Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Tạp Chí Văn Học của Vương Quốc Nhạc Cổ Điển [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Tạp Chí Văn Học của Vương Quốc Nhạc Cổ Điển



na9
16-11-2006, 10:53
Triomphe mở chủ đề này để cạnh tranh lành mạnh với Tạp Chí Lá Cải của ttdungquantum, Tạp Chí Mĩ Thuật của Apomethe, Những cảm xúc bất chợt của cuộc sống (Nhật kí chung) do Elibron phụ trách. Mọi thành viên của Vương quốc Nhạc cổ điển đều có thể gửi những tác phẩm văn học do mình sáng tác/dịch vào đây. Thành viên nào muốn gửi tác phẩm của thành viên khác thì trước hết phải được sự đồng ý của tác giả. Các thành viên khác cũng có thể gửi những bài cảm nhận và bình luận về những tác phẩm đã được gửi lên.

Lưu ý : chỉ gửi các tác phẩm của thành viên diễn đàn Nhạc cổ điển.

na9
16-11-2006, 10:57
Gia đình hạnh phúc
Hans Christian Andersen
KH (Triomphe) dịch qua bản Pháp văn

Chiếc lá lớn nhất ở xứ sở này nhất định là lá cây ngưu bàng. Nếu ta giữ nó ở trước cái bụng bé nhỏ của mình, ta tưởng như có một chiếc tạp dề thực sự và nếu vào những hôm trời mưa ta đặt nó trên đầu, nó giá trị gần bằng một chiếc ô bởi vì nó rất rộng. Cây ngưu bàng không bao giờ mọc đơn lẻ cả. Nơi nào có một cây, nơi đó sẽ có nhiều cây khác và đó là một món ăn thật là ngon cho những con ốc sên. Đấy là tôi nói về những con ốc sên trắng lớn mà ngày xưa những người tao nhã đã dùng để làm món ragu.

Có một tòa lâu đài cổ nơi mà người ta chẳng còn ăn ốc sên nữa, chúng hầu như đã biến mất rồi, nhưng chính cây ngưu bàng lại sống dai hơn bao giờ hết, nó đã xâm lấn cả những lối đi và bồn hoa ; người ta không thể nào đi đến hết được vì đó là một khu rừng thực sự. Một cây mận hoặc cây táo mọc lên ở bên này bên kia, nếu không có những cây đó, người ta không bao giờ tin rằng trước kia đây là một khu vườn. Tất cả toàn là cây ngưu bàng…và trong đó có hai con ốc sên cuối cùng và vô cùng già nua đang sống.

Chính chúng cũng không biết chúng có thể là bao nhiêu tuổi, song chúng nhớ rằng chúng đã từng đông đúc lắm, rằng chúng là một loài đến từ ngoại quốc, và rằng chính vì chúng mà cả khu rừng đã được trồng. Chúng chưa từng đi ra ngoài, song chúng biết rằng ở trên đời có cái gì đó gọi là “lâu đài”, nơi mà người ta mang chúng đến để nấu chín, điều đó khiến ta trở nên đen kịt, rồi ta được đặt lên một chiếc đĩa bạc mà không thể biết được điều gì sẽ xảy đến sau đó. Được nấu chín, trở nên đen kịt và nằm trên một chiếc đĩa bạc, chúng không hình dung ra cái đó có thể là gì, song điều đó chắc hẳn phải rất thú vị và hết sức tao nhã.

Cả chuột chũi lẫn cóc và sâu đất đều hỏi và chẳng thể đưa ra tí chút chỉ dẫn gì về việc đó, chẳng ai trong số chúng từng được nấu chín cả.

Những con ốc sên trắng già nua biết rằng chúng cao quý nhất trong cả bọn, rằng khu rừng tồn tại chỉ để cho chúng và tòa lâu đài ở đó là để chúng có thể được nấu chín và đặt lên một chiếc đĩa bạc.

Chúng sống rất cô đơn song hạnh phúc và vì chúng không có con cái nên chúng đã đón về một con ốc sên nhỏ hoàn toàn bình thường mà chúng nuôi như thể nó là con riêng của chúng. Đứa con chẳng hề to lớn thêm bởi vì nó thuộc một loài rất bình thường.

Một hôm, có một trận mưa lớn đổ xuống.
- Nghe kìa, mưa đập trên những chiếc lá ngưu bàng đấy ! ông bố bảo.
- Và những giọt nước thấm qua tất cả, bà mẹ nói. Có cả những giọt rơi xuống dọc theo những thân cây. Tất cả sắp ướt hết. Thật là may vì mỗi chúng ta có một ngôi nhà tốt và con mình cũng thế. Tạo hóa đã cho chúng ta hơn tất thảy mọi sinh vật khác, rõ ràng rằng chúng ta là những chủ nhân của thế giới này ! Ngay khi chúng ta sinh ra, chúng ta đã có ngôi nhà riêng của mình và rừng cây ngưu bàng để chúng ta dùng. Tôi tự hỏi ở đằng kia có cái gì.
- Chả có gì ở đằng kia đâu, ông bố bảo. Không nơi nào mà ta có thể tốt hơn ở nhà mình cả và tôi chả có gì để ao ước hết.
- Có chứ, người mẹ nói, tôi mong được đem tới tòa lâu đài, được nấu chín và đặt lên một chiếc đĩa bạc. Tất cả ông bà tổ tiên của chúng ta đều được thế cả và mình hãy tin tôi, đó hẳn phải là điều gì đó đặc biệt.
- Tòa lâu đài có thể là đã sụp đổ rồi, ông bố nói, hoặc là khu rừng đã mọc lên trên và con người không còn có thể ra khỏi đó nữa. Vả lại, chả có gì cần kíp phải biết ngay đâu. Nhưng mình cứ bồn chồn quá và con mình cũng bắt đầu như thế - chẳng phải nó leo lên dọc cái thân cây này từ ba ngày nay ư ?
- Mình đừng la mắng nó, bà mẹ nói, nó leo lên một cách rất thận trọng ; mình thấy đấy, chúng ta đã thỏa lòng, và chúng ta già nua thì khác, chúng ta chẳng có lý do sống nào nữa. Nhưng có một điều khiến tôi bận tâm : làm sao để nó tìm được một người vợ ? Mình có tin rằng, ở sâu trong rừng, ta vẫn còn tìm thấy một thiếu nữ dòng giống mình không ?
- Ồ, những con sên đen thì tôi tin là ở đó vẫn có, nhưng không có vỏ và tầm thường ! Và với việc ấy, chúng tự phụ lắm. Chúng ta có thể nói chuyện với những chị kiến chạy khắp các sườn dốc cứ như thể họ có việc gì đó để làm. Có lẽ họ biết một người phụ nữ dành cho con chúng mình chăng ?
- Tôi biết cô đẹp nhất trong những người đẹp, chị kiến nói, nhưng tôi e rằng cô ấy không làm việc ; đó là một nữ hoàng !
- Thế thì làm cái gì, ông bố nói, thế cô ấy có một “ngôi nhà” không ?
- Cô ấy có một tòa lâu đài, chị kiến nói, một tòa lâu đài tuyệt diệu của đàn kiến với bảy trăm hành lang.
- Cám ơn lắm lắm, bà mẹ nói, con trai chúng tôi sẽ không đi vào một tổ kiến đâu. Nếu chị không có đám nào tốt hơn để giới thiệu cho chúng tôi, chúng tôi sẽ tìm hỏi những anh muỗi trắng vậy ; họ bay lượn tứ bề dưới mưa và trong nắng, quen thuộc khu rừng.
- Chúng tôi có một phụ nữ dành cho anh ấy đấy, những anh muỗi rì rầm. Cách đây một trăm bước chân người, trên một cây lý chua, một cô ốc sên nhỏ nhắn có vỏ ở đó chỉ có mỗi mình và đang ở độ tuổi kết hôn.
- Mong sao cô ta về với nó, ông bố bảo ; nó sở hữu một rừng ngưu bàng, cô ta chỉ có mỗi một bụi cây bình thường…
Vậy là những anh muỗi tới tìm thiếu nữ ốc sên nhỏ nhắn. Người ta chờ cô ta tám ngày, điều đó minh chứng rằng cô ta rõ ràng thuộc dòng giống của chúng.

Tiếp đó, hôn lễ được tổ chức. Sáu con sâu đóm vận bộ cánh rực rỡ nhất. Vả lại, tất cả diễn ra rất yên lặng vì cặp vợ chồng ốc sên già không chịu được chuyện chè chén lẫn sự ồn ào. Ốc sên mẹ đọc một bài diễn văn cảm động – vì ông bố quá xúc động, và cặp vợ chồng trẻ nhận cả rừng cây ngưu bàng làm của hồi môn, cha mẹ nói, vì họ vẫn luôn nói thế, rằng là ở đó có cái tốt nhất trên đời, và rằng nếu bọn trẻ sống lương thiện, ngay thẳng và sinh sôi nảy nở, thì chúng và con cái chúng sẽ có một ngày vinh dự được mang đến lâu đài, được nấu chín và đặt lên một chiếc đĩa bạc.

Sau bài phát biểu này, những con ốc sên già lui lại trong vỏ của chúng và không bao giờ nhô ra ngoài nữa. Chúng yên giấc nghìn thu. Cặp vợ chồng trẻ trị vì khu rừng và có một đàn con cháu đông đúc nhưng chúng chẳng bao giờ được nấu chín và chẳng bao giờ có cái vinh dự đĩa bạc cả. Chúng kết luận rằng tòa lâu đài đã sụp đổ và mọi người trên trái đất đã chết hết.
Mưa vỗ trên những chiếc lá ngưu bàng để tặng cho chúng một buổi hòa nhạc của dàn trống, mặt trời chiếu sáng để ban cho những chiếc lá ngưu bàng một sắc mầu đẹp đẽ. Chúng rất hạnh phúc về điều đó, phải, cả gia đình sống thật hạnh phúc.

na9
21-11-2006, 10:26
liễu
Anfred de Musset
(trích đoạn)


Ngôi sao xanh ban chiều, nữ xứ giả phương xa,
Bỏ tấm voan hoàng hôn, mặt hiện ra lóng lánh,
Em nhìn gì trên bình nguyên đấy,
Từ cung điện xanh của em giữa bầu trời ?

Cơn bão lùi xa và những ngọn gió dịu dàng,
Rừng run rẩy thở than trên thạch thảo ;
Con bướm vàng bay ngang những nội cỏ
Ngát hương thơm trong cuộc đua duyên.

Trên mặt đất uể oải, em kiếm tìm chi ?
Mà phía núi ta đã thấy em sà xuống ;
Em trốn trong vẻ tươi cười, bạn gái u sầu hỡi,
Ánh mắt em run run sắp sửa phai nhoà.

Ngôi sao hạ xuống phía ngọn đồi xanh rì,
Giọt lệ bạc trên áo choàng đêm buồn bã,
Ngắm em từ xa, mục đồng đi chậm rãi,
Khi đoàn dài gia súc từng bước theo sau, -

Sao ơi, em biến đâu, trong đêm này mênh mông ?
Bên bờ nước em kiếm gì trong đám sậy ?
Em biến mất đâu đúng giờ tĩnh lặng
Rơi thật đẹp như ngọc trai giữa nước sâu ?

A ! Nếu phải tàn, tinh tú đẹp ơi, và nếu em đi
Ra biển lớn nhúng tóc vàng xuống đó,
Trước khi mình lìa xa, hãy dừng chỉ giây lát,
Ngôi sao tình yêu, đừng lặn khỏi bầu trời !
[...] :)

kiki
29-11-2006, 16:09
Lời tình yêu
Truyện ngắn của Guy de Maupassant (5/8/1850 – 6/7/1893)
kiki dịch

Chủ nhật.
Con gà trống to lớn yêu quý của em,
Anh chẳng viết cho em, em chả gặp anh nữa, anh chẳng bao giờ đến với em. Thế anh đã thôi yêu em rồi ư ? Tại sao ? Em đã làm gì ? Hãy nói em hay, em xin anh, người yêu quý giá của em ! Còn em, em vẫn yêu anh như thế, như thế, như thế ! Em muốn có anh luôn ở bên mình và ngày nào cũng ôm hôn anh, trao gửi anh, ôi trái tim của em, con mèo yêu dấu của em, mọi tên gọi dịu dàng đến với ý nghĩ của em. Em tha thiết yêu anh, tha thiết yêu anh, tha thiết yêu anh, ôi con gà trống đẹp mã của em.
Gà mái tơ của anh.
Sophie

Thứ hai.
Người bạn thân thiết của anh,
Em sẽ hoàn toàn không hiểu gì về những lời anh sắp nói. Mặc kệ. Nếu tình cờ bức thư của anh lọt vào mắt một người phụ nữ khác, nó có thể bổ ích với người ấy.
Nếu em câm và điếc, chắc chắn là anh sẽ yêu em lâu dài, lâu dài. Nỗi bất hạnh đến từ những lời em nói, tất cả là ở đó. Một nhà thơ đã nói :

Em chưa từng hiếm gặp nhất trên đời
Chỉ là nhạc cụ tầm thường dưới archet của anh đắc thắng,
Nơi khoảng trống tim em, anh khiến ước mơ mình hát
Như nơi miệng đàn guitar, một điệu nhạc ngân lên.

Trong tình yêu, em thấy không, người ta luôn khiến những ước mơ hát lên ; nhưng để những ước mơ hát lên, người ta không cần phải làm chúng đứt đoạn. Thế mà, khi người ta cất tiếng nói giữa hai nụ hôn, người ta luôn làm đứt đoạn ước mơ cuồng nhiệt mà những tâm hồn tạo ra, trừ phi nói những lời lẽ tuyệt vời, và những lời lẽ tuyệt vời không nảy nở trong những cái đầu bé nhỏ của những cô gái đẹp.

Em chả hiểu gì hết, có phải không ? Càng hay. Anh nói tiếp đây. Em chắc chắn là một trong những người phụ nữ quyến rũ nhất, đáng yêu nhất mà anh chưa thấy bao giờ. Liệu trên trái đất có cặp mắt nào chứa đựng nhiều mơ ước, nhiều hứa hẹn mới lạ, nhiều tình yêu bất tận hơn cặp mắt của em ? Anh không nghĩ thế. Và lúc miệng em cười với đôi môi đầy đặn phô ra hàm răng sáng, như thể từ cái miệng làm say lòng người ấy sắp sửa thốt ra một điệu nhạc khó tả nên lời, một cái gì đó ngọt ngào huyền hoặc, êm dịu đến thổn thức.

Thế rồi em bình thản gọi anh là : “Con thỏ to lớn yêu dấu của em”. Dường như anh bất ngờ xâm nhập vào đầu óc em, thấy sự vận hành của tâm hồn em, tâm hồn bé nhỏ của một người phụ nữ bé nhỏ xinh đẹp, xinh đẹp, nhưng điều đó làm anh khó chịu, em có biết không, rất khó chịu. Anh thà không thấy còn hơn.

Em vẫn không hiểu tí gì phải không ? Anh chắc thế.

Em có nhớ lần đầu em đến nhà anh không ? Em đột ngột bước vào với hương hoa violet tỏa ra từ váy áo ; chúng ta đã nhìn nhau thật lâu mà không nói một lời, rồi ôm hôn nhau như những kẻ điên cuồng… rồi… rồi đến tận hôm sau chúng ta cũng không hề nói.

Nhưng khi chúng ta từ biệt nhau, bàn tay chúng ta run rẩy và mắt chúng ta tự nói ra những điều, những điều mà người ta không thể diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ nào cả. Ít ra là anh đã tưởng thế. Và vừa từ biệt anh, em vừa thì thầm thật khẽ : “Hẹn sớm gặp lại !” – Đó là tất cả những gì em đã nói ; và em sẽ chẳng bao giờ hình dung ra ước mơ ấp ủ nào mà em đã để lại, mọi điều mà anh thoáng thấy, mọi điều mà anh ước đoán trong ý nghĩ của em.

Em biết không, em bé đáng thương của anh, bởi vì con người ta không phải là những con vật, hơi tinh tế, hơi cao cấp, nên tình yêu là một nhạc cụ phức tạp đến nỗi chẳng có gì làm rối loạn được nó. Còn chị em, những người phụ nữ khác, chị em chẳng bao giờ nhận thức được cái nực cười của một vài thứ khi chị em yêu và cái lố lăng của những biểu đạt mà chị em trót buột miệng.

Tại sao một lời thích đáng ở miệng của một phụ nữ tóc nâu nhỏ nhắn lại hết sức lệch lạc và hài hước ở miệng của một phụ nữ tóc vàng to béo ? Tại sao cử chỉ mơn trớn của người này lại không thích đáng ở người kia ? Tại sao một số vuốt ve duyên dáng của người này lại gây khó chịu ở người kia ? Tại sao ? Bởi vì trong tất cả mọi việc, nhất là trong tình yêu, cần phải có một sự hòa hợp hoàn toàn, một sự hài hòa tuyệt đối giữa cử chỉ, giọng điệu, lời nói, biểu lộ dịu dàng với chủ thể hành động, nói năng, biểu lộ, với tuổi tác, mức độ tầm vóc, mầu sắc của đôi mắt và diện mạo nhan sắc người ấy. Một phụ nữ ba mươi tuổi, độ tuổi có những đắm say lớn lao mãnh liệt, người chỉ giữ lại chút ít sự màu mè mơn trớn của những mối tình của mình năm hai mươi tuổi, người không hiểu rằng cần phải biểu lộ khác đi, ôm hôn khác đi, rằng cần phải là một Didon chứ không còn là một Juliette nữa, chắc chắn sẽ làm chín trên mười người tình chán ngấy ngay cả khi họ không nhận thấy lý do chán ghét của mình.

Em có hiểu không ? – Không à ? – anh mong thế lắm !

Kể từ hôm em mở miệng tuôn ra những lời âu yếm, với anh thế là hết đấy, bạn gái ạ.

Có lần chúng mình ôm hôn nhau năm phút, một nụ hôn bất tận duy nhất, say đắm, một trong những nụ hôn làm mắt phải nhắm vào, như là chúng có thể băm nát bằng cái nhìn, như để giữ gìn chúng trọn vẹn hơn trong tâm hồn u sầu mà chúng tàn phá. Rồi khi chúng mình tách môi ra, em vừa cười một nụ cười trong sáng vừa bảo anh là : “ Tuyệt, con cún của em !” Thế là anh đã đánh em.

Bởi vì em đã liên tiếp đặt cho anh mọi tên gọi của thú vật và rau cỏ mà chắc chắn là em đã tìm thấy trong những cuốn Chị đầu bếp trưởng giả, Người làm vườn hoàn hảo và Những nhân tố lịch sử tự nhiên dùng cho những tầng lớp dưới. Nhưng chuyện đó chả là gì nữa.

Cái mơn trớn của tình yêu thật hung tợn, có thú tính và còn hơn thế, khi người ta nghĩ về nó. Musset (*1) đã nói :

Anh vẫn nhớ những co thắt khủng khiếp,
Những cơ bắp dữ dằn, Những nụ hôn câm lặng.
Của người bị thu hút, tái xanh và hàm răng nghiến chặt.
Nếu không phải tuyệt trần, những lúc ấy thật là kinh khủng.

Hay là lố lăng !... Ôi ! em bé đáng thương của anh, tài năng bông lơn nào, trí tuệ tai ác nào đã có thể gợi cho em những lời em nói ở đoạn kết vậy ? Anh đã chịu đựng chúng rất nhiều, nhưng vì tình yêu với em, anh đã không để lộ ra.

Và rồi em đã sai lầm thật đúng lúc, và em đã tìm được cách buông ra một “Em yêu anh !” cuồng nhiệt trong những dịp nào đó đặc biệt đến nỗi nó khiến anh phải kìm lại những cơn tức cười dữ dội. Có những lúc câu “Em yêu anh” này không đúng chỗ đến nỗi nghĩa rõ ràng của nó thành ra không tưởng tượng được.

