kỳ này được đánh dấu bởi chiến tranh Napoleon, rối loạn chính trị tại Áo, và sự chiếm giữ Vienna bởi quân đội của Napoleon năm 1805.

Phân tích:
Giao hưởng số 5 - tác phẩm nổi tiếng nhất của Beethoven và được biểu diễn thường xuyên hơn cả. Trong tác phẩm này, những nguyên tắc cải tiến của nhạc sĩ đã trở thành một công thức hoàn chỉnh kinh điển. Giao hưởng số 5 - giao hưởng - bi kịch trong ý nghĩ cao quý cổ đại của danh từ ấy. Nhân tố chống thần linh kiểu Promethé trong cơ sở sáng tác của Beethoven được thể hiện ở đây đặc biệt rõ nét. Tất cả các chương của vở bi kịch này đều xuyên qua một trục phát triển kịch chung. "Qua cuộc đấu tranh đến thắng lợi", "Từ tăm tối - ra ánh sáng" - ý đồ triết lý của bản giao hưởng số 5 được áp dụng để diễn đạt là như thế. Tất nhiên, đó chỉ là sơ đồ của nội dung và hai phần ngoài cùng của nó, phần giữa là cả một cảnh tượng của cuộc đấu tranh sống còn phức tạp và toàn diện đang phát triển. Câu nói của tác giả với chủ đề thứ nhất: "Số phận gõ cửa như thế' mở ra khả năng xác định quan điểm của bản giao hưởng. Theo dõi "hành động" âm nhạc, có thể đi đến kết luận rằng, bản giao hưởng này thuật lại thời điểm cao trào trong cuộc đời con người, khi nó buộc phải tham gia vào cuộc đấu tranh cho việc thực hiện lý tưởng, định mệnh, đấu tranh cho cái "tôi" của mình, tham gia cuộc đấu tranh mà có thể báo trước cái chết, nhưng không thể từ nan và kết thúc bằng thắng lợi của tinh thần đạo đức. Ý đồ hùng vĩ và cao cả được thể hiện dưới một hình thức rõ ràng kinh điển, cân đối, mạch lạc, logic và cô đọng phi thường. Nhờ những phẩm chất ấy bản giao hưởng số 5 đã trở thành loại kiểu mẫu, một tiêu chuẩn nhạc giao hưởng của thế kỷ 19.

"Hành động" của bản giao hưởng phát triển nhanh, sôi nổi, nhạc tố gồm 4 âm được gắn cho tên gọi "chủ đề số phận", báo tin mở đầu bản giao hưởng. Đó là cái gì? Lời hô hào? Lời kêu gọi? Hay là sự báo trước? Một sự yên tĩnh lo ngại bao trùm dàn nhạc trong giây lát. Vì vậy "tiếng nói định mệnh" vang lên với sức mạnh mới, khẩn khoản, dai dẳng. Như tiếng đáp lại, ở bè dây xuất hiện những tiết nhạc dịu dàng, trìu mến của chủ đề phụ. Lúc đầu còn chút rụt rè, nhưng chẳng bao lâu sau lấy được sức vững vàng và chúng đạt được cao trào kiêu hãnh, báo trước thắng lợi cuối cùng. Xung đột chủ yếu của bản giao hưởng được hình thành như vậy, tạo điều kiện cho phần phát triển căng thẳng kịch tính - hầu như hoàn toàn dựa trên cơ sở nhịp điệu đặc biệt của chủ đề chính, phần phát triển tiến hành thực hiện tư tưởng của cuộc đấu tranh trong phạm vi ý đồ cảm xúc. Âm nhạc tích lũy dần sự căng thẳng, những tuyến phát triển mãnh liệt dồn vào một dòng nhạc thống nhất và, cuối cùng lại "motiv số phận" vang lên rùng rợn, tượng trưng cho giờ phút thử thách nghiêm trọng đã đến. Tiếp theo là sự tan vỡ đột ngột: một giai điệu đau buồn của oboa. Những cuộc chiến đấu bắt đầu sôi nổi với sức mạnh mới. Những trang cuối của chương I nhuốm màu ảm đạm, bi thương.