Nhưng mà em chẳng hiểu anh đâu.

Nhiều phụ nữ cũng không hề hiểu anh và cho là anh ngu ngốc. Dù vậy, có hề chi. Những người phàm ăn ăn uống một cách tham lam, nhưng những người khó tính thì tế nhị, và họ thường ủng hộ ít món vì những nỗi chán ghét không sao cưỡng nổi. Chuyện tình yêu cũng như nghệ thuật nấu ăn vậy.

Điều mà anh không hiểu, chẳng hạn như những người phụ nữ nào đó, người mà biết rất rõ sự quyến rũ không sao cưỡng được của những đôi tất dài bằng lụa mịn màng có thêu thùa, sự lôi cuốn tuyệt vời của những sắc thái, sự mê hoặc của những dải đăng ten quý giá khuất sâu ở trang phục bên trong, sự thú vị khêu gợi của những bí mật xa xỉ của lớp lót tinh tế và mọi nét nhẹ nhàng tế nhị của vẻ duyên dáng nữ tính, lại chẳng bao giờ hiểu được nỗi ngao ngán không sao cưỡng nổi mà những lời không đúng chỗ hay những luyến ái ngớ ngẩn gây ra cho chúng tôi. Một từ thú tính đôi khi có tác dụng tốt, quất vào da thịt, làm con tim nẩy lên. Những từ ấy được phép trong thời chiến. Từ ấy của Cambronne (*2) không tuyệt vời sao ? Chẳng có gì gây chướng nếu đến đúng lúc. Nhưng cũng cần phải im lặng và tránh những lời nói kiểu cách của Paul de Kock (*3) trong những lúc nào đó.

Và anh ôm hôn em đắm đuối miễn là em đừng nói.
René.

Chú thích :
(*1) Alfred de Musset (11/12/1810 – 02/05/1857) là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch Pháp.
(*2) Pierre Jacques Étienne Cambronne, còn gọi là Tử tước Cambronne (26/12/1770 – 29/1/1842), là một vị tướng của Đế chế Pháp. Ông đã chiến đấu trong suốt những cuộc chiến tranh Cách mạng và thời đại Napoleon. Người ta khẳng định rằng trước sự nài ép của người Anh, ông đã trả lời bằng cách văng ra từ mà ngày nay được biết đến như “Từ của Cambronne” : Merde! Việc này xảy ra sau khi đại tá Anh Hugh Halkett, người chỉ huy lữ đoàn Hanover số 3, bắt giữ Cambronne. Chuyện Cambronne lúc đó bị thương nặng và bị người Anh tống ngục sau trận chiến là đích xác. Còn chuyện “Từ của Cambronne” dù có thật hay không thì cũng đã trở nên liên đới tới ông một cách không thể gột rửa được do được đề cập đến trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của Victor Hugo và vở kịch “Đại bàng con” - chỉ Hoàng đế Pháp Napoléon II - của Edmond Rostand. Tuy nhiên trong phần còn lại của cuộc đời mình, Cambronne đã từ chối sử dụng từ này.
(*3)Charles Paul de Kock (21/5/1793 – 27/4/1871) là nhà tiểu thuyết Pháp và tác giả của nhiều libretto cho opera.

:D :D :D :D :D :D :D :D :D

na9
05-12-2006, 19:54
Bàn tay Elsa
Thơ : Louis Aragon
Triomphe dịch tặng kiki :)

Đưa tay cho anh nào, thay vì lo lắng
Bàn tay anh từng mơ ước biết bao
Từng mơ ước biết bao trong cô đơn
Đưa tay em đây để anh được cứu.

Trong khốn khó, cầm tay em anh thấy
Lo sợ, vội vàng và xúc động nơi anh
Như là tuyết tan cả trong tay
Lúc mà anh nắm bàn tay em đó.

Có bao giờ em hiểu được chứ
Những gì thấm vào, chiếm lĩnh, xáo trộn anh
Có bao giờ em hiểu được chứ
Cái thấu suốt anh, anh để lộ điều gì.

Cái nói được cả ngôn ngữ thâm trầm
Cách thổ lộ lặng câm bằng giác qua sống động
Chẳng miệng nói, chẳng mắt gương hay bóng ảnh
Cái rung động ái tình chẳng có lời đâu.

Có bao giờ biết ngón tay nghĩ chi
Khoảnh khắc nắm giữ một con mồi ở giữa
Có bao giờ em hiểu sự nín câm của chúng
Sau một tia chớp từ vô thức ngộ ra.

Đưa tay em đây để tim anh được sinh
Để thế giới lặng im dù chốc lát
Đưa tay em đây để hồn anh yên ắng
Để hồn anh yên ắng đời đời.

garden1478
10-12-2006, 01:41
Mình mới đọc xong ,thấy cũng hay nên giới thiệu ( Mình đọc sách chứ không đọc ebook).
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n2nmnvn31n343tq83a3q3 m3237n1n&cochu=

kiki
20-12-2006, 10:09
Ánh trăng _ Clair de lune
Guy de Maupasant
kiki dịch

Ghi chú : Maupassant sáng tác 2 truyên ngắn cùng có tên Clair de lune. Clair de lune kia đã rất nổi tiếng ở Việt Nam qua bản dịch của Lê Hồng Sâm với tiêu đề Sáng trăng. Rất tiếc là kiki chưa tìm được bản dịch này trên mạng để mời các bạn đọc, gõ lại từ sách thì ngại wá ...

Phu nhân Julie Roubère đang đợi người chị cả của mình là phu nhân Henriette Létoré trở về từ một chuyến đi Thụy Sỹ.
Vợ chồng Léteré đã đi được gần năm tuần lễ. Để mặc chồng một mình quay về trang trại của họ ở Cavados nơi có những quyền lợi đang đòi hỏi, Henriette đến nhà em gái mình ở Paris vài ngày.
Chiều xuống. Trong phòng khách nhỏ, bình dị, mờ tối bởi hoàng hôn, phu nhân Roubère ngồi đọc, lơ đễnh, mọi tiếng động đều khiến nàng nhìn lên.
Cuối cùng chuông cũng reo và người chị gái xuất hiện, trùm kín hoàn toàn trong tấm áo rộng đi đường. Và ngay tức khắc, không chỉ nhận ra nhau, họ ôm chặt nhau nồng nhiệt, tạm ngừng để rồi lại bắt đầu ôm hôn nhau tiếp.
Rồi họ chuyện trò, hỏi han về sức khỏe, gia đình của nhau cùng hàng nghìn chuyện khác, miệng liến thoắng, tuôn ra những lời dồn dập, đứt đoạn, người nọ tiếp sau người kia, trong khi Henriette gỡ mạng và mũ.
Đêm đã xuống. Phu nhân Roubère rung chuông gọi mang đèn, và ngay khi có ánh sáng, nàng ngắm nhìn chị gái của mình, sắp sửa ôm hôn nữa. Nhưng nàng vẫn ở nguyên, hoảng hốt, không thốt lên lời. Trên thái dương của phu nhân Létoré, có hai món tóc bạc lớn. Phần còn lại của mái đầu có mầu muối tiêu ; song chỉ ở chỗ đó, từ hai bên đổ xuống tựa hai dòng suối bạc chảy ngay vào trong đám tóc sẫm màu. Thế mà nàng mới hai mươi tư tuổi và chuyện này xảy đến đột ngột từ chuyến đi Thụy Sỹ. Bất động, phu nhân Roubère nhìn thẫn thờ, sắp sửa khóc như có một nỗi bất hạnh bí ẩn và khủng khiếp nào đó đã ập xuống chị gái mình ; và nàng hỏi :
- Có chuyện gì thế chị Henriette ?
Cười một nụ cười buồn bã, một nụ cười ốm yếu, người kia đáp :
- Chẳng có gì đâu mà, chị cam đoan đấy. Em nhìn thấy món tóc bạc của chị à ?
Nhưng phu nhân Roubère hăng hái nắm chặt lấy vai chị nàng, nhìn sâu vào mắt và lặp lại :
- Chị có chuyện gì ? Nói cho em hay chị có chuyện gì. Và nếu chị nói dối, em sẽ biết rõ.
Họ vẫn còn đối diện với nhau, và phu nhân Henriette biến sắc xanh xao và yếu ớt, lệ từ khóe mắt rớt xuống :
Người em gái lặp lại :
- Chuyện gì xảy đến với chị ? chị có chuyện gì ? Trả lời em đi ?
Thế là bằng giọng cam chịu, người kia thì thào :
- Chị… chị có nhân tình.
Và úp mặt lên vai người em út, nàng òa khóc nức nở.
Rồi khi nàng đã bình tâm hơn một chút, lúc những tiếng nấc từ ngực nàng nguôi đi, nàng bắt đầu nói ngay, như để trút bỏ bí mật này khỏi mình, thổ lộ nỗi đau đớn này vào một tấm lòng bè bạn,
Thế là cùng nắm tay nhau xiết chặt, hai người phụ nữ đi tới ngồi lún trên chiếc tràng kỉ trong góc tối của phòng khách, và người trẻ hơn quàng cánh tay lên cổ chị, ôm chị vào lòng, lắng nghe.
- Ôi ! chị thừa nhận là vô lý ; chính chị cũng không hiểu nổi mình, và chị phát điên lên từ ngày đó. Hãy coi chừng, em bé bỏng, hãy coi chừng bản thân mình ; giá mà em biết được rằng chúng ta yếu đuối, nhún nhường, sa ngã nhanh đến thế nào ! Chẳng cần gì cả, chỉ cần một chút mủi lòng, chỉ cần một chút u sầu đột nhiên tràn qua cõi lòng, chỉ cần chút thiết tha được mở rộng vòng tay yêu dấu và ôm ấp, mà chúng ta lại có tất cả những cái đó, vào khoảnh khắc nào đó.
Em biết chồng chị đấy, và em biết là chị yêu anh ấy đến mức nào ; song anh ấy chín chắn và lí trí, không hiểu chút gì về tất cả những rung động dịu dàng của trái tim phụ nữ. Anh ấy luôn luôn, luôn luôn như thế, luôn tốt bụng, luôn tươi cười, luôn hài lòng, luôn hoàn hảo. Ôi ! đôi lúc chị mong muốn biết bao được anh ấy đột nhiên ôm chặt trong vòng tay, được anh ấy hôn bằng những nụ hôn dịu dàng và chậm rãi, hòa hợp hai con người, giống như những trao gửi riêng tư thầm lặng, chị đã mong muốn biết bao rằng anh ấy có những lúc bơ vơ, cả yếu đuối nữa, cần có chị, cần những vuốt ve của chị, cần những giọt nước mắt của chị !
Tất cả những cái đó thật ngốc nghếch ; nhưng chúng ta là như thế, chúng ta khác họ. Ai có thế cho chúng ta những cái đó ?
Và mặc dù thế, chị chưa từng có ý nghĩ đánh lừa anh ấy. Ngày hôm nay, điều đó đã đến, không tình yêu, không lý trí, chẳng có gì cả ; bởi vì có một đêm trăng trên hồ Lucerne.
Từ một tháng nay vợ chồng chị đi du lịch cùng nhau, vẻ điềm tĩnh thản nhiên của anh ấy làm tê liệt những nhiệt tình của chị, làm lụi tàn những niềm hứng khởi trong chị. Vậy là vào lúc bình minh, trên một cỗ xe tứ mã chở khách phóng nước kiệu, bọn chị xuôi xuống sườn đồi. Trong làn hơi nước trong suốt của ban mai, những thung lũng dài, những cánh rừng, những dòng sông, những làng mạc đang dần hiện ra, chị vỗ tay, thích thú nói với anh ấy :” Đẹp làm sao, bạn ơi, ôm hôn em đi nào !”, anh ấy đáp lại với một nụ cười khoan dung và lạnh lùng, hơi nhún vai : “Không phải là lý do để ôm hôn, chỉ vì quang cảnh làm vừa lòng em.”
Và điều đó làm chị băng giá tới tận cõi lòng. Thế mà với chị, dường như khi người ta yêu, người ta phải luôn có khao khát được ôm hôn còn hơn thế trước những cảnh tượng cảm động.
Cuối cùng, niềm thi hứng trong chị bị anh ấy ngăn cản tuôn trào trở nên sôi sục. Chị đã nói gì với em nhỉ ? Chị gần giống như một cái nồi đầy hơi đóng kín mít.
Một buổi tối (bọn chị đã ở tại khách sạn Fluelen được bốn ngày), Robert, bị chứng đau nửa đầu, lên nằm nghỉ ngay sau bữa tối, còn chị một mình đi dạo bên bờ hồ.
Đó là đêm của chuyện thần tiên. Mặt trăng tròn vành vạnh lồ lộ giữa bầu trời ; những trái núi tuyết lớn dường như phủ bạc, còn mặt nước, vô cùng lóng lánh, có những gợn sóng nhỏ lung linh. Không khí êm dịu, ấm áp thấm vào người khiến ta trở nên uể oải đến yếu mềm, khiến ta xúc động vô cớ. Một tâm hồn mới nhạy cảm và xao xuyến làm sao trong những khoảnh khắc đó ! Nó mới mau rung động và cảm nhận mạnh mẽ làm sao !
Chị ngồi trên cỏ và ngắm nhìn mặt hồ rộng, u buồn và đẹp đẽ ; và một điều lạ lùng đã xảy ra trong chị : một nỗi khao khát yêu đương vô hạn, một nỗi kích động chống lại sự nhạt nhẽo ủ ê của cuộc đời đã đến với chị. Vậy mà sao chị chưa từng được ở trong vòng tay của người đàn ông yêu dấu đi dọc một bờ nước ngập tràn ánh trăng ? Chưa từng cảm thấy trên mình những nụ hôn sâu thăm thẳm, tuyệt diệu và bàng hoàng người ta vẫn trao nhau trong những buổi đêm êm ái mà Chúa Trời dường như đã tạo ra dành cho những âu yếm ? Chưa hề được xiết chặt say sưa bởi một vòng tay đắm đuối trong ánh sáng mờ tỏ của một tối mùa hè ?
Và chị bắt đầu khóc như một con điên.
Chị nghe thấy tiếng động ở phía sau. Một người đàn ông đứng đó đang nhìn chị. Lúc chị quay đầu lại, anh ta nhận ra chị và tiến đến :
- Bà khóc ư, thưa bà ?
Đó là một luật sư trẻ đi du lịch cùng mẹ mà bọn chị đã gặp nhiều lần. Anh ta thường giõi mắt theo chị.
Chị hoảng hốt đến nỗi chẳng biết trả lời, hành động thế nào cả. Chị đứng lên và tự nhủ phải chịu đựng.
Anh ta bắt đầu bước tới gần chị, bằng một phong thái tự nhiên và kính cẩn, rồi nói chuyện với chị về chuyến du lịch. Tất cả những gì chị đã cảm kích, anh ta đều bày tỏ ; tất cả những gì khiến chị chị rung động, anh ta đều thấu hiểu như chị, còn hơn cả chị nữa. Và bỗng nhiên anh ta đọc cho chị nghe những câu thơ, những câu thơ của Musset. Một cảm xúc khó diễn tả khiến chị ngạt thở. Với chị dường như chính những núi non, hồ nước, ánh trăng đang ngợi ca những gì êm đềm khó nói lên lời …
Và chuyện ấy đã xảy ra mà chị không hiểu vì sao và thế nào, trong một kiểu ảo giác…
Về phần anh ta…, chị chỉ gặp lại anh ta vào hôm sau, lúc khởi hành.
Anh ta đưa cho chị danh thiếp của mình !...
Và phu nhân Létoré, vừa rũ xuống trong vòng tay người em gái vừa thốt ra những tiếng rên rỉ, gần như là kêu la.
Thế là phu nhân Roubère tĩnh tâm lại, nghiêm trang, tuyên bố một cách hết sức dịu dàng :
- Chị thấy không, chị gái, nhiều khi chúng ta yêu không phải người đàn ông mà là yêu tình yêu. Và tối hôm đó, chính ánh trăng mới là người tình đích thực của chị.
Ngày 1 tháng 7/1882

Apomethe
06-01-2007, 18:49
Mở rộng phạm vi hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc sang các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật khác, bây giờ chúng ta sẽ bình loạn tranh ảnh, sách truyện, phim phọt.


http://www.nhaccodien.info/forum/attachment.php?attachmentid=80&stc=1&d=1168084039


Chồng của An Mi mất trên một đoạn đèo, không có công việc và người quen trên đoạn đường đó, không ai hiểu cái chết của anh. Đau khổ vì mất chồng, An Mi muốn tìm đến cái chết, nhưng cô không muốn một cái chết vô nghĩa, cô bắt đầu cuộc hành trình đi tìm bản thân mình để có thể biết mình là ai, để biết ai là người sẽ chết. Cô tìm kiếm mình bằng những cuộc hành trình trên các chuyến tàu, nói chuyện với những người xa lạ để tìm đến được sự thật. Nhưng sự thật là cái gì, liệu trên đời có tồn tại sự thật đứng riêng lẻ mà không kèm theo nó một ý nghĩa hoặc một con người. Trong cuộc tìm kiếm sự thật cho bản thân, An Mi đã tình cờ tìm kiếm sự thật cho cả người khác. Sự thật được lắp ghép từ nhiều sự thật khác. Những người đã từng xem "Hạt mưa rơi bao lâu" cũng do Đoàn Minh Phượng viết kịch bản và đồng đạo diễn có thể dễ dàng nhận thấy điểm chung của hai tác phẩm. Đó chính là tìm kiếm sự thật, nhưng sự thật qua thời gian đã bị bóp méo và câu chuyện của mỗi người kể ra lại khác nhau. Nhưng họ đều tin nó là đúng. Với mỗi người, họ sẽ nhìn vào cùng một sự kiện với con mắt của họ sao cho câu chuyện có thể thỏa mãn được bản thân, nhưng nếu nó phù hợp với người này thì lại không phù hợp với người kia. Bởi trong mỗi người có một niềm tin và họ tin vào câu chuyện của mình tạo ra và coi đó là sự thật của mình. Liệu câu chuyện mà An Mi rút ra nó đã phải là sự thật chưa? Con người muốn biết sự thật để tìm đến sự thanh thản. Nhưng cho đến cuối cùng cô chợt nhận ra tận sâu trong ý thức mỗi người, cái ham muốn có được sự ấm êm và thoải mái đã khiến con người cố tình quên đi cái sự thật sâu xa, kể cả việc lãng quên người thân và cắt bỏ quá khứ của mình để tạo ra một cái sự thật riêng của bản thân, nó nhẹ nhàng và dễ chấp nhận hơn, họ có thể chui vào trong đó ẩn nấp, cố để che đậy cái mà họ không muốn tin, bởi tin vào thì có thể họ sẽ phải đau khổ. Nhưng sự thật thì có bao giờ là viên kẹo ngọt?

An Mi không chỉ tìm kiếm sự thật cho bản thân mình mà còn tìm sự thật cho Marcus bởi cậu bé cũng cần phải tìm lại chính mình. Những sự kiện trong quá khứ quá nặng nề đã làm cậu mất trí nhớ hoặc có thể trong chính tiềm thức sâu xa đã bảo cậu phải quên nó đi. Những cố gắng của An Mi để đưa cái mà cô cho là sự thật hoặc gần với sự thật nhất đến cho Marcus bị thất bại, bởi vì những người khác không muốn sự thật ấy được phơi bày khi nó đã bị chôn kín. Con người vẫn luôn tránh né với sự thật. An Mi đơn độc trong suốt cuộc hành trình của mình, cô đơn độc từ đầu câu chuyện cho đến khi kết thúc. Bởi cô đơn độc cho nên cô mới muốn kết thúc cuộc sống của mình. Các nốt nhạc không phải là âm nhạc mà giữa các nốt nhạc mới là âm nhạc. Con người cũng không thể tồn tại nếu có một mình, chính tình cảm giữa con người với nhau mới tạo nên ý nghĩa của cuộc sống. Thiếu nó thì con người tồn tại cũng không khác gì như đang chết, và mối quan hệ giữa người với người, tình cảm yêu ghét giận hờn đó tạo nên bản giao hưởng của cuộc sống, giữ cho họ ý muốn không lìa xa khỏi mặt đất này.