Chương II đưa ra một khía cạnh mới của tư tưởng chủ yếu của tác phẩm, thể hiện trong lĩnh vực "giáo dục tình cảm". Đó là thế giới của những tư tưởng cao thượng, những cảm xúc nồng nhiệt - môi trường trữ tình anh hùng đặc sắc đối với Beethoven. Hai chủ đề âm nhạc tạo cơ sở phát triển của cả chương theo lối biến tấu: chủ đề thứ nhất, du dương, êm ái (alto và cello) đầy tính chất quả cảm cao thượng, chủ đề hai - khúc quân hành, như một bài ca kêu gọi. Trong khi phát triển song song hai chủ đề gần nhau, nhịp điệu diễu hành oai nghiêm, trang trọng, âm thanh kèn hiệu, cao trào anh hùng càng lấn át khỏi điểm trữ tình như phát hiện ra sự chuẩn bị của "vị anh hùng' cho trận chiến đấu quyết định sắp đến. Và ở đâu đó phía sau sự việc đã "nấp sẵn" "chủ đề số phận" - đó là động lực tiềm tàng của những diễn biến...

Những tiết nhạc hồi hộp lo lắng của Cello và contrebass, âm điệu khẩn cầu của violin và alto, cuộc tiến quân như thác đổ (nhịp 3 !), dựa trên "chủ đề số phận", còn trong phần trio những nét lướt nặng nhọc như tiếng ồn ào ngày càng lớn trong đám đông, tiếng bật dây (pizzicato) kín đáo - đó là những nét chung trong tính cách của đoạn scherzo xuyên qua một khí thế chung. Khôi phục không khí chiến đấu, scherzo chuẩn bị cho chương cuối không những hình ảnh, mà còn thật sự: bằng cách tăng mạnh cường độ (crescende), scherzo chuyển thằng sang chương cuối cùng.

Chương cuối - kết quả, một màn kết huy hoàng của bản giao hưởng, chương Final được xem như một bài hát hùng tráng ca ngợi con người đã chiến thắng trong cuộc đấu tranh cho những lý tưởng nhân đạo cao quý, cho giá trị của con người. Trong suốt cả chương, trừ những lúc hồi tưởng lo âu trong phần phát triển (chương cuối được viết ở hình thức sonata allegro), điệu trưởng chói lọi chiếm ưu thế. Đoạn cuối (coda) đồ sộ như một khúc khải hoàn, kết thúc bản giao hưởng tường thuật về sức mạnh tinh thần của con người.

Nguồn: Sách Dành cho người nghe nhạc giao hưởng (Nguyễn Cửu Vĩ dịch; Ca Lê Thuần hiệu đính)

Ù Ù Cạc Cạc
31-03-2011, 12:57
Les Préludes (Những khúc dạo đầu)

Nổi tiếng nhất trong các thơ giao hưởng của Liszt là bản thơ giao hưởng số 3 với tên Les Préludes (Những khúc dạo đầu). Mặc dầu tên tác phẩm là “Những khúc dạo đầu” nhưng tự nó là một tác phẩm trọn vẹn và độc lập. Khá lâu trước khi nó có được hình thức cuối cùng, Liszt đã mường tượng tác phẩm trong một bối cảnh khác. Vào khoảng năm 1844-1845, ông sáng tác một liên khúc cho hợp xướng nam và piano có tên Les Quatre Eléments (Bốn yếu tố) dựa theo các bài thơ của Joseph Autran. Liszt dự định dùng một overture để giới thiệu chùm bốn hợp xướng miêu tả trái đất, những cơn gió bắc, những con sóng và những vì sao (ngụ ý bốn yếu tố chính theo quan niệm của người Hy Lạp cổ là đất; gió; nước và lửa). Trong những năm tiếp theo, Liszt đã gác lại các hợp xướng trong khi vẫn tiếp tục sửa chữa chương nhạc giới thiệu. Khi chương nhạc này trở nên độc lập với mục đích ban đầu, Liszt không nhắc đến nó như một overture nữa và đến năm 1854 nó đã trở thành một tác phẩm chính thức ở thể loại của riêng nó - thể loại thơ giao hưởng.

Thơ giao hưởng số 3 được lấy tên theo tiêu đề bài thơ Les Préludes (Những khúc dạo đầu) trong tập Méditations Poétiques (Những khúc trầm mặc nên thơ) của nhà thơ Pháp Alphonse de Lamartine, người mà trong số các môn đệ trung thành có Joseph Autran. Les Préludes của Lamartine là một khúc tụng ca dài miêu tả cuộc sống của một con người từ tình yêu thời tuổi trẻ qua những thực tế khắc nghiệt của sự nghiệp và chiến tranh rồi cuối cùng tới toại nguyện. Vậy là Liszt đã viết xong thơ giao hưởng Les Préludes rồi mới liên hệ nó với bài thơ có vẻ thích hợp nhất trong tập thơ của Lamartine mà ông rất yêu thích. Nhà soạn nhạc thấy bài thơ ấy đáp ứng được tinh thần của bản thơ giao hưởng, tuy vậy ông đã kiến giải tư tưởng của Lamartine theo cách của mình. Trong xuất bản phẩm đã sửa chữa, Liszt viết: “Cuộc sống của chúng ta là gì nếu không phải là một chuỗi những khúc dạo đầu cho bài ca bí ẩn mà trong đó những nốt nhạc trang nghiêm đầu tiên do Sự Chết ngâm lên? Tình yêu là buổi bình minh mê đắm của mọi cuộc đời; song có ai đủ may mắn để những hân hoan hạnh phúc ban đầu không bị cơn bão tố nào đó làm cho gián đoạn, luồng gió chết chóc của nó làm tiêu tan ảo tưởng của tình yêu, tiếng sét tai ác của nó thiêu hủy bệ thờ của tình ái, và ở đâu tâm hồn bị một trong các cơn bão làm tổn thương dữ dội lại không tìm cách vịn vào ký ức về sự thanh thản êm đềm của cuộc sống nơi đồng quê của mình? Song con người không cam chịu hưởng thụ lâu dài hơi ấm từ tâm là cái đầu tiên đã quyến rũ mình trong sự chở che đùm bọc của Thiên Nhiên, và khi “Kèn trômpet vang lên báo động”, anh ta xông tới vị trí hiểm nguy dù cho chiến tranh có thể là cái kêu gọi anh vào hàng ngũ của nó, để tìm ra trong cuộc chiến đấu lương tâm trọn vẹn của bản thân và toàn bộ sức mạnh tiềm tàng của mình.”

Dù không được lấy cảm hứng một cách cụ thể từ lời thơ của Lamartine nhưng âm nhạc của Les Préludes ở phiên bản sau cùng lại phản ánh một cách trung thành các cảnh huống tâm trạng thay đổi của mỗi đoạn trong bài thơ tuy có đảo lộn trình tự hai đoạn cuối (1- Bình minh của cuộc đời; Tình yêu; 2- Cơn bão cuộc đời; 3- Trú ẩn và an ủi trong cuộc sống thôn dã; 4- Chiến đấu và chinh phục). Ngôn ngữ âm nhạc thể hiện những chủ đề tương đương với chủ đề được Lamartine thể hiện bằng lời thơ mà không cần phải đưa ra một diễn dịch trực tiếp các yếu tố của chủ đề. Motive ba nốt riêng rẽ tạo ra chất keo dính trọng yếu, các hoán vị và biến đổi đa dạng của nó phản ánh nhiều tâm trạng khác nhau của mỗi đoạn. Một chủ đề khác, một người anh em họ xa của motive gốc, cuối cùng hòa nhập vào, tạo yếu tố tương phản khi nó cũng trải qua biến đổi. Tác phẩm kết thúc bằng sự trở lại với motive ba nốt ở hình thức gốc. Les Préludes là hình mẫu đẹp nhất cho kiểu thơ giao hưởng bắt nguồn từ overture hòa nhạc và lấy cấu trúc từ sự kết hợp giữa hình thức sonata và tương phản bốn đoạn trong cùng một chương nhạc.