Cuộc hành trình nào cũng phải có kết thúc, và ngay trước cái kết thúc mà An Mi chọn cho mình, cô mới phát hiện ra cô cần phải sống với chính mình và cần phải trở về. Con người ta hóa ra cho đến những lúc cận kề với cái biên giới mong manh của sự sống mới nhận ra mình chỉ sống với thời gian và trí nhớ của người khác. An Mi muốn tìm kiếm bản thân, nhưng rồi lại bỏ thời gian để tìm Marcus, nhưng tất cả đều không được gì. Nhưng liệu nếu chỉ sống cho bản thân thì cuộc sống liệu còn ý nghĩa?

Khi bắt đầu chuyến đi, cô đã tự cắt hết những ràng buộc với cuộc sống trước đây, cô lang thang trên những chuyến tàu và không có nơi trở về. Nhưng ai cũng luôn có một nơi chốn, một quê hương, và một nơi để trở về khi đã mệt mỏi sau những chuyến đi dài ngày. Kết thúc tác phẩm không quá nặng nề để độc giả có thể chấp nhận được, có thể An Mi được cứu thoát, cũng có thể cô kết thúc theo đúng như những dự tính của mình ở đầu truyện. Đọc xong nhưng người đọc vẫn còn vương lại dư âm, buồn, ngẫm nghĩ và 2 câu thờ đề tựa vọng lại:
"Và khi tro bụi rơi về,
Trong thinh lặng đó, cận kề quê hương"

Để kết thúc, xin trích lại từ một manga: "Ai đã quyết định rằng loài chim là tự do. Mặc dù chúng có thể bay như chúng mong muốn, nhưng nếu không có một vùng đất để chúng đậu lại, hay một cành cây để đôi cánh chúng có thể nghỉ ngơi... chúng chắc sẽ phải hối tiếc rằng mình có một đôi cánh.
Tự do thực sự... có lẽ nghĩa là có một nơi để trở về..."

Mọi người có thể down truyện này về để đọc (Nếu có điều kiện thì nên ra ngoài hiệu sách để mua về, dù sao đọc sách thì vẫn thích hơn e-book nhỉ :D)
http://www.classicalvietnam.info/misc/Va_khi_tro_bui.pdf

kiki
17-01-2007, 17:13
Đợi chờ
Truyện ngắn của Guy de Maupassant (11/11/1883)
kiki dịch (24/6/2005)

Người ta trò chuyện, giữa đàn ông với nhau, sau bữa tối trong phòng hút thuốc. Người ta nói về những gia tài bất ngờ, về những món thừa kế kỳ lạ. Thế là luật sư Le Brument mà người ta gọi khi thì là luật sư lừng danh, khi thì là thầy cãi lừng danh, tới dựa lưng vào lò sưởi.
“Lúc này tôi có việc phải tìm kiếm một người thừa kế đã mất tích trong trường hợp đặc biệt khủng khiếp, ông nói. Đó là một trong những thảm kịch giản đơn và tàn bạo trong đời thường ; một câu chuyện có thể xảy ra hàng ngày, tuy nhiên là một trong những bi kịch ghê sợ nhất mà tôi biết. Nó là thế này :”
“Tôi được gọi tới, cách đây gần sáu tháng, bên một người hấp hối. Bà ta bảo tôi :
“Thưa ngài, tôi muốn ủy thác cho ngài một nhiệm vụ tế nhị nhất, khó khăn nhất và lâu dài nhất. Xin ngài vui lòng tìm hiểu di chúc của tôi kia, để trên bàn ấy. Nếu ngài không thành công, số tiến năm ngàn frăng được để lại cho ngài, như một khoản danh dự, còn nếu ngài thành công, số tiền sẽ là một trăm ngàn frăng. Cần phải tìm thấy con trai tôi sau khi tôi chết.”
Bà ta xin tôi giúp mình ngồi lên trên giường để nói cho dễ hơn bởi giọng bà đứt đoạn, hụt hơi, rin rít trong cổ họng.
Tôi thấy mình ở trong một ngôi nhà rất giàu có. Căn phòng xa hoa, một sự xa hoa giản dị, được nhồi nệm bằng vải dày như những bức tường, êm ái với con mắt đến nỗi chúng tạo ra một cảm giác ve vuốt, lặng lẽ đến nỗi lời nói ra được hấp thụ vào và tan biến đi ở đó.
Người hấp hối nhắc lại :
“Ngài là người đầu tiên được tôi kể câu chuyện khủng khiếp của mình. Tôi sẽ gắng sức để kể đến hết. Ngài không cần biết gì cả chỉ cần biết ngài là người hảo tâm đồng thời là một con người, để có mong muốn chân thành giúp tôi với tất cả khả năng của mình.
“Hãy nghe tôi.
“Trước khi tôi cưới, tôi đã yêu một chàng trai trẻ mà gia đình tôi đã gạt bỏ lời câu hôn bởi anh ấy không đủ giàu. Sau đấy ít lâu, tôi đã cưới một người rất giàu. Tôi đã cưới vì dốt nát, vì sợ hãi, vì vâng lời với sự uể oải như những cô gái thường làm.
Tôi đã có một đứa con, một cậu con trai. Sau vài năm, chồng tôi qua đời.
Cái người mà tôi từng yêu đến lượt mình cũng đã kết hôn. Khi tôi ở góa, việc anh ấy không còn tự do nữa gây cho tôi một nỗi đau đớn khủng khiếp. Anh ấy đến thăm tôi, anh ấy nức nở than vãn trước tôi làm lòng tôi tan nát, anh ấy trở thành bạn tôi. Lẽ ra tôi không nên tiếp đón anh ấy. Ngài muốn gì cơ ? Tôi một mình, rất buồn bã, rất cô đơn, rất tuyệt vọng ! Và tôi vẫn còn yêu anh ấy. Như đôi khi người ta vẫn phải chịu !
Tôi chỉ có anh ấy ở trên đời, bố mẹ tôi cũng chết cả rồi. Anh ấy đến thường xuyên ; Anh ấy ở bên tôi cả buổi tối. Tôi không nên để anh ấy đến quá thường xuyên vì anh ấy có vợ rồi. Song tôi không có sức mạnh để ngăn được anh ấy.
“Tôi đã nói gì ấy nhỉ ?...Anh ấy trở thành tình nhân của tôi ! Điều đó đã xảy ra như thế nào ? Tôi biết được ư ? Phải chăng ngài nghĩ là có thể khác được khi hai con người bị đẩy vào nhau với sức mạnh không sao cưỡng nổi bởi tình yêu bị chia lìa ? Phải chăng ngài nghĩ là người ta có thể luôn chống cự, luôn đấu tranh, luôn khước từ những đòi hỏi với những cầu xin, những năn nỉ, những giọt lệ, những lời thảng thốt, những quỳ gối, những hăng say mê đắm của con người mà ta yêu, mà ta muốn thấy hạnh phúc trong chút ít ước ao của người ấy, mà ta muốn dồn dập trao cho mọi niềm sướng vui có thể và người mà ta làm thất vọng để tuân theo danh dự của con người. Sức mạnh nào, sự từ bỏ hạnh phúc nào, sự hy sinh nào và cả tính ích kỷ vì đức hạnh nào, cần phải có đây ?
“Cuối cùng, thưa ngài, tôi là tình nhân của anh ấy và tôi hạnh phúc. Trong mười hai năm, tôi đã hạnh phúc. Tôi đã trở thành bạn của vợ anh ấy, và đó là sự yếu đuối lớn nhất và hèn hạ nhất của tôi.
Chúng tôi cùng nhau nuôi dạy con trai tôi, chúng tôi dạy cháu thành một người đàn ông, một người đàn ông thực sự, thông minh, đầy tình cảm và ý chí, đầy tư tưởng hào phóng và rộng rãi. Nó đã mười bẩy tuổi.
Nó, một chàng trai trẻ, yêu quý tình nhân của tôi gần bằng chính tôi yêu anh ấy bởi vì nó được hai chúng tôi cùng yêu quý và săn sóc ngang nhau. Nó gọi anh ấy là “bạn tốt” và kính trọng anh ấy hết sức bởi anh ấy đã cho nó toàn những bài học khôn ngoan và là tấm gương về sự thẳng thắn, danh dự và trung thực. Nó xem anh ấy như một người bạn già giặn, trung thành và tận tâm của mẹ nó, như kiểu một người cha tinh thần, đỡ đầu và che chở nó theo như tôi biết chăng ?”
“Có lẽ nó chẳng bao giờ hỏi han gì, từ tuổi nhỏ nó đã quen với việc thấy người đàn ông này ở trong nhà, ở bên tôi, ở bên nó, luôn quan tâm đến chúng tôi.
“Một buổi cả ba chúng tôi phải ăn tối cùng nhau (đó là những cuộc liên hoan lớn nhất của tôi ), và tôi chờ hai người, tự hỏi ai sẽ là người đến trước. Cánh cửa mở ra ; đó là người bạn già của tôi. Tôi đi về phía anh ấy, vòng tay dang rộng ; và anh ấy đặt lên môi tôi một nụ hôn dài hạnh phúc.
“Đột nhiên, một tiếng động, một tiếng sượt qua, gần như không, cảm giác bí ẩn này chỉ ra sự có mặt của ai đó, khiến chúng tôi rùng mình và choáng váng quay lại. Jean, con trai tôi đứng đó, tái mét, đang nhìn chúng tôi.
“Một giây phút hoảng hốt ghê gớm. Tôi lùi lại, giơ tay về phía con mình như một lời cầu xin. Tôi không nhìn thấy nó nữa. Nó đã bỏ đi.
“Chúng tôi vẫn còn đối mặt nhau, rụng rời, không thốt nên lời. Tôi sụp xuống một chiếc ghế bành, và tôi thèm khát, một nỗi thèm khát khó tả và mạnh mẽ, được chạy trốn, được ra đi trong đêm tối, được biến mất mãi mãi. Rồi những tiếng nức nở giần giật dâng đầy trong cổ tôi, tôi khóc, nấc lên bởi những cơn co thắt, lòng đau xé, mọi dây thần kinh bị vặn xoắn bởi cảm giác kinh khủng về một nỗi bất hạnh không sao cứu vãn được và bởi một nỗi hổ thẹn khủng khiếp đã ập xuống trái tim của một người mẹ vào những lúc như thế.
Anh ấy vẫn còn hốt hoảng trước tôi, không dám đến gần, không dám nói với tôi cũng như không dám chạm vào tôi vì sợ rằng con tôi trở lại. Cuối cùng anh ấy bảo :
“Anh sẽ đi tìm nó…nói với nó…làm nó hiểu…rốt cục anh phải gặp nó, phải cho nó biết…”
Và anh ấy đi ra.
Tôi chờ đợi…tôi sốt ruột chờ đợi, run rẩy bởi những tiếng động nhỏ, cảm giác sợ hãi dâng lên và tôi biết thế nào là cảm xúc khó tả và không chấp nhận nổi đối với mỗi tiếng tí tách nho nhỏ của ngọn lửa trong lò sưởi.
Tôi đợi một giờ, hai giờ, cảm thấy nỗi lo sợ lạ lùng trong lòng mình lớn dần lên, một nỗi kinh hoàng như thể trong mười phút đó sẽ có một tội ác lớn nhất của loài người mà tôi chẳng hề mong muốn. Con tôi ở đâu ? Nó đã làm gì ?
Khoảng nửa đêm, một người môi giới mang cho tôi một bức thư của tình nhân tôi. Tôi vẫn thuộc lòng nó.
“Con trai bà đã về chưa ? Tôi không tìm thấy cậu ấy. Tôi ở dưới. Tôi không thể lên vào giờ này.”
“Tôi viết bằng bút chì cũng trên tờ giấy đó :
“Jean chưa về ; anh phải tìm thấy nó.”
“Và cả đêm tôi chờ đợi trên chiếc ghế bành.
“Tôi trở nên điên rồ. Tôi thèm muốn được gào rú, chạy nhảy và lăn lộn trên đất. Và tôi không nhúc nhích chút nào, vẫn luôn chờ đợi. Cái gì sẽ đến ? Tôi tìm cách đoán biết. Nhưng mặc những nỗ lực của tôi, mặc những dằn vặt của lòng tôi, tôi không hề dự kiến được điều đó !
Tôi sợ giờ họ chẳng khôi phục tình cảm với nhau . Họ đã làm gì ? Đứa trẻ đã làm gì ? Có những ngờ vực khủng khiếp xé nát lòng tôi, bằng những giả thiết tệ hại.
“Ngài hiểu rõ chuyện đó chứ, thưa ngài ?
“Cô hầu phòng của tôi không biết gì cả, không hiểu gì cả, đã đến luôn vì tin chắc là tôi bị điên. Tôi dùng điệu bộ hay lời nói đuổi cô ta đi. Cô ta đi tìm một thầy thuốc người thấy tôi đang điên loạn trong một cơn khủng hoảng thần kinh.
“Người ta đặt tôi lên giường. Tôi bị viêm não.
Khi tôi lấy lại được ý thức sau một trận ốm dài, tôi nhận ra một mình tình nhân của tôi ở bên giường. Tôi kêu lên : “ Con trai em ?...con trai em đâu ?” Anh ấy chẳng trả lời. Tôi ấp úng :
“Chết rồi..chết rồi..nó đã bị giết ư ?”
“Anh ấy đáp:
“Không, không, Anh thề đấy. Nhưng bọn anh đã đã không thể đuổi kịp nó dù anh đã cố gắng.”
“Thế là tôi tuyên bố, trong một cơn bực mình đột ngột và cả phẫn nộ nữa, bởi người ta có những cơn giận dữ phi lý và không thể giải thích được :
“Tôi cấm anh trở lại gặp tôi nếu anh không tìm thấy nó ; hãy đi đi.”
“Anh ấy ra đi. Tôi đã không hề gặp lại họ, cả người này lẫn người kia, thưa ngài, tôi đã sống như thế từ hai mươi năm nay.
“Ngài nghĩ gì về chuyện đó ? Ngài có hiểu được khổ hình kinh khủng này, nỗi đau đớn thường trực và chậm rãi nơi trái tim người mẹ, trái tim người đàn bà của tôi, một sự đợi chờ tệ hại và vô tận...vô tận !...Không…nó sắp chấm dứt…vì tôi chết. Tôi chết mà không gặp lại họ…cả người này lẫn người kia !
Anh ấy, người bạn của tôi, từ hai mươi năm nay viết cho tôi hàng ngày ; còn tôi, tôi chưa bao giờ muốn gặp lại anh ấy ngay cả trong giây lát. Bởi với tôi dường như anh ấy trở về đây đúng vào lúc tôi thấy sự xuất hiện trở lại của con tôi ! Con tôi ! Con tôi ! – Nó chết rồi ư ? Nó còn sống không ? Nó trốn ở đâu ? Có thể là bên kia đại dương, ở một xứ sở xa xôi đến nỗi tôi không biết cả tên gọi nữa ! Nó có nghĩ đến tôi không ?... Ôi ! Giá mà nó biết được ! Những đứa con mới độc ác làm sao ! Nó có hiểu được khổ hình khủng khiếp mà nó đã kết án tôi không ? Có hiểu được nó đã đẩy tôi, mẹ nó, vẫn còn trẻ và là người yêu nó với tất cả sự mãnh liệt của tình mẫu tử, phải sống trong nỗi thất vọng, nỗi dằn vặt nào không ? Thật độc ác phải không, ngài nói đi ?
“Ngài sẽ nói với nó tất cả những điều đó, thưa ngài, ngài hãy nhắc lại với nó những lời cuối cùng của tôi :
“Con ơi, con yêu quý của mẹ ơi, hay bớt tàn nhẫn với những con người đáng thương. Cuộc đời đã đủ tàn bạo và khắc nghiệt rồi ! Con yêu quý, hãy nghĩ đến cuộc đời đã qua của mẹ con, người mẹ khốn khổ của con kể từ ngày con bỏ đi. Con yêu quý của mẹ, hãy tha thứ cho ông ấy, và hãy yêu thương người mà giờ đây đã chết, bởi bà ấy đã phải chịu một sự sám hối khủng khiếp nhất.” Bà ta thở hổn hển, run rẩy như thể nói với đứa con đang đứng trước mình. Rồi bà ta nói thêm :
“Ngài nói tiếp với nó, thưa ngài, rằng tôi không hề gặp lại…người kia.” Bà ta nín lặng rồi tiếp tục bằng một giọng đứt đoạn :
“Giờ xin ngài hãy để tôi lại. Tôi muốn chết một mình, bởi vì họ không ở bên tôi.”
Luật sư Le Brument nói thêm :
“Và thưa các ngài, tôi vừa đi ra vừa khóc như một kẻ ngốc, khóc to đến nỗi người đánh xe của tôi phải quay lại nhìn tôi.
“Và phải nói là, hàng ngày, xung quanh chúng ta xảy ra hàng lô bi kịch như thế !
Tôi đã không tìm thấy người con…người con ấy…Cứ nghĩ như các ngài muốn ; còn tôi, tôi cho là người con ấy… là kẻ có tội.”

na9
17-01-2007, 20:00
Người rung chuông
Stéphane Mallarmée (*)


Tuy tiếng chuông cất lên trong vắt
Với vẻ tinh khôi và sâu lắng của ban mai
Băng qua đứa trẻ đã ném cho vui.
Hồi cầu nguyện Đức Bà giữa oải hương và bách lý.


Cánh chim lướt nhanh qua người kéo,
Vừa buồn bã đu người vừa rầm rĩ tiếng La tinh
Sợi dây lâu đời trên hòn đá kéo căng.
Chỉ nghe thấy tiếng chuông xa vọng xuống.


Tôi là người này. Than ôi ! từ đêm ao ước,
Để rung lên lý tưởng, tôi vô ích kéo thừng
Bộ bút lông trung thành nô rỡn với những tội lỗi lạnh lùng,


Lời chỉ đến với tôi lún sâu và vụn vỡ
Nhưng một ngày mệt mỏi vì đã căng hết cỡ
Sa tăng ôi, tôi sẽ treo mình sau khi gỡ đá ra.


(*) Stéphane Mallarmée cũng là tác giả bài thơ l'Après-Midi d'un faune (Buổi chiều của thần điền dã), cảm hứng cho Claude Debussy viết nên Prélude à l'après-midi d'un faune.

kiki
18-01-2007, 10:34
Vận rủi
Charles Baudelaire viết khoảng năm 1852
kiki dịch sáng nay


http://i128.photobucket.com/albums/p190/kikiTriomphe/Sisyphe.jpg

Để nâng một trọng lượng nặng thế,
Sisyphe, cần có lòng can đảm !
Dù ta hăng hái với tác phẩm,
Nghệ thuật thì dài còn thời gian ngắn thôi.

Cách xa những mộ phần tiếng tăm,
Hướng về một nghĩa trang biệt lập,
Như cái trống vênh, tim ta sẽ đập,
Những hành khúc lễ tang.

Nhiều châu ngọc lặng lẽ chôn vùi
Trong những tối tăm và quên lãng
Cách rất xa các máy dò và xẻng cuốc;

Rất nhiều hoa tiếc nuối tỏa lan
Mùi hương ngọt ngào như điều bí ẩn
Trong những nỗi cô đơn sâu thẳm.