Nguồn: Sách NHỮNG KHÚC DẠO ĐẦU - THƠ VÀ NHẠC THÍNH PHÒNG GIAO HƯỞNG (http://sites.google.com/site/quanachin/hnh-nh/cuon-sach-xanh)

Ù Ù Cạc Cạc
31-03-2011, 13:03
Hungarian Rhapsody No.2

Sinh thời, nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ piano kiệt xuất Franz Liszt (1811 – 1886) rất tự hào về nguồn gốc Hungary của mình. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử mà sự hiểu biết của ông về ngôn ngữ và văn hóa Hungary còn nhiều hạn chế. Liszt có thể dùng trôi chảy các thứ tiếng Đức, Pháp, Ý, biết một chút tiếng Anh nhưng lại rất kém tiếng Hungary. Vào đầu những năm 1870, khi mọi người dân sống ở Hungary buộc phải học tiếng Hungary, Liszt cũng thử học nhưng đã từ bỏ sau vài bài học. Cho đến tận cuối đời, Liszt vẫn còn là một lữ khách ngay tại nơi được coi là quê hương của ông.

Tháng 12 năm 1839, khi đã là một nhân vật nổi danh ở châu Âu, Liszt ca khúc khải hoàn trở về Hungary. Ông ở lại đó cho đến cuối tháng 1 năm 1840. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại quê hương, Lizst đã làm quen với các ban nhạc Gypsy vẫn thường lang thang ở các vùng thôn quê Hungary. Ông nghe họ biểu diễn âm nhạc bằng đàn violin và cymbal với một phong cách say sưa cuồng nhiệt và đầy ngẫu hứng.

Thứ âm nhạc của những người Gypsy đã tác động sâu sắc tới Liszt, thúc đẩy ông chuyển dịch những hiệu quả của nó cho cây đàn piano mà ông yêu thích. Ông không hề ý thức được rằng nhiều giai điệu mà trên đó những người Gypsy đã truyền vào sự tinh nhạy của họ và cái được ông ghi chú kỹ lưỡng vốn chỉ là thứ âm nhạc phòng khách được người Gypsy thu lượm trong quá trình phiêu bạt. Lizst đã tưởng rằng chúng là một phần của “thiên anh hùng ca Gypsy” lớn lao, một kiểu hồn thiêng của âm nhạc Hungary. Với suy nghĩ đó, ông tái tạo chúng trong một bộ tác phẩm cho piano có tên Magyar dalok & Magyar rapszódiák. Nhưng đây mới chỉ là những phác thảo sơ bộ cho loạt 15 Hungarian Rhapsody tuyệt diệu mà ông soạn từ năm 1847 đến năm 1853. Những Rhapsody từ No. 16 đến No. 19 rất lâu sau mới được soạn và có một phong cách hoàn toàn khác.

Việc khảo sát có hệ thống âm nhạc dân gian Hungary đích thực phải chờ đến sự tâm huyết của hai nhà soạn nhạc Hunggary là Kodály và Bartók vào những năm đầu thế kỉ 20. Trước đó, sự nhầm lẫn của Lizst giữa âm nhạc Hungary và phong cách Gypsy đã bị coi là một sự lăng nhục dân tộc ở Hungary.