Tuong Tien Tuu
18-01-2007, 10:42
Ờ thì truyện sáng tác này:

http://img.photobucket.com/albums/v248/home_nguoikechuyen/c896.jpg


Kiệt tác



“…Một cuộc chiến khốc liệt diễn ra trong gã. Lớp bóc tạm thời của khối gai cứ từng lúc tan chảy ra, nó lại làm gã đau nhói. Gã không thể hiểu nỗi những gì tưởng đã ngủ yên, đã lắng đi trong gã cứ từng lúc một lại nhích lên xâm chiếm từng đường tơ kẽ tóc trong mối xúc cảm, trong một ham muốn vượt bậc nào đó mà gã có thể định hình được - lại vẫn là kiệt tác, một bức hoạ trường tồn cùng thời gian. Loài người phải sợ hãi, phải trốn chạy khi chiêm ngưỡng bức tranh của gã…”


Gã nhoài người qua ô cửa sổ. Một con mèo đen chạy vụt qua, với tất cả tốc lực, gã phi cây cọ đang cầm trên tay vào giữa lưng con mèo. Con vật hơi oằn người lại, kêu lên một tiếng, ngoái cổ lại nhìn gã với ánh mắt đau đớn. Thoáng chốc bóng đen ấy mất hút sau bức tường xám xịt. Gã ngửa cổ cười sằng sặc, cục yết hầu to tướng trên cổ gã di chuyển liên tục theo mỗi tiếng cười phát ra. Bỗng nhiên tiếng cười ngừng bặt, gã quay ngoắt người lại, đôi mắt rực lên như có lửa. Gã lao tới bên giá vẽ, giơ năm ngón tay như năm chiếc móc sắt xé toạc bức hoạ với những vệt màu dang dỡ trên giá. Bằng động tác khéo léo, nhẹ nhàng như một thiếu nữ nâng niu một bông hoa đẹp, gã thay tấm toan mới, nhúng cả năm đầu ngón tay vào lọ màu, gã ngoáy tít mù. Trên tấm toan trắng từng mảng màu dần dần hiện lên, đỏ - đen, nóng - lạnh vần vũ quện xoáy vào nhau. Bàn tay cầm cọ như đang quất ngang bức vẽ. Ánh mắt gã man dại như đang đắm chìm trong một cơn mê , từng mạch máu trên khuôn mặt gã giựt giựt liên hồi. Gã như kẻ tội đồ đang gò lưng mang vác tất cả sức nặng và tội lỗi của thế giới hiện hữu. Con mèo đen khốn khổ đã trở lại, đang yên vị trên khung cửa sổ, chiếc đuôi dài ngoe ngẩy, lắc lư, cặp mắt sắc lạnh bí ẩn như một lưỡi dao giương lên nhìn gã một cách bình thản. Ánh nắng buổi chiều đã liếm dần xuống chân tường, tưới lên những mảng rêu bởi cái màu vàng nhờ nhợ, u ám đặc trưng của những buổi chiều tàn. Gã dừng bút khi bóng tối đã xâm chiếm gần hết căn phòng. Gã vung tay quăng cây cọ vào xó nhà, đưa hai bàn tay vuốt xuôi khuôn mặt như trút bỏ tội hình, khoé miệng gã hơi nhếch lên, ánh mắt đã trở lại trạng thái bình thường. Gã như vừa tỉnh lại sau một giấc ngủ đậy mộng mị. Gã bước tới bên khung cửa sổ, giơ bàn tay ra, con vật tội nghiệp dụi dụi mái đầu nhỏ bé đen mượt vào lòng bàn tay gã. Đêm trong lành yên ả, những dãy trường xuân đung đưa theo mỗi làn gió nhẹ, mùi của đêm huyền diệu và mướt mát. Bên khung cửa sổ, dưới ánh trắng kì ảo, lành lạnh với khuôn mặt nhìn nghiêng, trông gã đẹp như một bức tranh phù điêu Hi Lạp cổ xưa.

Đường Công Nguyên - một hoạ sĩ tài năng và quái dị. Gã được biết đến với những bức hoạ điên loạn, người xem có cảm giác như từng đợt thác lũ của cảm xúc đang trào lên trong tim, trái tim như bị bóp nghẹt trong một gọng kìm bằng sắt khi xem tranh gã. Những mảng màu như giằng co, độc chiếm vị trí trong cái tổng thể tưởng như rời rạc mà lại hoàn hảo một cách kì lạ ấy. Người ta gọi những bức tranh của gã là những bông hoa màu đen. Những kẻ nhiều rung cảm có thể nhìn thấy trong tranh gã một cái gì đó tựa như mầm sống, như cái đẹp đang cố ngoi lên từ những vũng đen của địa ngục. Kẻ hiểu biết ít thì im lặng, bị ám ảnh trong đau đớn bởi những bức tranh của gã. Kẻ ngu dốt thì lên tiếng phản bác, bài trừ gã nhưng vẫn phải nhìn xung quanh xem thái độ của mọi người đến khi nhận được cái nhìn thương hại của những kẻ im lặng thì co người lại, buộc phải gật đầu “Ừ, đẹp” dù trong thâm tâm vẫn không ngớt nguyền rủa những kẻ kia là lũ điên khùng.

Gã im lặng với tất cả lời khen lẫn tiếng chê, gã như một con thú khi bị thương thì tự tìm vào hang chữa lành vết thương. Không ai đọc được hay nắm bặt được gì ở con người gã, gã như một câu hỏi bí ẩn thách đố sự khám phá của những kẻ tò mò. Sinh vật sống duy nhất gắn bó với gã là con vật màu đen tuyền đã không biết bao nhiêu lần trong cơn hưng phấn bị gã làm cho đau đớn. Gã luôn bất lực, nguyền rủa và phỉ báng cái tôi đáng ghét của mình. Gã quằn quại, rên xiết trong một cơn đau triền miên. Có một khối gai sắc nhọn từng ngày một lớn dần lên, xuyên thấu trái tim gã, gã chưa thể tìm ra được con đường giải thoát cho những nỗi khổ nhục mà gã phải mang vác. Tựa như cái cây mang trong mình mầm độc chết người nhưng lại trổ những bông hoa đẹp nhất, rực rỡ nhất khiến thế giới con người phải trầm trồ thán phục.

Mùa đông tới, căn bệnh thể xác không thôi hành hạ gã. Gã đốt thuốc liên tục, căn phòng ẩm mốc ngập ngụa trong làn khói trắng đục. Con mèo đen ủ rũ nơi góc nhà nhìn gã ngán ngẫm. Những bức hoạ ngổn ngang, chồng chất lên nhau, tất cả đều dang dở, vẫn những gam màu như rực lên, giằng xé nhưng không có nét vẽ cuối cùng. Đôi mắt gã trũng sâu nhưng vẫn có lúc chìm trong sự man dại, mái tóc xoã xuống che gần kín gương mặt, những cơn ho dai dẳng liên tục quật gã ngã dưới chân giá vẽ. Những cây cọ gẫy đôi nằm lăn lóc dưới chân tường. Những chấm màu tung toé trên bức tường nham nhở tựa như những con mắt của loài ma quỷ nhảy múa nhập nhoà hút gã vào cõi u mê, tịch mịch. Gã thấy mình như đang chênh vênh trên một bờ vực thẳm, cành cây khô mà gã cố bám víu đang từng lúc oằn xuống rạn nứt, trong khi đó lực hút của đáy vực thì cứ ào ào dâng lên thành một cơn lốc xoáy, chỉ đợi một tiếng kêu khô khốc vang lên là sẽ nuốt chửng lấy gã. Dây trường xuân đã lan ra phủ kín cả khung cửa sổ, căn phòng chìm ngập trong một màu xám nằng nặng và lạnh lẽo. Gã thấy mình cùng đường - một bức hoạ kiệt tác – có lẽ sẽ chết đi, sẽ tắt đi như một ngọn lửa, một kiệt tác không bao giờ thành hình. Như con phù du bay qua lửa mùa hạ sức nóng đang dần dần thiêu đốt gã.

Người ta đưa gã vào bệnh viện khi phát hiện ra một thân hình co quắt gục bên bức tường dây trường xuân. Một cơn ho cuộn lên, gã biết mình còn sống, những cơn đau như tạm chìm đi buông thả gã. Chiếc túi vải đựng toan, bút và màu vẽ của gã treo trên bức tường trắng trước mắt. Gã đảo mắt nhìn quanh, gã phì cười – hoá ra gã đang nằm viện. Người ta đang cố giết chết cơn đau thể xác của gã. Bất giác như nhớ ra điều gì, gã quay mặt nhìn sang chiếc giường bên cạnh. Gã chăm chú nhìn, như chiêm ngưỡng những bức hoạ ngay sau khi hoàn thành. Một cô gái đẹp như thiên thần, khuôn ngực mỏng manh nhấp nhô đều đặn phía dưới tấm vải mỏng, gương mặt trắng xanh gần như trong suốt, một chiếc mũi nhỏ nhắn trên đôi môi gọn gẽ. Một bức tranh hoản chỉnh nhất với những nét vẻ dịu dàng, hiền hoà. Gã bật dậy, đôi mắt sáng bừng hân hoan, một niềm vui như đứa trẻ với món đồ chơi mới. Gã tới sát bên giường cô gái, dùng đôi mắt vuốt ve từng đường nét trên gương mặt đẹp đẽ ấy. Gã cảm nhận được hơi thở nhè nhẹ, nóng ấm của cô gái phả vào má mình.

Một làn gió mát từ biển khơi như tràn qua mảnh đất khô cằn trong tâm hồn gã quái dị, gã đang bay lướt trên mặt biển êm dịu trong một trạng thái cảm xúc mới mẻ lần đầu tiên gã bắt gặp. Một tia nắng yếu ớt của buổi tàn đông lọt qua khung cửa tạo thành một dải lụa mềm mại, ấm áp. Gã nheo mắt hứng trọn nguồn sáng ấy. Gã đang ngắm nhìn cái đẹp hiện hữu với những đường nét hình khối rõ nét nhất. Phải chăng đó là cái gã tìm kiếm bấy lâu, là khối gai nhọn hành hạ gã.

Cô gái bừng tỉnh, nhìn gã ngỡ ngàng. Gã cười nhẹ, đưa ánh mắt dịu dàng nhìn cô gái, tia mắt đen hấp háy, có một đốm lửa nhỏ rực lên trong đó.

- Chào cô. Tôi có thể làm bạn với cô – Gã dừng lại nhìn cô gái thăm dò- trong
những ngày ở đây được không? Người ta gọi tôi là kẻ điên. Cô có thể gọi tôi như vậy.

Cô gái nhoẻn miệng cười thân thiện. Nụ cười làm bừng lên gương mặt trong sáng như trẻ thơ. Dù sao thì gã cũng là một người đẹp trai và có một giọng nói ấm áp đáng tin cậy.

- Tôi là Lâm Phan. Tại sao ông lại ở đây?
- Tôi giống cô. Hai chúng ta đều không phải là người khoẻ mạnh.

Phan bật cười vì câu hỏi ngớ ngẩn của mình. Đôi mắt tròn xoe nhìn gã dè dặt.

- Trước khi vào đây ông ở ngoài kia à? Ngón tay nhỏ gầy trắng muốt của cô
gái chỉ ra ngoài khung cửa sổ.
- Tất nhiên – Gã gật đầu xác nhận. Cô thì không?

Đôi mắt cuối xuống, Phan lắc đầu, giọng nói có chút tủi hờn và buồn bã.
- Tôi không đi được. Bệnh viện gần như là nhà tôi. Ông kể đi, kể cho tôi nghe
những gì ông đã nhìn thấy, những nơi ông đã đi qua. Mọi người nói với tôi rằng cuộc sống ngoài kia thú vị lắm. Tôi chẳng khác nào một đứa trẻ sơ sinh, những gì tôi được nhìn thấy là bốn bức tường màu trắng và bầu trời xanh lớn bằng khung cửa sổ. Ông sẽ kể cho tôi nghe phải không? Ông là bạn tôi mà.

Gã lắng nghe cô nói, nuốt vào ngực một nỗi xót xa đang dâng lên. Bỗng nhiên gã như thấy những nỗi đau đớn triền miên trong trái tim gã trở thành vô nghĩa, phù du. Gã đã kể cho cô nghe - bằng tất cả sự nhiệt thành và say mê những miền đất, những cảnh vật và con người mà gã từng sống và đI qua. Đó là những làng quê với những mái nhà nhỏ bé, trên bậc thềm có những người phụ nữ ngồi đan áo, ánh mắt hướng về nơi xa xăm; chiều chiều trên những nóc rạ từng làn khói trắng thơm nồng bay lượn êm ả; đó là những đồng cỏ xanh ngút ngàn với những bông hoa nhỏ bé màu tím ngắt ép mình dưới cọng cỏ xanh; những chú bé trên lưng bò hát vang khúc ca mục đồng. Trong lời kể còn có mặt biển những mùa đông với mặt nước màu tím sẫm in bóng mặt trời; những chiếc lá dập dềnh xuôi theo dòng suối nhỏ đổ ra đại dương.

Ánh mắt gã mơ màng thả trôi theo theo cơn hứng khởi của trí tưởng tượng. Đó cũng là những cảnh sắc mà lần đầu tiên gã được chiêm ngưỡng. Tím, xanh, trắng – chưa bao giờ có mặt trong bức tranh của gã, đó cũng là những gam màu chưa hề tồn tại trong thế giới mà gã sống. Gã đã kể thật nhiều, đã tưởng tượng thật nhiều, đã quệt vào trên tấm lụa trắng- tâm hồn cô gái - những nét vẽ thấm đượm hương sắc khí trời, bừng sáng và rộn ràng trong tiếng nhạc hân hoan.

Có lúc gã giật mình, phải chăng gã đã làm một việc tàn nhẫn là chỉ cho Phan nhìn thấy thế giới. Không phải chỉ một lần gã đã nhìn thấy giọt nước mắt lăn trên gò má cô gái. Tất cả những gì gã vẽ ra cho cô tạo nên một ấn tượng chung về sự vô tận của thế giới lạ lẫm xung quanh. Cô cảm thấy cuộc sống đang tràn vào thân thể, thấm vào từng bộ phận trong cơ thể khiến cô ngây ngất. Cô không hề cảm thấy buồn, không hề nghĩ tới cái chết đang trú ngụ bên trong con người cô và đang tạo nên những cơn đau khủng khiếp. Không! Không! Cần phải sống! Và trong cơn say sưa ngất ngây ấy, một cái gì dâng lên chẹn cổ họng khiến Phan nghẹt thở. Đó chính là nỗi buồn man mác đã len lỏi vào trái tim cô từ lúc nào và những giọt nước mắt cừ trào ra.
- Không sao…Không sao đâu! – Phan mỉm cười nói với gã và cặp mắt ướt
ánh lên niềm vui khiến cô rạng rỡ - Hình như tôi. Tôi cũng không biết nữa…Ông kể tiếp đi.

Đôi lúc Phan bỗng quay sang gã mỉm một nụ cười biết ơn. Nhưng nụ cười ấy gợi lên trong lòng Phan một nỗi tự thương mình vô tận. Chẳng bao lâu nữa Phan sẽ chết và cặp mắt đầy vẻ thán phục của cô bây giờ sẽ không được chứng thực vẻ đẹp của thế giới, không còn được thấy một cuộc sống mà lẽ ra Phan cũng phải được hưởng như mọi người.

Khi gã kể về những dòng sông, với những cánh lục bình tím ngắt, Phan cảm thấy vẻ mát mẻ của mặt nước kéo theo một ý nghĩ lướt nhanh trong đầu óc Phan khiến cô đờ đẫn tưởng chừng bao thế giới trong vũ trụ bỗng nhiên bừng lên sáng chói. Và Phan như chợt hiểu thấu được bản chất của sự vĩnh hằng, thấu hiểu được mọi thứ trên thế gian với ý nghĩ đơn sơ nhất, thậm chí cả những điều thầm kín náu sâu trong đáy lòng mỗi con người. Phan cảm thấy trong một khoảnh khắc hiểu cặn kẽ vạn vật. Và thế là đủ với Phan bởi Phan tưởng như mình đã trở thành vĩnh hằng.

Một cuộc chiến khốc liệt diễn ra trong gã. Lớp bọc tạm thời của khối gai cứ từng lúc tan chảy ra, nó lại làm gã đau nhói. Gã không thể hiểu nỗi những gì tưởng đã ngủ yên, đã lắng đi trong gã cứ từng lúc một lại nhích lên xâm chiếm từng đường tơ kẽ tóc trong mối xúc cảm, trong một ham muốn vượt bậc nào đó mà gã có thể định hình được - lại vẫn là kiệt tác, một bức hoạ trường tồn cùng thời gian. Loài người phải sợ hãi, phải trốn chạy khi chiêm ngưỡng bức tranh của gã. Có những lúc ham muốn bùng lên như một ngọn lửa thiêu đốt những cọng cỏ non tơ đang nảy mầm trong gã, càng cố gắng dập tắt nó lại càng bùng lên dữ dội hơn. Và đáng sợ hơn ý tưởng của bức tranh ấy đã thành hình trong đầu gã, gã chỉ chờ đợi, phải chờ đợi lúc có thể phóng bút trên mảnh toan trắng. Màu trắng sẽ là độc tôn trong bức tranh của gã.

Mặt khác gã cũng cảm nhận được có một dòng suối nhỏ mát lành đang róc rách len lỏi không ngừng chảy trên miếng đất khô cằn mà gã đã nuôi dưỡng bằng sức nóng của màu đỏ và sự cằn cỗi cay nghiệt của ý nghĩ. Đôi lúc gã muốn buông trôi để được thả mình trong dòng suối trong mát ấy. Nhưng bức tranh ngày một hiện hình rõ nét hơn. Sự sống cũng không còn là bao đối với người con gái mã gã yêu - phải, gã biết đó là tình yêu, một thứ tình cảm mãnh liệt, nó vừa khiến gã đau đớn, vừa mang lại niềm hạnh phúc dịu ngọt như bông hoa buổi sớm mai còn lung linh giọt sương đọng lại từ buổi đêm. Và gã quyết định - sẽ làm cho tình yêu của gã trở thành vĩnh viễn, mãi mãi.

Đêm, cơn đau dâng lên hành hạ Phan, những tiếng kêu khe khẽ phát ra. Cái thân hình mong manh nhỏ bé ấy đang giằng co với một cơn đau khủng khiếp. Phan nhìn gã cầu cứu. Chỉ cần gã giơ ngón tay ấn nhẹ vào nốt chuông đầu giường, người ta sẽ đến cứu Phan. Nhưng gã vẫn ngồi yên trơ ra như một khối đá cẩm thạch, đầu gã muốn nổ tung, có ngàn vạn sợi xích khổng lồ đang nghiến nát từng thớ thịt trong con người gã. Cơn đau của Phan mỗi lúc một dâng lên, hai bàn tay bấu chặt vào tấm khăn trải giường, gương mặt nhợt đi như một xác chêt, mồ hôi rịn ra thành giọt trên vầng trán thanh tú. Gã vùng dậy, như một kẻ điên loạn gầm gừ, gã dựng giá vẽ, căng tấm toan trắng. Gã vẽ, vẽ Phan. Không phải gã vẽ cơn đau đang bóp nghẹt trái tim Phan, vẽ cái chết đang đến với Phan. Mỗi lúc Phan oằn người lên quằn quại là mỗi vệt màu cắm vào bức hoạ. Máu hay nước mắt đang rịn ra từ hai khoé mắt sâu hoắm của gã. Bàn tay cầm cọ nỗi gân chằng chịt. Chút sinh lực đang dần cạn kiệt của gã ào ào phóng ra nơi đầu ngọn bút. Gã như chấp chới, nhẹ bẫng đi, gã đang tan ra thành hư không, gã không hề tồn tại. Vũ trụ vần vũ xoáy vào gã ngàn vạn mũi dao nhọn hoắt.

Nét bút cuối cùng - bức hoạ hoàn hảo. Những ngón tay Phan duỗi thẳng, thân hình Phan bất động. Cây cọ rơi xuống nền gạch, một tiếng vang khô khốc. Gã bấm mười ngón tay vào ngực, gã hộc lên, một dòng máu đỏ tươi quệt ngang bức vẽ. Gã bàng hoàng nhận ra sự kì ảo của bức tranh mà gã không hề ngờ tới. Màu máu và màu trắng. Cái chết là sự vĩnh cửu. Gã đã giải thoát được khối gai tai nghiệt trong tim. Khối lửa trong mắt gã đã tắt hẳn. Gã không hề tồn tại – chưa hề tồn tại.

Những giọt máu tươi từ bức hoạ nhỏ xuống nền gạch. Con vật màu đen nhẹ nhàng nhảy xuống khỏi khung cửa sổ, cái lưỡi dài, nhọn liếm sạch từng giọt máu. Không còn dấu vết.

Bức hoạ không tên trở thành vật vô giá, không một kẻ nào trên thế giới đủ tiền mua nó.

Viện bảo tàng bốc cháy, người ta tìm ra nguyên nhân từ một điếu thuốc của một gã ngu xuẩn nào đó. Tất cả những kiệt tác trở thành tro bụi - kể cả bức vẽ về sự vĩnh cửu của gã hoạ sĩ quái dị - Đường Công Nguyên.



***Hết***



Viết từ những ngày tăm tối, tưởng chừng cuộc sống bị giam lỏng trong 4 bức tường ...

Tuong Tien Tuu
18-01-2007, 10:45
Ờ thì truyện dịch này:

http://img.photobucket.com/albums/v248/home_nguoikechuyen/60a0.jpg


Truyện cổ tích về một mối tình





Tình yêu nào có bến bờ


Đắn đo ràng buộc đâu là tình yêu


Emma Goldman

Một ngày kia, Edward Wellman phải rời xa gia đình, rời xa đất nước thân thương của chàng để đi tìm một cuộc sống sung túc ở nước Mĩ xa xôi. Người cha đáng kính đã trao cho chàng số tiền tiết kiệm cất trong chiếc cặp da của gia đình. Đến giờ chia tay rồi. Ông vừa nói vừa ôm chặt đứa con trai lần cuối. Con là niềm hi vọng của chúng ta. Rồi Edward lên một chiếc tàu chở hàng xuyên Đại Tây Dương mà ở đó chàng có thể xúc than giúp nhà tàu để đổi lấy tiền vé cho chuyến đi dài ngày. Nếu Edward đào được vàng ở vùng núi Colorado thì lúc ấy anh có thể đoàn tụ với gia đình.
Trong nhiều tháng ròng, Edward mê mãi thực hiện ý nguyện của mình không biết mệt mỏi, và một vỉa vàng nhỏ cũng đủ giúp chàng có một nguồn thu nhập vừa phải nhưng ổn định. Sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc, khi anh bước qua khuôn cửa cái nhà gỗ nhỏ bé của mình, anh lại mong mỏi ở đó có sự đón đợi của người con gái anh yêu. Khi chấp nhận chuyến phiêu lưu sang Mĩ, điều day dứt duy nhất với anh là phải rời xa Ingrid trước khi anh có thể cưới nàng. Gia đình nàng là những người bạn lâu năm của gia đình anh, lâu hơn thời gian anh có thể nhớ, và anh ấp ủ một niềm hi vọng thầm kín là lấy Ingrid làm vợ. Mái tóc dài mượt mà và nụ cười toả nắng khiến nàng nổi bật lên trong đám các chị em gái nhà Henderson. Anh chỉ dám ngồi bên cạnh nàng trong những buổi tiệc ngoài trời ở nhà thờ và dựng lên những lí do ngớ ngẩn để được ngắm nàng. Mỗi buổi tối, khi nằm nghỉ trong căn nhà gỗ của mình, Edward lại ước ao được vuốt ve mái tóc nâu đỏ của nàng, ôm nàng trong vòng tay âu yếm. Cuối cùng, anh viết thư cho cha nhờ ông giúp anh thực hiện ao ước đó.
Gần một năm sau, một bức điện tín được gửi đến mang theo kế hoạch vun đắp cuộc đời anh. Ông Henderson đã đồng ý để con gái mình sang Mĩ với Edward. Bởi vì nàng là một thiếu nữ lam làm với một đầu óc kinh doanh nhạy bén, nàng sẽ làm việc với Edward trong vòng khoảng một năm để giúp cho việc khai thác mỏ được tiến triển. Nhờ vậy, cả gia đình có thể sang Mĩ dự đám cưới của họ.
Trái tim Edward như vút lên say sưa và anh dành cả tháng trời sau đó để cố gắng biến căn nhà nhỏ của mình thành một tổ ấm. Anh sắm thêm một chiếc giường nhỏ dành cho mình đặt ở một không gian khá sống động và cố gắng làm cho cái phòng ngủ của mình trước đây trở nên thích hợp với một người phụ nữ. Tấm vải hoa làm từ những vỏ bao bột mì thay thế cho những bức rèm vải nhân tạo cũ kĩ bị phủ lên cái cửa sổ bám đầy bụi bẩn. Anh cắm thêm một cân xô thơm lấy ngoài đồng vào trong cái bình làm bằng vỏ lon đặt trên chiếc bàn đầu giường.
Thế rồi cuối cùng, cái ngày trọng đại trong cuộc đời anh hằng mong ước đã đến. Anh ra ga với một bó hoa cúc tươi tắn trong tay. Hơi nước từ đầu máy xe lửa bốc lên cuồn cuộn và những chiếc bánh thép rít lên kèn kẹt khi đoàn tàu chuẩn bị dừng bánh. Edward nhìn lướt qua từng ô cửa sổ bên trên thân tàu, kiếm tìm nụ cười và mái tóc rực rỡ của Ingrid.
Tim anh đập thình thịch vì hồi hộp và háo hức rồi đột nhiên lặng đi như ngừng hẳn. Không phải là Ingrid mà là chị gái nàng, Marta bước xuống tàu. Cô ta bẽn lẽn đứng trước mặt anh, đôi mắt cụp xuống.
Edward chỉ biết nhìn trân trân, chết lặng. Rồi vừa bắt tay, anh vừa trao cho cô bó hoa. Mừng cô đã đến, anh nói lí nhí, mắt anh như nảy lửa. Một nụ cười thoáng qua trên khuôn mặt chất phác của cô.
Em rất vui lòng được chăm sóc anh theo nguyện vọng của cha, Marta vừa nói vừa nhìn lướt qua đôi mắt anh trước khi cô kịp cúi xuống.
Để tôi xách đồ cho cô, Edward đề nghị với nụ cười gượng gạo. Rồi họ cùng nhau bước về phía chiếc xe ngựa.
Ông Handerson và cha anh đã đúng. Marta có một năng lực bẩm sinh về kinh doanh. Trong khi Edward làm việc trong mỏ thì cô làm công việc văn phòng. Từ chiếc bàn làm việc đặt tạm ở một góc trong không gian sinh động ấy, cô ghi lại kỉ lưỡng toàn bộ những hoạt động theo yêu cầu. Chỉ trong vòng sáu tháng, của cái tích góp của họ đã tăng lên gấp đôi.
Những bữa ăn ngon miệng và nụ cười lặng lẽ của cô khiến cho ngôi nhà nhỏ trở nên có duyên với bàn tay săn sóc của một người phụ nữ tuyệt vời. Nhưng đó vẫn không phải là người phụ nữ anh hằng mơ ước. Edward vẫn thầm than vãn mỗi đêm trước khi trèo lên chiếc giường nhỏ của mình: Tại sao họ lại cho Marta đến đây? Liệu anh có được gặp lại Ingrid không? Liệu giấc mơ suốt cuộc đời của anh là lấy được Ingrid làm vợ có tan thành mây khói?
Trong suốt một năm, Marta và Edward đã làm việc, dạo chơi, cười nói với nhau nhưng chưa bao giờ họ yêu nhau. Một lần, Marta đã hôn vào má Edward trước khi về phòng ngủ. Nhưng anh chỉ mỉm cười một cách ngượng ngịu. Kể từ đó về sau, Marta dường như bằng lòng với những cuộc đi dạo dài, vui vẻ của họ trên những đỉnh núi thấp và những cuộc chuyện trò ở hành lang sau bữa ăn cuối ngày.
Một buổi chiều mùa xuân, những cơn mưa như trút đã đổ xuống sườn đồi , xói lấp đường dẫn vào mỏ của họ. Tức tốc, Edward đổ đầy cát vào các bao tải và chất chúng ngang dòng nước lũ. Ướt sũng và kiệt sức, những cố gắng điên cuồng của anh dường như vô hiệu. Đúng lúc đó, đột nhiên Marta xuất hiện bên cạnh anh, tay xách cái bao tải tiếp theo đã mở sẵn. Edward liền đổ cát vào trong bao với sức mạnh của một người đàn ông thực sự, Marta quàng nó lên trên hàng cọc đỡ và tiếp tục mở bao tải khác. Họ đã làm như thế trong nhiều giờ, đầu gối ngập trong bùn, cho đến khi mưa tạnh. Tay trong tay, họ cùng trở về nhà. Sau khi húp một ngụm súp ấm, Edward thở phào, khoan khoái nói: Tôi không bao giờ có thể cứu được mỏ vàng nếu không có cô, Marta ạ. Cám ơn cô!
Anh khách sáo quá. Marta đáp lại với nụ cười quen thuộc rồi lặng lẽ trở về phòng mình.
Không lâu sau, một bức điện tín được gửi đến thông báo rằng gia đình Henderson và gia đình anh sẽ đến vào tuần tới. Càng cố gắng kiềm giữ bao nhiêu thì cái ý nghĩ về việc gặp lại Ingrid càng khiến cho trái tim anh trở lại nhịp đập xưa cũ, quen thuộc bấy nhiêu. Cùng với Marta, anh ra ga đón mọi người. Xa xa, họ trông thấy những người thân bước ra khỏi đường ray. Khi Ingrid xuất hiện, Marta quay sang Edward giục: Đến với cô ấy đi.
Bị bất ngờ, Edward lắp bắp: Em nói gì vậy?
Edward ạ, em luôn hiểu rằng em không phải là cô gái nhà Henderson mà anh trông đợi. Em đã thấy cái kéo áo đầy ý tứ của anh với Ingrid mỗi buổi picnic ở nhà thờ. Marta hất đầu về phía người em gái đang bước xuống tàu. Em biết người anh muốn cưới làm vợ là cô ấy chứ không phải em.
Nhưng…
Marta đặt ngón tay nàng lên môi anh, suỵt, thôi nào! Nàng ngăn anh lại: Em yêu anh, Edward ạ. Em mãi yêu anh. Và bởi vậy, tất cả những gì em thực sự mong muốn đó là hạnh phúc cho anh. Đến với cô ấy đi.
Anh nắm lấy bàn tay nàng đưa lên má và ấp lấy nó. Khi nàng nhìn anh đắm đuối, lần đầu tiên anh cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời của nàng. Anh nhớ lại những cuộc đi dạo của hai người trên những cánh đồng, những buổi tối tĩnh lặng bên bếp lửa, nhớ lại việc cô đã giúp anh hôm trời mưa. Đó là điều rút cục anh đã nhận ra sau bao ngày.
Không Marta ạ. Em mới là người anh cần. Kéo nàng vào trong vòng tay anh, anh hôn nàng với tất cả tình yêu trào ra trong tim. Cùng lúc ấy gia đình họ cũng tới nơi, vây quanh họ và cùng reo lên: Mọi người đã sẵn sàng chờ đợi lễ cưới.






Dịch từ Chicken Soup

kiki
31-01-2007, 17:59
Chùm thơ của Jacques Prévert do kiki dịch
Tiêu chí lựa chọn : La vita è non sogno

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/41/Place_de_la_concorde.jpg/230px-Place_de_la_concorde.jpg

Ảnh : Place de la Concorde

Đẹp trời

Đói khát, tuyệt vọng, giá băng
Rất cô đơn, không một đồng xu
Một cô gái mười sáu tuổi
Đứng im bất động
Quảng trường La Concorde
Trưa Mười Lăm Tháng Tám.

Bài ca tặng người

Những mái tóc màu đen
Được sóng kia ve vuốt
Những mái tóc màu đen
Gió làm rối tung lên.

Làn sương mù tháng chín
Bảng lảng sau cây cành
Vầng mặt trời là một
Quả chanh hãy còn xanh.

Và cái sự khốn cùng
Trong cỗ xe trống không
Ba đứa trẻ kéo nó
Da vàng vọt quá chừng.

Băng qua những đổ nát
Và tiến về biển khơi
Tóc đen tóc đen ơi
Sóng vỗ về mơn trớn
Tóc đen tóc đen ơi
Gió làm rối tung rồi.

Bữa sáng thịnh soạn

Thật khủng khiếp âm thanh bé nhỏ
Trên chảo thiếc khi quả trứng đập vào
Âm thanh này thật là kinh khủng
Khuấy trộn ký ức người bụng đói cồn cào.

Và đầu người cũng thật khủng khiếp sao
Cái đầu óc của người đang đói
Khi soi mình vào gương cửa hiệu lớn
Trong buổi sáng vào lúc sáu giờ.

Một cái đầu nhuốm màu bụi mờ
Anh ngắm nhìn dù chẳng phải đầu anh
Trong tủ kính cửa hiệu Potin
Đầu của anh thì anh hững hờ.

Không nghĩ suy và anh mộng mơ
Anh hình dung ra một đầu khác
Một cái đầu con bê chẳng hạn
Đã được chan nước xốt chua vào.

Hoặc bất cứ đầu để ăn nào
Anh đưa hàm từ từ nhè nhẹ
Và anh ta nghiến răng khe khẽ
Bởi mọi người phải tự trả tiền.

Anh không thể chống thế giới này đâu
Một hai ba, trên ngón tay anh đếm
Một hai ba, đã ba ngày không ăn đấy
Thật hay khi lải nhải : đã ba hôm.

Điều này không thể kéo dài thêm
Nó kéo dài đã ba ngày ba đêm
Không được ăn và đằng sau tủ kính
Nào pâté, nào chai, nào đồ hộp.
Những con cá chín đựng trong hộp
Những chiếc hộp để trong tủ kính
Tủ kính được cảnh binh bảo vệ
Và nỗi sợ che chở cảnh binh.
Để cho sáu con cá sardine
Không may mắn với nhiều chướng ngại.

Cà phê sữa và bánh nóng sừng bò
Người đi lảo đảo và trong đầu mây mù
Đám mây mù của các từ thực phẩm :
Cá trích để ăn
Trứng, cà phê sữa
Cà phê pha rum
Cà phê pha sữa
Cà phê sữa máu !...

Một người rất quý phái trong khu phố.
Bị bọn giết người cắt cổ giữa ban ngày
Bọn giang hồ đã ăn trộm của người này :
Hai franc một tách cà phê
Bẩy mươi centime hai bánh mỳ bơ
Hai nhăm centime cho tiền boa phục vụ.

Ran
20-02-2007, 16:36
Đầu Xuân, gõ lại để thân tặng YIH và phucphan và vantoan và tất cả những ai yêu opera truyện ngắn này. In trong tuyển tập của Sagan do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2001. Đâu YIH coi ca sĩ nào được miêu tả trong đây nhé. :P

Nữ Danh Ca.
Françoise Sagan.
Vũ Đình Bình dịch.