Dù sao thì Liszt đã đúc rút được từ những người Gypsy một mẫu hình xa xưa gồm hai phần: phần đầu (Lassan) chậm, bi thương và phần sau (Friska) nhanh, thôi thúc đến chóng mặt. Đây là mẫu hình đặc trưng của những vũ điệu dân gian csardas của người Hungary. Kèm theo đó là một phong cách ngẫu hứng năng động một cách khác thường.

Trong số những Hungarian Rhapsody viết cho piano của Liszt, Hungarian Rhapsody No. 2 giọng Đô thăng thứ là bản nổi tiếng và quen thuộc nhất. Tác phẩm được Liszt soạn vào khoảng năm 1847, xuất bản năm 1851 và đề tặng bá tước Laszlo Teleky.

Có một điều đáng ngạc nhiên rằng đây là tác phẩm duy nhất trong loạt Hungarian Rhapsody từ No. 1 đến No. 15 mà chất liệu chủ đề không thấy có trong tập Magyar dalok & Magyar rapszódiák. Một số Hungarian Rhapsody khác có thể ngang bằng với Hungarian Rhapsody No. 2 về kỹ thuật điêu luyện và tính đa dạng chủ đề nhưng không có bản nào vượt trội hơn nó.

Chủ đề mở đầu trầm ngâm tư lự của Hungarian Rhapsody No. 2 được Liszt ghi chú trong một cuốn phác thảo năm 1846 như ông đã nghe. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa phát hiện ra nguồn gốc của phần còn lại nên có thể chúng là nguyên bản trong tác phẩm của Liszt.

Như hầu hết các Hungarian Rhapsody khác, Hungarian Rhapsody No. 2 gồm hai phần Lassan và Friska. Trước đoạn kết của tác phẩm (Prestissimo), Liszt yêu cầu nghệ sĩ chơi một đoạn trổ ngón do họ tự ứng tác (Cadenza ad libitum). Bản thân Liszt cũng đã viết đến 2 Cadenza ad libitum cho Hungarian Rhapsody No. 2.

Ngoài bản gốc cho piano solo, Hungarian Rhapsody No. 2 còn có một số phiên bản cho dàn nhạc trong đó có phiên bản ở giọng Rê thứ do Franz Doppler chuyển soạn dưới trợ giúp của Liszt. Năm 1874, Liszt chuyển soạn Hungarian Rhapsody No. 2 cho song tấu piano và phiên bản này được xuất bản trong năm tiếp theo.

Sau này Hungarian Rhapsody No. 2 được sử dụng làm phần nhạc cho rất nhiều phim hoạt hình. Trong tập The Cat Concerto thuộc loạt phim nổi tiếng Tom and Jerry, mèo Tom đã trình diễn trọn vẹn Hungarian Rhapsody No. 2 trên đàn piano trước sự phá đám của chuột Jerry và rồi sụp xuống vì kiệt sức.

Một số nhà phê bình âm nhạc, trong đó có Béla Bartók, không đánh giá cao những Hungarian Rhapsody của Liszt vì cho rằng giai điệu của chúng tầm thường. Tuy nhiên đã, đang và sẽ có nhiều nghệ sĩ piano chọn chúng để thể hiện tài năng trình tấu. Có một điều chắc chắn: Hungarian Rhapsody No. 2 sẽ còn tiếp tục vang lên...

Nguồn: Sách CÙNG CÁC BÉ NGHE NHẠC CỔ ĐIỂN (http://sites.google.com/site/quanachin/hnh-nh/cungmebenghe90bannhaccodien)

P/s: chương trình ngày 11/4, Dàn nhạc giao hưởng Hà Nội (có thể) sẽ chơi phiên bản chuyển soạn tác phẩm này cho dàn nhạc của Ravel. Ravel là một bậc thầy về chuyển soạn cho dàn nhạc nên bản chuyển soạn của Ravel cũng rất giá trị.

akira
31-03-2011, 21:57
Không biết lần này thành viên diễn đàn có được giảm giá vé như mấy lần trước không, nếu không cũng phải vét sạch túi mà đi mới được *_*