“Anh à” nàng nói, người tì vào một vạt của tấm bài trí sân khấu và miệng nhấp cốc nước bạc hà, “anh à, nếu tôi không chú tâm đến anh nữa, thì không phải là tôi không thích anh, thậm chí tôi vẫn yêu anh, như người ta có thể yêu ở lứa tuổi của tôi, nhưng…”
Nàng mỉm cười:
- Tôi chỉ nghĩ tới nhân vật kia.
- Hắn là ai vậy?
Anh ta tức điên người. Trông anh ta lại rất đẹp. Sự ghen tuông của anh ta, dù có thấp kém đến mấy bởi cơ sở của nó chẳng qua chỉ là nỗi sợ ngày mai và tình trạng thiếu tiền, sự ghen tuông của anh ta làm anh ta giận dữ và đẹp hẳn lên. Nàng bao giờ cũng đạt được hiệu quả ấy ở tất cả các người tình của nàng khi nàng nhất quyết không nói cho họ biết “hắn” là ai.
Công chúng đông nghịt như một biển sóng. Trời đầy gió. Tối nay. Ở Italia. Và cái nhà hát cổ đại này thực sự bị săm soi trong tất cả các xó xỉnh của nó bởi hàng chục chiếc đèn chiếu, hàng triệu watt, sự tiến bộ đến trợ giúp cho quá khứ, như cách nói của những kẻ ngu xuẩn nọ. Nàng lắc đôi vai khỏe mạnh và quay về phía chàng trai.
“Hai phút nữa là đến lượt tôi”, nàng nói.
Anh ta không đáp. Anh ta đã theo nàng từ thành phố này sang thành phố khác từ sáu tháng nay. Anh ta làm tình với nàng, ở mức vừa phải – và anh ta cướp bóc nàng, cũng ở mức vừa phải, nhưng cũng có những lúc anh ta giận nàng quá đỗi: đó là khi nàng bước ra sân khấu, lúc ấy, nàng bỏ lại những kí lô trọng lượng, những nếp nhăn. Và cả anh ta nữa. Ở đằng sau nàng. Lúc ấy, những con người ngất ngây hạnh phúc, trong bóng tối - dù là ở Berlin, NewYork hay Rome – họ đợi nàng, họ rình chờ giọng nàng cất lên. Và lúc ấy, nàng chỉ có một mình, một mình một cách bi thảm, một cách tuyệt diệu, và anh ta cảm thấy được điều đó. Lúc ấy, anh ta chẳng quan trọng gì hơn ba người chồng cũ của nàng hoặc ba mươi người tình cũ cũng của nàng. Tệ hơn, anh ta còn không quan trọng bằng anh kép lính cầm kích trực canh cổ xưa, vì ít nhất thì anh lính ấy cũng cần cho vở diễn.
Đám đông đã im bặt, và, với một cảm giác ghê tởm, anh ta nhìn cái khối thịt mỡ quá phì nộn bên cạnh – tục tĩu, đôi khi anh ta nghĩ – nhưng từ đó lại cất lên cái giọng kia, một giọng hát làm mê say những kẻ chạy theo mốt âm nhạc. Được rồi! Mình sẽ lợi dụng đến mức tối đa và thật nhanh và cuốn gói cũng thật nhanh. Tội gì mà sống nghèo khổ nhỉ, dại gì mà lại đi chiều theo những đòi hỏi óai oăm của bất cứ gã đàn ông hay mụ đàn bà nào, để đến nỗi mới chưa đầy ba mươi tuổi đã phải lẽo đẽo bám theo một mụ quá tuổi hồi xuân, dù mụ có là ca sĩ thiên tài đi nữa!
“Mình tóc vàng” anh ta nghĩ, “mình đẹp trai và cường tráng. Mụ Cachionni thì đã tã, đúng là đã tã, và mụ phải trả một cái giá thật đắt hơn nữa!”
Dàn nhạc chơi uể ỏai và anh ta nghĩ đã tới hồi chót. Nàng đi ra xa rồi nàng lại tiến về phía anh ta, bây giờ, trán nàng bóng lóang mồ hôi, với vẻ nửa say đắm, nửa thỏa mãn mà ngay cả tình yêu cũng không tạo được cho nàng (!) Nàng có một động tác rất trẻ con, gần như nực cười, để tựa vào anh. Cô phụ trách phục trang đã tới với một cốc nước pha chút bạc hà trong tay, và, nàng uống không kịp thở.
“Anh thấy âm nhạc của màn vừa rồi thế nào?” nàng hỏi.
Nàng dướn đôi mí mắt nặng trĩu, óng ánh xà cừ lên. Nàng chằm chằm nhìn anh ta.
“Chàng chưa tới ba mươi tuổi, lạy trời! Chàng mảnh dẻ và đẹp trai và xứng hợp với bất kỳ nàng công chúa nào ở xứ Iran. Làm sao mà ta, với khuôn mặt nhàu nhĩ hóa trang này, bị mồ hôi tàn phá này, làm sao ta lại dám hỏi chàng thấy cái gì xem nó như thế nào?”
“Tôi không biết vở opera này!”, anh ta nói bằng một giọng kiêu kỳ.
Nàng cất tiếng cười. “Trong đời tôi, tôi mới chỉ hát vở này có ba lần”, nàng ngừng mộ chút. “Và cả ba lần, tôi đều tìm lại được nhân vật kia. Tôi hy vọng nhân vật đó sẽ hiện diện. Ở đây. Tối nay.”
-Nhưng hắn là ai vậy?
Nhưng nàng đã vỗ vỗ vào cánh tay anh ta và tiến về phía người chỉ huy dàn nhạc, một gã đần, đúng vậy, một gã ngố dễ thấy, một kẻ vô đạo đức chỉ tìm cách lợi dụng nàng và uy tín của nàng. Anh ta đã báo cho nàng biết như vậy, nhưng nàng cười và nói: “Đấy là một nhạc công, anh biết đấy” bằng cái giọng âu yếm và như xin lỗi một cách đầy tự hào mà đôi khi người Do Thái vẫn nói về một người trong số họ. Anh ta mân mê mấy cái khuy manchette bằng mã não và vàng, món quà tặng gần đây nhất của nàng rồi nhìn đồng hồ. Có lẽ vở diễn sẽ kết thúc trong vòng nửa giờ nữa. Thật sung sướng! Anh ta đã chán ngấy nhà hát opera và âm nhạc và những bè đôi tuyệt vời và tất cả các cái đám ấy và mau mau đến nhảy một điệu jerk rộn ràng ở MonteCarlo đi thôi. Tuy nhiên, một mối hòai nghi giữ rịt anh ta lại bên cánh gà sân khấu. “Hắn”, ai là cái “hắn” mà nàng đã ba lần tìm được? Một tay chơi luống tuổi của những năm ba mươi? Một người chồng cũ? Đó không phải là cái “gu” của Cachionni, phải nói đúng như vậy, những kiểu điệu bộ làm duyên làm dáng ấy. Hắn đã làm cho nàng chấp nhận, và nàng đã chấp nhận hắn. Hắn không bao giờ gây cho nàng những màn ghen tuông giả tạo khiến cho nàng phải mất mặt. Nhưng hắn là ai nhỉ?
Nàng quay trở lại phía anh ta. Nàng ném cho anh ta một ánh mắt vẩn vơ. Nàng vỗ nhẹ bàn tay lên cánh tay anh ta. Nàng ho rất khẽ. Nàng chờ đợi. Rồi tấm màn được kéo lên và lão chỉ huy dàn nhạc ghê tởm kia giơ cây đũa. Tất cả các nô lệ của lão ta, các nông nô nhạc công của lão ta đều rạp những cái đầu thiển cận và phục tùng xuống những cây đàn violon của họ. Một tiếng rên vang lên từ chỗ họ. Và nàng không trông thấy anh ta nữa. Nàng đã xoay người, bất động, về phía cái sân khấu tim tím kia, những gương mặt trăng trắng kia, trong đêm tối, tay ca sĩ cao lớn hát giọng tenor kia, cái cứu cánh của cuộc sống kia, những chuyến đi kia, những chuyện phi thường kia, cái số phận kia, …tóm lại, nàng đã quay người về phía tất cả những cái thứ mà ở đó, anh ta chỉ có vai trò phụ. Đột nhiên, anh ta cảm thấy thế, anh ta hụt hẫng, anh ta đỏ mặt, anh ta hiểu. Rằng anh ta. Hoặc một người khác! Có hề chi cái việc nàng nhiều tuổi gấp đôi anh ta và nặng gấp đôi anh ta: tất cả những con người kia đều mơ ước nàng. Một triệu người mơ ước nàng trên trái đất này và có lẽ hãy còn một người đàn bà mơ ước anh ta, ở Rome. Nếu anh ta gặp may. Và chắc hẳn ngay tối nay, người kia, kẻ lạ mặt, “hắn” cũng đợi nàng và chắc hẳn “hắn” sẽ bám lấy nàng vì “hắn” là một vật ký sinh, và chắc hẳn mặc dù mạnh mẽ, đẹp đẽ và rắn rỏi, hắn cũng chỉ là một màn xen kẽ buồn tẻ và hơi đắt giá, một kẻ quấy rối trong một câu chuyện tình yêu có thật. Anh ta nhìn nàng và thử phẫn nộ. Anh ta cảm thấy như mình đang ở trong vai một cô sen có bầu. Nhưng đám đông đã vỗ tay rào rào, có vẻ nôn nóng, hoan hô ca sĩ giọng tenor ngốc nghếch, và anh ta đã cảm thấy đám đông đang chờ đợi nàng. Đám đông. Và “hắn”.
- Ai vậy? Anh ta hỏi.
- Anh hỏi ai?
Nàng nhìn anh ta bằng đôi mắt sẫm màu, đen, mờ đi bởi đôi điều mà anh ta biết và những điều ấy giống như nỗi sợ.
- Kẻ mà mình đã tìm lại được ba lần ấy, mình biết đấy.
- À. Nàng nói.
Nàng cất tiếng cười, dịu dàng, gần như âu yếm. Lão chỉ huy dàn nhạc nhéo mắt thóang ra hiệu với nàng. Cả nhà hát như căng lên và anh ta cảm thấy các sợi dây thần kinh của chính bản thân anh ta cũng bị kéo dài ra như dây đàn. Nàng ngừng cười, quay sang phía anh ta, đặt một bàn tay lên má anh ta, và trong giây lát, anh ta có cảm giác như đã tìm lại được mẹ mình, và đó là một người mẹ mà anh ta thích, chứ không phải người tình khó tính và lơ đãng này, kẻ mà anh ta không hiểu.
“Nhân vật kia”, nàng nói, “đó là nốt cao, nốt cao nhất trong các bản nhạc của Verdi, anh hiểu chưa?”
Nàng nhìn anh ta chằm chằm và anh ta không thấy có một ý nghĩ nào trong đầu mình. Anh ta chỉ có cảm giác những chiếc khuy manchette của anh ta, chiếc áo smoking mới, những hạt ngọc đính trên ngực áo, tất cả những thứ nàng tặng, đang đốt bỏng da anh ta.
“Một nốt ut٭, nàng dịu dàng nói, là như thế này này.”
Và nàng nói, hát, diễn tả một nốt ut rất thấp, rất âu yếm, hai mắt nhắm lại, như thể nàng giảng cho anh ta một từ ngọai lai.
“Nhưng mà”, nàng tiếp. “Phải ngân nốt ấy ba mươi giây.”
Nàng sửa lại mái tóc và nâng đuôi áo dài lên vì lão chỉ huy dàn nhạc đã gọi nàng. Nàng thở một hơi, như lấy đà. Và quay về phía anh ta.
“Và thêm nữa”, nàng nói. “Nốt nhạc ấy là cái không thể mua được!”


*: Tôi đóan là nốt do, như nguoithienchi đã viết: http://www.nhaccodien.info/forum/showthread.php?t=83&page=7

yes_Iam_here
21-02-2007, 16:06
Thanks, về món quà đặc biệt đầu năm. Cacchioni chắc là một nhân vật hư cấu :D.
Một note c3 ngân dài trong opera của Verdi, không biết là trong vở nào, quá nhiều, :D, nhưng nếu tớ không nhầm thì, note cao nhất viết cho giọng nữ trong opera verdi phải là đô3# (trong Macbeth). Gilda(Rigolletto) và Violetta (La traviata) cũng phải lên đến e3b, nhưng hình như k0 phải note trong tổng phổ mà Verdi viết mà là ca sĩ tự thêm vào.
Một note đô ngân trong 30s, thật sự là một thách thức lớn, càng lên cao, càng khó giữ hơi ổn định, làn hơi phải dài, tâm lí phải vũng chắc, thư thái và quan trọng là lúc kết thúc sao cho êm và không bị hụt hẫng.
Sorry vì spam cái topic của chi "tờ ri ôm phờ" 1 bài post chẳng có tí văn học gì cả :P

na9
24-02-2007, 07:44
Sao lại không có tí văn học nào ? Nếu chị là dịch giả Vũ Đình Bình và đọc được bài spam của YIH thì trong lần tái bản tới truyện dịch này chị sẽ cho thêm một đoạn chú thích như sau : “Một note đô ngân trong 30s, thật sự là một thách thức lớn với mọi soprano, càng lên cao, càng khó giữ hơi ổn định, làn hơi phải dài, tâm lí phải vững chắc, thư thái và quan trọng là lúc kết thúc sao cho êm và không bị hụt hẫng.” Có như thế, những độc giả văn học không hiểu biết về nghệ thuật thanh nhạc sẽ cảm nhận truyện ngắn này tốt hơn.:P

Độc giả nếu không hiểu biết về NCĐ thì vẫn có thể đọc tác phẩm văn học có những chi tiết liên quan đến NCĐ. Nhưng tác giả văn học mà không hiểu biết về NCĐ thì cần tìm hiểu kĩ trước khi dùng những chi tiết đó làm chất liệu văn học nếu không thì chỉ lòe được những người không biết và bị những độc giả như admin TuMinhTran coi là không đứng đắn như trong một bài post của Tú hồi trước bên ttvn : :D

Đàn harp có dáng rất yêu kiều và mềm mại nên rất nhiều người có ấn tượng mạnh về nó. Tuy vậy trước đây, em có đọc một mẩu chuyện Cà phê chiều thứ bảy trên HHT về đàn harp. Câu chuyện đó rất hay nhưng lại có một chi tiết thể hiện rõ đó không phải là câu chuyện thực. Câu chuyện của một người bác sĩ kể về một trường hợp trong những lần đỡ đẻ của mình. Một lần đó là một ca sinh ngược. Phải rất vất vả, người mẹ mới có thể sinh thành đứa trẻ, nhưng bất hạnh đứa bé có đôi chân bị liệt. Sau này trong một buổi biểu diễn, người bác sĩ đó gặp một cô thiếu nữ chơi đàn harp rất hay, và trùng hợp đó chính là cô bé mà người bác sĩ đó đỡ đẻ năm xưa. Số mệnh đã lấy đi đôi chân cô bé, nhưng lại để lại cho cô đôi bàn tay kì diệu để chơi những khúc nhạc tuyệt vời (Nội dung chính là như vậy, còn chi tiết thì em không nhớ chính xác).

Điều mâu thuẫn là ở chỗ, về mặt âm nhạc, không thể có chuyện đó. Đàn harp là loại đàn diatonic, tức là các dây của nó được lên dây theo thang âm tự nhiên tức âm giai C dur, đồ rê mi... (Các đàn khác như đàn dây, piano, guitar đều là chromatic, tức là có tất cả các nốt kể cả thăng giáng hay không). Chúng ta đều biết muốn chơi những tác phẩm một cách dễ dàng, các nhạc cụ phải chơi được các nốt thăng giáng. Vì vậy đàn harp có một hệ thống bàn đạp (Pedal) để thay đổi một dây nào đó về độ cao tăng giảm đến 2 bán cung. Nhờ thế mà nó có thể chơi được tất cả các nốt thăng giáng từ đó chơi các bản nhạc mà không gặp khó khăn. Vì vậy người chơi harp phải dùng cả chân và tay để biểu diễn. Vì vậy chuyện người bị liệt chân mà chơi đàn harp là hầu như không thể có được. Tất nhiên vẫn có một xác suất nhỏ cho chuyện đó có thể xảy ra, nếu như cô gái chơi đàn harp cổ, không dùng chân, hoặc chơi các tác phẩm mà không có sự thay đổi về giọng và không có nốt thăng giáng. Nhưng điều đó khó có thể xảy ra đối với âm nhạc hiện nay.

Đối với người đọc, biết những điều thế này có thể làm cho họ thất vọng, theo em nghĩ thì gặp những tình huống thế này không nên vứt bỏ đi những ấn tượng tốt về nó, bởi vì câu chuyện không chỉ có mỗi về cây đàn, ý nghĩa của nó cũng khá sâu sắc. Tuy vậy, nếu xét trên quan điểm của một nghệ sĩ chẳng hạn, người viết câu chuyện đó không được đứng đắn khi lợi dụng vẻ đẹp của cây đàn để chiếm cảm tình của người đọc (mấu chốt của câu chuyện là ở chỗ cô gái có đôi chân bị liệt nhưng lại có đôi bàn tay chơi đàn kì diệu là sự kiện bất hợp lí). Khác với những chi tiết cho phép người viết hư cấu trên thực tế, những chi tiết thế này không chấp nhận những sự bất hợp lí do thiếu hiểu biết của người viết. Việc viết lách mà như thế thì tác phẩm cũng mất đi giá trị của nó. Tuy vậy người đọc vẫn có quyền giữ lại cho mình ấn tượng và cảm xúc ban đầu của mình, bởi vì nghệ thuật là chắt lọc những cái tinh tuý từ những cái phù phiếm, chắt lọc cái đẹp đẽ từ những cái tưởng chừng như xấu xí, tìm ra cái tốt dù hiếm hoi trong hai mặt của bất kì bản thể nào.

Những người dịch văn học trong quá trình dịch thuật gặp phải những thuật ngữ hoặc chi tiết liên quan đến NCĐ mình không nắm rõ mà biết tìm hỏi những ai hiểu biết về NCĐ hơn mình (trên diễn đàn này chẳng hạn :D ) chứ không dịch bừa mới là “dịch giả ngoan”, nhỉ chị Tykva nhỉ ? :D Chắc hồi dịch phần À l'ombre des jeunes filles en fleur (Dưới bóng những cô gái tuổi hoa) trong bộ À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust, vì chưa có diễn đàn của chúng ta nên dịch giả Nguyễn Trọng Định đành phải dịch một câu như sau : Chính các khúc nhạc bốn phần của Beethoven (các khúc XII, XIII, XIV và XV) đã phải bỏ ra năm mươi năm để sản sinh và phát triển công chúng của chính chúng ...

Trời ạ ! "khúc nhạc bốn phần" là thể loại gi thế nhỉ ? là tác phẩm có bốn chương à ? giao hưởng chăng ? Tìm đọc nguyên tác thì thấy một đoạn rất hay thế này :

Ce sont les quatuors de Beethoven (les quatuors XII, XIII, XIV et XV) qui ont mis cinquante ans à faire naître, à grossir le public des quatuors de Beethoven, réalisant ainsi comme tous les chefs-d’uvre un progrès sinon dans la valeur des artistes, du moins dans la société des esprits, largement composée aujourd’hui de ce qui était introuvable quand le chef-d’uvre parut, c’est-à-dire d’être capables de l’aimer.

À thì ra là "tứ tấu" (tiếng Pháp là quatuor) !

Ngoài ra bản dịch nói trên của Nguyễn Trọng Định (Nhà xuất bản Văn học 2006) còn mắc thêm lỗi khi chú thích Wagner là văn hào Đức cho một đoạn nhắc đến nhân vật Klingsor (trong opera Parsifal (http://www.classicalvietnam.info/modules.php?name=Writtings&op=Detail&cid=282) của Wagner). Đành rằng ngoài là Nhà soạn nhạc, Wagner còn là nhiều “nhà” nữa nhưng chú thích như thế thì thật buồn cười. Hay là dịch giả cố tình chú thích là “văn hào” vì biết được Wagner đồng thời là tác giả libretto của Parsifal nhỉ ? :D

kiki
24-04-2007, 17:51
Em chẳng là ai
Thơ : Emily Dickinson
Dịch thơ : kiki

Em chẳng là ai! Anh là ai?
Anh cũng chẳng là ai, phải không?
Vậy có đôi mình – anh chớ nói!
Kẻo họ cản ngăn mình, biết không.

Thê thảm sao khi là ai đấy!
Lộ liễu sao, như một con ếch
Cứ xướng danh mình suốt cả ngày
Với một cái đầm lầy hâm mộ!

I'm nobody! Who are you?
Are you nobody, too?
Then there's a pair of us - don't tell!
They'd banish us, you know.

How dreary to be somebody!
How public, like a frog
To tell your name the livelong day
To an admiring bog!

Tykva
25-04-2007, 10:16
Hôm nay nhân một ngày đẹp trời Tykva xin phép được post lên đây một bài về Pasternak và một số bản dịch thơ Pas được post trên NNN từ lâu.

Boris Pasternak trong thi ca Nga Xôviết

Boris Leonidovich Pasternak sinh ở Matxcơva. Cha ông là hoạ sĩ, còn mẹ là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng. Từ nhỏ ông đã sống trong môi trường nghệ thuật. Ngôi nhà tuổi thơ của ông nhà nơi lui tới của các nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà văn, trong số đó có cả Lev Tolstoi.

Từ năm 13 tuổi cậu bé Pasternak đã say mê âm nhạc bởi chịu ảnh hưởng của nhà soạn nhạc vĩ đại A.N.Skriabin. Thế nhưng năm 1909 ông chia tay với ước vọng sáng tác của mình để nghiên cứu triết học và trở thành sinh viên ngành triết, khoa Lịch sử và Ngữ văn ĐHTH Matxcơva. Để tự hoàn thiện mình trong lĩnh vực triết học ông sang Đức, vào học trường ĐHTH Marburg. Dù có những thành công nhất định trong triết học, nhưng một lần nữa ông lại từ bỏ nó, như đã một lần chia tay với niềm say mê âm nhạc của mình.

Pasternak bắt đầu làm thơ. Năm 1914 tuyển tập đầu tay dưới nhan đề “Sinh đôi trong những đám mây” ra mắt bạn đọc. Thi ca trở thành số phận, thành mảnh đất phát triển tài năng của ông. Trong thi ca đã bao gồm cả những niềm say mê trước kia của ông như âm nhạc và triết học.
Trong một bài thơ tặng Pasternak, A. Akhmatova viết: “Ông được trời cho tuổi thơ vĩnh hằng”

“Tuổi thơ vĩnh hằng” chính là bản chất của nhân cách Pasternak trong thi ca. Ông nhìn cuộc sống bằng đôi mắt mở to, và cuộc sống luôn làm ông kinh ngạc, thán phục với những biểu hiện lôi cuốn tuyệt trần. Giai đoạn đầu trong sáng tác của mình Pasternak viết những dòng thơ cầu kỳ, dành cho một số bạn đọc hạn chế có khả năng đánh giá tài năng của ông. Bước ngoặt lớn đã đến vào giữa thập kỷ 20, khi nhà thơ bắt đầu viết về các đề tài xã hội. Thực chất của sự thay đổi đề tài này đã được Gorky hiểu rất chính xác, trong một bức thư gửi nhà thơ sau khi đọc trường ca “Năm 95” Gorky viết: “Một tác phẩm xuất sắc, nằm trong số những tác phẩm sẽ tồn tại dài lâu. Tôi không dấu ông điều này: Trước cuốn này tôi luôn cảm thấy hơi căng thẳng khi đọc thơ ông, bởi thơ ông quá dày đặc những hình tượng mà đôi khi tôi không hiểu được... Trong “Năm 95” ông viết kiệm lời hơn và dễ hiểu hơn. Ông trở nên kinh điển hơn với tác phẩm này, một tác phẩm tràn đầy cảm hứng mà tôi, như một bạn đọc, có thể tiếp nhận một cách nhanh chóng và dễ dàng”.

Sự phát triển tiếp theo của Pasternak trong thi ca đúng theo con đường mà Gorky đã nhận ra: Trở nên “kiệm lời hơn, kinh điển hơn và dễ hiểu hơn”.
Sự nghiệp văn học của Pasternak vô cùng đa dạng. Ông sáng tác những tác phẩm văn xuôi lớn, đạt được sự hoàn thiện trong lĩnh vực dịch thuật, tuy nhiên, thi ca luôn là một phần rất quan trọng trong sáng tác của ông, thể hiện một tài năng lớn khi mô tả những sắc thái tình cảm sâu sắc và tinh tế nhất của con người qua những bức tranh thiên nhiên được viết với tình cảm thiết tha. Pasternak khâm phục mọi vẻ đẹp của cuộc sống và tự nhiên, ông tìm kiếm và cảm nhận vẻ đẹp đó ở khắp nơi.

Tykva
25-04-2007, 10:22
БЕЗ НАЗВАНИЯ

Недотрога, тихоня в быту,
Ты сейчас вся огонь, вся горенье,
Дай запру я твою красоту
В темном тереме стихотворенья.

Посмотри, как преображена
Огневой кожурой абажура
Конура, край стены, край окна,
Наши тени и наши фигуры.

Ты с ногами сидишь на тахте,
Под себя их поджав по-турецки.
Все равно, на свету, в темноте,
Ты всегда рассуждаешь по-детски.

Замечтавшись, ты нижешь на шнур
Горсть на платье скатившихся бусин.
Слишком грустен твой вид, чересчур
Разговор твой прямой безыскусен.

Пошло слово любовь, ты права.
Я придумаю кличку иную.
Для тебя я весь мир, все слова,
Если хочешь, переименую.

Разве хмурый твой вид передаст
Чувств твоих рудоносную залежь,
Сердца тайно светящийся пласт?
Ну так что же глаза ты печалишь?

Không đề

Thường ngày lặng lẽ, hay hờn dỗi,
Em giờ như ngọn lửa cháy bừng bừng
Để anh mang nhan sắc em hiếm thấy
Giam vào lâu đài thơ tối tăm.

Em xem này, bóng chập chờn biến đổi
Trong vầng lửa hắt trên chao đèn.
Nhà tồi tàn, đầu tường, rìa cửa sổ
Bóng chúng mình, và dáng anh bên em.

Em ngồi xếp bằng trên ghế đệm
Hai chân thu kiểu Thổ uy nghi
Bất kể dù ngoài sáng hay trong tối
Em thường lý luận kiểu trẻ thơ.

Em xâu chuỗi hạt khi mộng mơ
Từng vốc cườm em để lăn trên váy.
Vẻ mặt em sao buồn, sao quá buồn như vậy
Chuyện em kể cũng thẳng thắn, đơn sơ.

Khi tình yêu bắt đầu, em lúc nào cũng đúng.
Anh sẽ đặt thêm cho em một cái tên.
Nếu em muốn, vì em anh sẽ đổi
Cả thế giới này, mọi từ ngữ thân quen.

Chẳng lẽ vẻ ngoài em ảm đạm,
Xứng với tâm hồn tiềm ẩn bao tình cảm?
Và lớp quặng vàng rọi sáng trái tim?
Vậy vì sao, vì sao mắt em buồn?

kiki
06-05-2007, 11:16
Giời đất ơi ! kiki thất vọng quá cả nhà ạ ! Từ xưa đã rất yêu thích loài chim thiên nga vì không những chúng đẹp mà còn là giống chim thủy chung (một vợ một chồng chung thủy trọn đời). Ai dè hôm nọ xem tivi thấy đưa tin các nhà khoa khọc khám phá ra rằng các con thiên nga mái chỉ giả vờ thủy chung ban ngày thôi, còn ban đêm chúng đi lăng nhăng với những con thiên nga trống khác (không phải ông chồng ban ngày của mình). Cũng theo mấy nhà khoa học này thì cứ 5 con thiên nga ra đời sẽ có 1 con là sinh ngoài giá thú. Và nếu ông thiên nga chồng phát hiện ra điều này thì sẽ từ chối nghĩa vụ làm chồng…:D


Đả đảo mấy nhà khoa học này !

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/bb/SwansCygnus_olor.jpg/256px-

Tình yêu

Guy de Maupasant
kiki dịch


Tôi vừa đọc trong mục tin vặt trên báo một bi kịch của tình yêu say đắm, Chàng yêu nàng vậy mà lại giết nàng rồi tự sát. Chàng và nàng thì có quan trọng gì chứ ? Chỉ tình yêu của họ đáng làm tôi quan tâm ; và điều đó chẳng hề làm tôi hứng thú nếu chỉ vì khiến tôi mủi lòng hay ngạc nhiên, hoặc vì khiến tôi xúc động hay suy nghĩ, nhưng là bởi nó làm tôi nhớ lại một kỉ niệm trong thời trẻ của mình, một kỉ niệm lạ lùng về chuyến đi săn mà tình yêu đã hiển hiện với tôi như những cây thập tự hiển hiện giữa trời với những tín đồ Công giáo đầu tiên.

Tôi sinh ra với mọi bản năng và cảm xúc của người sơ khai, được tiết chế bởi những luân lý và cảm xúc của người văn minh. Tôi yêu thích săn bắn đến độ đam mê. Cảnh tượng con vật chảy máu, máu dây trên bộ lông vũ, máu trên tay tôi làm tim tôi đập rộn ràng ngây ngất.

Năm đó, vào độ cuối thu. Không khí lạnh đột ngột tràn về và Karl de Rauville, một trong những người anh họ của tôi, gọi tôi tới để cùng anh săn vịt trong đầm lấy vào lúc bình minh. Anh họ tôi, hoạt bát ở tuổi bốn mươi, đỏ đắn, mạnh khoẻ, râu rậm, một quý tộc của thôn quê, đáng yêu pha chút thô bạo, tính khí vui nhộn thiên bẩm của người Gô-loa khiến vẻ tầm thường hoá thành dễ mến, sống trong một kiểu lâu đài khép kín ở một thung lũng có sông chảy qua. Trong những khu rừng già của điền chủ bao phủ những ngọn đồi hai bên tả hữu vẫn còn lại những cái cây tuyệt đẹp nơi chim chóc hiếm thấy nhất vùng này của nước Pháp.
Ở đấy đôi khi người ta giết được cả đại bàng. Những con chim di cư, những con mà hầu như chẳng bao giờ đến những xứ sở đông người của chúng ta, đậu lại gần như cố định trên những cành cây già cỗi cứ như thể chúng đã quen thuộc hoặc nhận ra một góc rừng từ thời xưa đã có ở đó để dọn sẵn cho chúng chỗ trú ngụ trong khoảng thời gian nghỉ đêm ngắn ngủi.

Trong thung lũng là một đồng cỏ lớn được tưới tiêu bằng những mương nước và được những hàng rào phân cách ; Rồi xa hơn là con sông, dồn nước về và tràn vào một đầm lầy lớn. Cái đầm lầy này, vùng săn tuyệt diệu nhất mà tôi từng thấy, là tất cả những mối âu lo của anh họ tôi, người đã khoanh vùng nó như một bãi nuôi. Băng qua một đám lau sậy lớn rì rào, xao động, bao phủ đầm lầy, mang lại sinh khí cho nó , người ta đã vạch ra những con đường hẹp mà thuyền dẹt dẫn lái bằng sào lặng trôi trên mặt nước yên tĩnh, lướt qua những đám song mây, khiến lũ cá trốn nhanh qua đám cỏ và lũ gà rừng rúc cái đầu đen và nhọn đột nhiên lủi mất.

Tôi yêu thích nước bằng sự đam mê vô lối : biển cả dẫu rằng quá lớn, quá sôi động và không thể sở hữu ; những con sông thật đẹp nhưng chảy trôi đi mất, và nhất là những đầm lầy nhộn nhịp vì sự hiện hữu của tất thảy những loài thuỷ cư vô danh. Đầm lầy, đó là một thế giới trọn vẹn trên mặt đất, một thế giới khác lạ, có cuộc sống riêng, dân định cư và du khách ngang qua, có tiếng nói, âm thanh và những bí mật ở khắp mọi nơi. Đôi khi chẳng có gì rối loạn, đáng lo ngại và khủng khiếp hơn một đầm lầy. Sao mà nỗi lo sợ này lại bay lượn trên những đồng cỏ trũng ngập nước ? Có phải là bởi những làn sóng rì rầm của lau sậy, những đốm lửa ma trơi lạ lùng, sự im lặng thẳm sâu bao trùm trong một đêm yên ắng, hoặc giả đám sương mù kỳ cục kéo trên những thân song mây như những tấm áo váy của người chết, hay còn là tiếng tắc lưỡi khó nhận thấy, thật nhẹ, thật êm hoặc đôi khi kinh dị hơn là tiếng súng của người hay tiếng sấm trời làm cho đầm lầy tựa như những xứ sở mộng mơ, những xứ sở nguy hiểm đang che dấu một bí mật không sao hiểu nổi và nguy hại. Không phải, một bí mật nổi trội hơn, một bí mật sâu sắc hơn, nặng nề hơn, bồng bềnh trong sương mù dày đặc, bí mật có lẽ cũng như sự sáng tạo vậy ! Chẳng lẽ không phải vì chính trong nước tù đọng và bùn lầy, trong hơi ẩm nặng nề của đất ướt, dưới sức nóng của mặt trời mà mầm sống đầu tiên đã xao động, rung rinh, ló mình ra ánh sáng hay sao ?

Tôi đến nhà anh họ vào buổi tối, Trời giá lạnh đến đá cũng phải nẻ.
Trong bữa tối ở căn phòng lớn mà bàn tủ, những bức tường và trần nhà được phủ đầy những con chim hoang, với đôi cánh trải rộng hoặc treo trên những nhánh móc bằng đinh, những con diều hâu, diệc, cú vọ, cú muỗi, chim ưng, chim diều mốc, kền kền, chim cắt, anh họ tôi trông như một con vật lạ lùng của xứ lạnh, mặc một áo giắc-két bằng da hải cẩu, đã kể cho tôi cách thức mà anh nắm bắt được cho một đêm như thế này. Chúng tôi phải khởi hành lúc 3h30 sáng để vào khoảng 4h30 đến được địa điểm chúng tôi đã chọn mai phục. Người ta đã cất ở chỗ đó một căn lều bằng những phiến băng để chúng tôi trú ngụ chốc lát chống lại thứ gió khủng khiếp đã tràn về trước một ngày. Gió này mang theo giá lạnh xé da thịt như lưỡi cưa, cắt như dao, châm như ngòi chích tẩm độc, vặn xoắn như kìm và rát như lửa. Anh họ tôi xát hai bàn tay vào nhau và nói : “ Anh chưa từng thấy một mùa đông nào lạnh đến thế, lúc 6h chiều, đã là 12 độ âm rồi.” Tôi quăng mình lên giường ngay sau bữa ăn và ngủ trong ánh sáng bập bùng của một ngọn lửa lớn đang cháy trong lò sưởi của mình.

Khi đồng hồ điểm 3h, tôi được đánh thức dậy, Tôi khoác lên người một tấm da cừu và thấy anh họ Karl của mình mặc một áo lông gấu. Mỗi người sau khi uống hai tách cà phê nóng uống tiếp hai cốc sâm-panh hảo hạng. Chúng tôi khởi hành cùng với một người hầu cận và hai con chó của chúng tôi là Plongeon và Pierrot.

Ngay những bước đầu tiên ở ngoài trời, tôi đã cảm thấy giá lạnh đến tận xương tuỷ. Đó là một trong những đêm mà mặt đất dường như chết cóng. Không khí đóng băng thành cứng nhắc, có thể rờ được đến là đau ; không một luồng khí nào lay động ; trời đông cứng, bất động. Nó gặm nhấm, xuyên qua, làm tê liệt, giết chết cây cỏ, côn trùng. cả những con chim nhỏ rơi từ cành cây xuống đất cứng cũng bị cứng lại như thế, dưới sự ghì siết của cái lạnh.

Trăng hạ tuần chếch hẳn về một mé, thật nhợt nhạt, lộ ra vẻ yếu ớt giữa không trung, yếu đến nỗi nó không thể lặn đi được nữa, và cứ ở lại trên cao đó, bị bầu trời khắc nghiệt tóm được và làm tê cóng. Nó trải một thứ ánh sáng lạnh lùng và buồn bã xuống trần gian, ánh sáng mờ mờ nhợt nhạt sắp lụi tàn này phát ra vào cuối chu kỳ trăng mỗi tháng.

Karl và tôi đi kề vai, lưng khom xuống, bàn tay đút túi và súng kẹp dưới cánh tay. Giày chúng tôi được bọc len để có thể bước trên sông băng tránh trơn trượt và không gây tiếng động ; Chúng tôi hút thuốc chốc lát trên bờ đầm rồi đi vào một trong những con đường đầy lau sậy khô dẫn qua cánh rừng thấp.

Khuỷu tay chúng tôi sượt qua những dải là dài, để lại phía sau tiếng động nhè nhẹ. Tôi cảm giác mình bị chộp lấy, như chưa hề cảm thấy trước đấy, bởi một xúc cảm mãnh liệt và kỳ cục mà những đầm lầy làm nảy sinh trong tôi. Nó đã chết, chính cái đầm lầy ấy, chết vì giá lạnh bởi vì chúng tôi đang bước giữa những đám song mây khô khốc của nó.

Đột nhiên, ở khúc ngoặt của con đường, tôi nhận ra một cái lều băng mà người ta đã dựng cho chúng tôi dùng trú ẩn. Tôi vào đó và vì chúng tôi vẫn còn gần một giờ để chờ những con chim lang thang thức dậy, tôi cuộn mình trong tấm chăn cố thử sưởi ấm.
Và rồi, nằm ngửa ra, tôi bắt đầu ngắm nghía mặt trăng biến dạng. Nó có bốn cái sừng yếu ớt xuyên qua bức vách trong của ngôi nhà băng này.
Nhưng cái giá lạnh của đầm lầy đông cứng, cái lạnh của những bức tường dày này, cái lạnh từ trời dổ xuống đã sớm xuyên thấu tôi một cách khủng khiếp khiến tôi bắt đầu ho.
Anh họ tôi lo lắng bảo : “ Nếu hôm nay chúng ta không săn được con gì lớn thì cũng chẳng sao, anh không muốn chú bị cảm lạnh, chúng ta sẽ đốt lửa.” Và anh ra lệnh cho người cận vệ cắt lau sậy.
Người ta đánh một đống lau sậy lớn giữa lều khơi thông ở đỉnh để khói thoát được ; Lúc ngọn lửa đỏ cháy lên dọc theo những vách ngăn bằng tinh thể trong suốt, nó phản chiếu lại và ngay sau khi những phiến băng đổ mồ hôi, chúng tan chảy một cách nhẹ nhàng. Karl vẫn còn ở bên ngoài gọi tôi :” Lại đây mà xem này.”

Tôi bước ra và ngạc nhiên tột độ. Túp lều của chúng tôi ở dạng hình nón, có dáng vẻ của một quái vật bằng kim cương, từ lòng nó ngọn lửa đột ngột phụt lên mặt nước đóng băng của đầm lầy. Và ở bên trong, thấy hai bóng hình mờ ảo, đó là hình dáng lũ chó của chúng tôi đang sưởi ấm.
Nhưng một tiếng kêu lạ lùng, tuyệt vọng, phiêu diêu vọng qua đầu chúng tôi. Ánh sáng mờ mờ của lửa sưởi đã đánh thức lũ chim hoang dã.

Chẳng có gì làm tôi xúc động như âm thanh khởi đầu này của sự sống không hề nhìn thấy, vọng trong không khí u buồn, thật chóng vánh, thật xa xăm, trước khi tia sáng đầu tiên của một ngày mùa đông xuất hiện ở đường chân trời. Trong giờ phút giá lạnh này của bình minh, đối với tôi, dường như tiếng kêu trốn chạy cất lên bởi con vật có lông vũ ấy là một tiếng thở dài của linh hồn người !

Karl bảo : “Dập lửa đi, rạng đông rồi.”
Trời quả thực bắt đầu chuyển màu xanh tái và lũ vịt kéo nhau lướt nhanh thành những vệt dài trên bầu trời và nhoà đi nhanh chóng.
Một tia sáng mờ mờ loé lên trong đêm tối, Karl vừa mới bắn, hai con chó đã phóng lên.
Thế rồi, từ phút này sang phút khác, khi thì anh ấy, khi thì tôi, chúng tôi nhanh nhẹn ngắm bắn ngay khi có bóng dáng một đàn đang bay hiện ra trên đám lau sậy.
Còn Pierrot và Plongeon thì thở dốc, mừng rỡ. Chúng tôi thu về những con chim vấy máu mà con mắt đôi khi vẫn còn nhìn chúng tôi.

Trời đã sáng, một ngày xanh trong ; mặt trời hiện ra trên thung lũng và chúng tôi nghĩ đến việc quay về. Khi có hai con chim vươn thẳng cổ và dang cánh bất ngờ lướt nhanh trên đầu chúng tôi, tôi kéo cò. Một con rớt xuống gần chân tôi. Đó là một con le le bạc bụng. Thế rồi có một tiếng, một tiếng chim kêu thét trong không trung phía trên tôi.
Đó là một lời thở than ngắn ngủi, lặp lại, não lòng. Con chim, con chim còn lại bắt đầu vừa lượn tròn trên nền trời xanh phía trên chúng tôi vừa nhìn cô bạn đã chết của nó đang nằm trong tay tôi.

Karl quỳ gối, súng đặt trên vài, mắt háo hức, rình và đợi cho nó đến đủ gần
- Chú đã giết con mái, anh nói, con đực sẽ không bay đi nữa đâu.
Quả thực, nó không hề bay đi, nó luôn vòng lại và than khóc xung quanh chúng tôi.
Chưa có tiếng rên rỉ đau đớn nào lại làm tôi não lòng như tiếng kêu đau buồn, như lời oán trách thảm thương của con vật tuyệt vọng tội nghiệp này trong không trung.
Đôi khi, nó trốn khỏi tầm đe doạ của cây súng hướng theo đường bay của nó ; nó dường như chuẩn bị tiếp tục hành trình của mình, hết sức cô đơn ngang qua bầu trời. Nhưng rồi không thể quyết định được, nó lại sớm quay về tìm con mái của mình.

“Hãy để bạn nó trên mặt đất, Karl nói, lát nữa nó sẽ quay lại đấy.”
Quả thực, nó bay lại gần, chẳng nghĩ gì đến hiểm nguy, hoảng hốt vì tình yêu ngốc nghếch của mình, để tìm con chim mà tôi đã giết.
Karl bắn, giống như thể người ta cắt sợi dây treo giữ con chim. Tôi thấy một vật đen rớt xuống và nghe một tiếng rơi trong đám lau sậy. Pierrot mang nó lại cho tôi.

Tôi để chúng, đã giá lạnh, trong cùng một túi săn... và khởi hành về Paris ngay hôm ấy.

convich
26-05-2007, 13:51
Truyện ngắn "chiếc phong cầm của bố tôi",tác giả: Dương Như Nguyện
http://vietbay.com/thoivan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=185

convich
26-05-2007, 14:19
Chiếc Phong cầm trong nhà thờ cổ



Nơi tôi ở trọ gần một nhà thờ. Mỗi buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, tôi thường ngồi ở ghế xích đu trước hiên nhà, nhìn thiên hạ đi lễ và chờ đợi tiếng chuông vang lên báo hiệu buổi lễ tối bắt đầu. Không hiểu sao tiếng chuông kia quyến rũ tôi rất nhiều. Như con chó của Pavlov đã có phản ứng ứa nước miếng mỗi khi nghe tiếng chuông rung dù không có miếng thịt trước mặt, tâm hồn tôi cũng có phản ứng khát khao mãnh liệt một đức tin mỗi khi nghe chuông nhà thờ đổ, dù tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa giáo.

Buổi chiều nay trời quá nóng. Bữa ăn chiều xong đã lâu. Ngồi đợi mãi vẫn chẳng thấy các con chiên đi lễ và cũng chẳng nghe tiếng chuông đổ, tôi uể oải đi ra biển hóng gió. Con đường dẫn ra biển phải đi vòng phía sau nhà thờ và ngang qua những dãy nhà lá chất đầy những chiếc rổ nhỏ được người lớn, trẻ em đua nhau đan, để bán cho các nhà thầu buôn cá hấp đem lên các tỉnh ở miền cao nguyên. Vượt qua một cồn cát đầy những cây xương rồng hoa nở đỏ ối, tôi đối diện ngay với mặt biển xanh thẩm. Lẫn trong ngọn gió mát từ ngoài khơi thổi vào, thỉnh thoảng có mùi tanh nồng của những con cá óc nóc nằm chết trên bờ gần mé nước. Tôi tiếp tục đi bộ thẳng xuống nơi có miếu thờ cá ông, nơi đó không khí trong lành hơn, vì xa khu dân chài đông đúc.

Trên bãi cát phẳng mịn có nhiều chiếc ghe được kéo lên nằm chờ con nước. Tôi đến ngồi trên một lưng ghe đen bóng, che gió châm thuốc hút, rồi nhìn chăm chăm mặt biển êm. Tôi thầm mong mình sẽ gặp con K. như nhà văn Ý Dino Buzzati đã mô tả. Theo truyền thuyết, con K. là một loài quái vật sống ở biển, nó luôn luôn sát hại kẻ nào đã lỡ nhìn thấy đó, dù cho kẻ đó có tìm mọi cách để chạy trốn. Tôi tưởng tượng con K. có đôi mắt thật lớn (tôi luôn luôn thích những đôi mắt lớn) và rồi chúng tôi sẽ im lặng nhìn nhau trong suốt đêm nay. Phải có một cái gì theo đuổi mình suốt đời dù là kẻ thù (như con K.) tôi thấy đời sống cũng đỡ tẻ nhạt.

- Chị xem ông kia tức cười không?

- Um, để người ta ngồi suy nghĩ.

Chắc tôi không quay lại nếu tôi không nghe tiếng "Um" lạ tai đó. Có hai chị em gái đang đi vòng phía sau chiếc ghe tôi đang ngồi. Tôi cười hỏi cô em nhỏ:

- Trông tôi tức cười lắm sao?

Cô nhỏ giơ tay chỉ.

- Tóc ông bay trông giống như con gái.

Cô chị cú lên đầu em nhỏ rồi nhìn tôi.

- Nó liếng lắm, xin ông đừng chấp.

Lúc này tôi mới nhận ra cô chị chính là người thường mặc áo dài trắng đi lễ ngang qua chỗ tôi ăn cơm. Em là một con chiên ngoan đạo và tôi thường nói với bạn bè : trông khuôn mặt dịu hiền của em, chắc lớn lên em phải đi tu, vì đời sống trần tục này không có chỗ nào dung chứa khuôn mặt đó mà không làm nó hư hỏng đi. Tôi hỏi cô chị:

- Chiều nay em không đi nhà thờ?

- Dạ em đã đi lễ buổi sáng. Ông thường đi chầu buổi chiều?

- Không. Tôi thường thấy em đi ngang qua nơi tôi ở trọ.

- Vậy ông là người ở xa đến đây?

- Phải.

- Nơi đây buồn quá trời, ông đến đây làm gì?

- Tôi đến để "bắt ốc hái rau" sống qua ngày.

- "Bắt ốc hái rau", nghề gì kỳ vậy?

- Tôi cũng không hiểu nữa. Một ông bạn người Huế nói việc làm của tôi như vậy và tôi cũng chỉ biết vậy. Có lẽ ông ấy muốn ám chỉ việc làm của tôi rất nhàn và chẳng kiếm được bao nhiêu tiền.

Cô bé cười:

- Làm công việc nhàn thật khỏe. Em cũng mong được đi "bắt ốc hái rau" như ông.

Tôi lắc đầu cười.

- Chẳng khỏe gì đâu. Ðói lắm!

Những nụ cười đã giúp chúng tôi nói chuyện với nhau cởi mở hơn. Cô bé hỏi tôi đã thấy thích quận lỵ nhỏ bé này chưa. Tôi nói: "Người ở đây nhiều tình nghĩa lắm !" Em nói: "Ông định "mọc rễ" luôn ở đây không ?". Tôi cười đáp: "Nếu nhà em còn đất, tôi sẵn sàng "mọc rễ" ở đó". Cô bé vội cúi đầu, tóc xõa che lấp khuôn mặt. Một lúc sau ngẩng mặt lên, em hỏi lảng sang chuyện khác.

- Khi nãy gặp ông, em thấy ông nhìn chăm chăm như muốn tìm kiếm cái gì ở biển vậy?

Tôi không biết nói với em tôi đã tìm kiếm cái gì. Tôi chẳng thể nói ra ý định muốn gặp con K. kỳ quặc. Nhưng sợ hết chuyện nói, cô bé sẽ đòi đi về, nên tôi đã bịa ra tôi đã đánh rơi một vật quí giá xuống biển và tôi tin biển sẽ đem trả lại tôi. Nghe xong câu chuyện, cô bé ngạc nhiên hỏi:

- Ông đánh rơi cái gì vậy?

Tôi đáp gọn lỏn.

- Ðức tin.

Cô bé trố mắt nhìn tôi.

- Người ta có thể tìm thấy "đức tin" ở biển?

- Chứ em nói tôi phải tìm ở đâu bây giờ?

- Theo em, ông chỉ có thể tìm thấy ở nhà thờ.

- Chắc không?

- Chắc chắn. Ông cứ đến nhà thờ rồi ông sẽ tìm thấy đức tin.

- Vậy ngay chiều mai tôi sẽ đến nhà thờ dù cho tôi là một người ngoại đạo.

- Chúa ơi ! Ông là người ngoại đạo?

- Vậy chắc tôi không thể tìm thấy đức tin ở nhà thờ phải không?

Cô bé nhíu mày suy nghĩ một lát, rồi đáp:

- Chúa đã dạy "Hãy tìm sẽ thấy". Ông cứ đến nhà thờ đi. Bây giờ trời tối rồi, em xin phép ông dẫn em nhỏ về kẻo ba má trông.

Hai chị em cô bé chậm rãi đi về phía có dốc cát cao để vào phố. Dốc cát đầy những bụi xương rồng rậm rạp che khuất cô em và tôi chỉ nhìn thấy đôi vai của cô chị nhô lên in rõ trên bầu trời tím hồng. Trước khi em xuống dốc, tôi thấy em quay lại nhìn về phía tôi. Ðôi mắt em đen, mở lớn và mặc dù cách một khoảng xa, tôi vẫn tin mình đã tìm thấy đôi mắt kia khẽ chớp. Ngay buổi chiều hôm sau tôi đi đến nhà thờ. Ðây là một nhà thờ cổ có màu vôi trắng, nhưng từ lâu lớp vôi chưa được quét lại nên biến thành màu xám nhạt. Trên gác chuông cao nhô lên từ phía sân sau, tôi thấy còn có treo một chiếc trống lớn, tôi rất ưa thích nhà thờ này bởi vẻ đơn giản và cổ kính của nó. Tôi không ưa được những nhà thờ tân tạo với kiến trúc đồ sộ và trang hoàng rắc rối. Tôi có cảm tưởng người ta khó mà tìm thấy đức tin ở một nơi đồ sộ và rắc rối như thế.

Bên trong nhà thờ không rộng lắm, chỉ vừa đủ kê hai dãy ghế dành riêng cho nam và nữ tín đồ. Trên tường có treo những bức tranh tả lại cuộc đời của Chúa, lồng trong những khung kính cũ mờ. Cha cả đang giảng kinh ở bục cao. Cha nói về sự hy sinh của Chúa để cứu vớt nhân loại và cha mong các tín đồ hay cố gắng noi theo gương sáng của ngài, để giúp con người bớt đau thương. Khi cha giảng xong, mọi người quỳ gối xuống và bắt đầu đọc kinh. Tôi không thuộc kinh, không biết làm dấu thánh, nên lẳng lặng ngồi im nhìn tượng Chúa đóng đinh trên thập giá bằng gỗ nâu bóng.

Ðiện trong nhà thờ không quá sáng. Bóng tối còn ẩn nấp ở gầm ghé và lảng vảng ở khung cửa sổ mở ra một khu vườn rộng. Chúa đã phán "Ta là ánh sáng". Nhưng cũng may, các tín đồ của Ngài không để nơi thờ phụng sáng rực, như một ngọn đèn néon cực mạnh. Người ta đã biết giữ lại bóng tối để giúp con người dễ tạo đức tin và dễ cảm thấy khát khao ánh sáng.

Bài kinh chấm dứt, các tín đồ ngồi lại ngay ngắn trên ghế. Tiếng phong cầm đột nhiên vang lên cùng lúc với tiếng đồng ca của các em gái mặc áo dài trắng. Tiếng đàn nghe thánh thót như những giọt mưa đầu mùa và đôi lúc trầm ấm như ngọn gió mùa Xuân. Chiếc phong cầm thực sự đã mê hoặc tôi và tôi quay lại nhìn nó bằng đôi mắt trìu mến.

Nó nằm đó, sát một góc nhà thờ, phía bên trái cửa ra vào, lẫn trong bóng tối, nhưng tôi vẫn nhìn thấy nó rõ ràng. Toàn thân nó tỏa ra một thứ ánh sáng kỳ lạ như hào quang ở đầu các thiên thần và có lẽ chỉ mình tôi nhìn thấy điều đó. "Hãy tìm sẽ thấy". Tôi tin rồi Chúa sẽ mặc khải cho tôi, đức tin sẽ đến với tôi từ chiếc phong cầm cũ kỹ kia chứ không phải từ lời giảng dạy của cha cả đã vang lên đều đều qua máy phóng thanh.

Tiếng phong cầm ngưng. Buổi lễ đã xong và mọi người lặng lẽ ra về. Ðiện trong nhà thờ tắt hết, chỉ còn hai bóng đèn nhỏ màu vàng đục cháy sáng ở đầu hai cây nến đặt trên bệ thờ. Tôi nghe có tiếng cửa đóng nhẹ, nhưng vẫn ngồi im trên ghế. Tự nhiên tôi linh cảm hãy kiên nhẫn đợi chờ thêm chút nữa, rồi tôi sẽ thấy điều tôi bằng khát khao tìm kiếm. Tôi nhìn chăm chăm vào tượng Chúa như bị thôi miên và miệng lẩm bẩm : "Lạy Chúa ! Ngài đã nói "Ta là ánh sáng" nhưng sao mắt Ngài lại đầy bóng tối ? Ôi ! Nếu Ngài còn nói thêm "Ta cũng là bóng tối", chắc con đã quì gối phủ phục dưới chân Ngài".

Cơn mệt mỏi ùa chiếm thân thể, tôi uể oải đứng dậy, tôi ngạc nhiên thấy vị sư huynh trẻ tuổi vẫn còn ngồi bên chiếc phong cầm. Tôi gật đầu chào anh. Anh chào lại và mỉm cười.

- Ông đã cảm thấy mệt mỏi?

Tôi e thẹn đáp.

- Vâng, nhưng anh cũng biết tôi chẳng thể ngồi một mình ở đây lâu hơn nữa.

- Không sao, nếu thích, ông vẫn có thể ngồi lại. Người coi nhà thờ đã đi nghỉ, tôi sẽ đợi ông và đóng cửa sau.

- Như thế thật phiền. Chắc anh cũng có nhiều việc cần làm sau buổi lễ.

- Tôi làm việc rất khuya. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau được chứ?

Thấy sư huynh trẻ chuyện trò cởi mở, tôi vui vẻ nói cho anh biết tôi là một người ngoại đạo và đang đi tìm đức tin. Tôi cũng xin lỗi không biết gọi anh bằng gì, gọi "ông" như thế khó nghe quá. Anh nói: "Thôi chúng ta cứ gọi nhau bằng "anh" cho tiện". Rồi anh kể anh là người Bùi Chu đi tu từ nhỏ, di cư vào Nam sống ở Biên Hòa và ra đây ở đã được ba năm.

Con chiên ở đây rất ít nên anh đều quen mặt. Ngay khi tôi bước vào nhà thờ lúng túng tìm một chỗ ngồi, anh đã nhận ra tôi mới tới đây lần đầu và không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Anh cũng đoán được tôi là người đang đi tìm đức tin. Ðức tin thật khó đến với một người ở tuổi tôi, nếu không có ai hướng dẫn.

Tôi nói, tôi muốn tự mình tìm kiếm đức tin dù có khó khăn. Tôi không thích nhờ vả bất cứ ai, ngay cả giáo lý. Tôi đã chán nghe lời giảng của các cha và cũng chán đọc những quyển sách kinh. Tôi tin một ngày nào đó Chúa sẽ nhắn nhủ tôi không phải qua một pháp lạ kỳ bí, mà có thể qua tiếng chuông nhà thờ đổ mỗi chiều hay qua tiếng đàn phong cầm mà anh đánh mỗi tối.

Vị sư huynh cười đáp:

- Anh đừng tin vào tiếng đàn của tôi. Tôi không phải là người đánh đàn giỏi.

Tôi cười nói:

- Ðánh đàn hay hoặc dở, điều đó đâu quan trọng. Ðiều quan trọng là tiếng đàn của anh đã vang lên đúng lúc. Chắc anh cũng đồng ý với tôi. Chúa không phải chỉ lựa chọn phát ngôn qua những người miệng lưỡi trôi chảy, có thể Ngài lựa chọn một người nói ngọng.

Vị sư huynh vỗ nhẹ lên chiếc phong cầm.

- Nghe anh nói, tôi nghĩ chắc anh mê chiếc đàn này lắm.

- Vâng. Bề ngoài trông có vẻ cũ kỹ nhưng thanh âm của nó nghe thật tươi mát và quyến rũ.

- Anh có thể đánh thử một bản nhạc anh thích.

Tôi lắc đầu.

- Tôi chưa đánh Harmonium lần nào.

- Không sao, anh đã nói : điều quan trọng không ở chỗ đánh đàn hay hoặc dở mà ta là đánh đúng lúc.

- Nhưng tôi không biết nhạc thánh ca.

- Anh có thể đánh một bản nhạc tình cảm.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Tôi có thể đánh một bản nhạc tình cảm ở đây?

Vị sư huynh mỉm cười:

- Tại sao không ? Biết đâu anh chẳng đánh đúng lúc.

Lạy Chúa, tôi thật xúc động. Ngồi xuống ghế, tôi mân mê nắp đàn đen bóng và không dám chạm tay xuống những phím đàn trắng ngà. Ðột nhiên như bị đồng nhập, tôi đã vội vàng đánh một đoạn nhạc nào đó tôi không biết tên, tôi cũng chẳng rõ mình đánh có đúng phím nhạc không. Tôi chỉ biết tôi tay tôi lướt đi thành thạo trên những phím ngà cho đến khi đột nhiên nó chấm dứt như lúc đó mới bắt đầu. Tiếng đàn còn âm vang trong nhà thờ run rẩy như hai bàn tay tôi một lúc lâu. Tôi gục đầu xuống mặt bàn và đã nhận ra điều tôi hằng tìm kiếm.

Tôi cảm thấy có bàn tay ai đặt lên vai mình, tôi ngẩng mặt lên bắt gặp khuôn mặt nghiêm trang của sư huynh trẻ. Giọng anh nói thì thầm:

- Tôi không tin anh đã đánh được đoạn nhạc đó.

Tôi đã khóc, nên mọi việc đều trở nên sáng sủa. Tôi đáp:

- Anh nói đúng. Tôi không đánh được đoạn nhạc đó. Chính chiếc đàn tự nó đã vang lên.

- Tôi nghĩ khác. Anh đã đánh đúng lúc và có người đã giúp anh.

- Không, chẳng ai giúp tôi. Chỉ có chiếc đàn đã giúp tôi đánh lên tiếng nhạc của lòng mình.

- Anh có tin đấy là một phép lạ?

- Nếu tin vào phép lạ, anh sẽ cho là Chúa đã giúp tôi đánh đoạn nhạc kia, vậy tôi chỉ tin vào chiếc đàn.

Vị sư huynh gằn giọng:

- Anh thật cứng đầu. Suốt đời, anh sẽ chẳng bao giờ tìm thấy đức tin.

- Vâng, suốt đời tôi sẽ chẳng tìm thấy đức tin nếu tôi cứ tiếp tục tìm kiếm ở những nơi thờ phụng Chúa. Cám ơn anh đã cho tôi có dịp đánh đàn. Tôi hứa sẽ không bao giờ đến đây làm phiền anh nữa.

Tôi biết vị sư huynh đang giận nên không bắt tay chào anh. Tôi không thích làm những điệu bộ thân thiện khi lòng thân thiện chẳng còn. Tôi lặng lẽ bước ra khỏi nhà thờ. Bầu trời cao xanh biếc không một đám mây. Sao lấp lánh như những mảnh kính vỡ vụn và mặt trăng non màu vàng nhợt không chiếu xuống chút ánh sáng nào. Gió từ biển thổi vào từng đợt mát lạnh. Những chòm dương trong sân nhà thờ phát ra tiếng kêu vo vo như tiếng gió thổi những sợi tóc bay qua tai. Ở đây mười giờ đêm đã là khuya. Mọi nhà đều đóng cửa và ngay cả những quá chè bán đêm dọc lề đường cũng đã dọn dẹp hết. Ði ngang qua căn nhà nằm sát mặt đường, cách nhà thờ một khoảng ngắn, tôi nhìn thấy bóng một người đang ngồi trên bậc tam cấp. Khi tôi đến gần, người đó đứng dậy.

- Ông vừa đánh một đoạn nhạc trong nhà thờ phải không?

Vì người đó đứng trong bóng tối, nên khi nghe nói xong, tôi mới nhận ra em là cô bé, tôi đã gặp ngoài bãi biển. Tôi nói:

- Nhà em ở đây à?

- Không, đây là nhà bà dì của em.

- Sao em biết tôi đã đánh một đoạn nhạc trong nhà thờ?

- Em ở trong ban hợp ca của nhà thờ nên rất dễ nhận ra tiếng đàn của vị sư huynh, vả lại, đoạn nhạc vừa rồi không phải là thánh ca. Ông đã tìm thấy điều ông muốn tìm không?

Tôi lắc đầu, nói:

- Tôi đã sai lầm khi đi tìm điều ấy ở nhà thờ.

- Sai lầm ? Vị sư huynh cũng không giúp gì cho ông?

- Chẳng ai giúp được tôi, trừ chiếc phong cầm.

- Chiếc phong cầm? Ông không nói đùa chứ?

Tôi kể lại trường hợp đánh đàn vừa qua. Tôi cố diễn tả thật giản dị để cho cô bé hiểu. Em gật đầu tỏ vẻ đã hiểu và còn hiểu hơn tôi nữa là khác. Em nói:

- Em tin Chúa đã giúp ông đánh đoạn nhạc đó. Chúa đã đến với ông, sao ông còn không tin Ngài?

Tôi thật sự chán nản. Cô bé này đã suy nghĩ y như vị sư huynh kia và tôi không biết phân giải làm sao cho em thay đổi ý kiến. Sau cùng tôi đành nói:

- Ðấy không là phép lạ của Chúa. Ðấy là phép lạ của chiếc phong cầm. Nó đã đáp lại lòng mến mộ của tôi. Nó đã phản ảnh lòng tôi như tấm gương phản ảnh gương mặt người soi. Chỉ giản dị như vậy.

- Câu chuyện không giản dị như vậy, nếu ông không tin vào Chúa.

- Trong trường hợp này, tôi nghĩ tin vào Chúa chỉ rắc rối thêm.

- Em xin ông đừng xúc phạm đến Ngài.

- Không, tôi chỉ nói thật điều tôi nghĩ. Tôi xin lỗi, nếu có xúc phạm đến đức tin của em.

- Với em, ông không cần phải xin lỗi. Ông hãy xin lỗi Chúa, vì đã lầm lỡ không tin Ngài.

- Tôi chẳng thể xin lỗi Ngài,vì nếu tôi làm như thế, chiếc phong cầm sẽ đau lòng ghê lắm!

- Dù cho em tha thiết cầu mong, ông cũng không xin lỗi Ngài?

- Không.

- Ông đã làm em đau lòng.

- Ðành vậy. Em đừng bắt tôi gian dối, em cũng biết Chúa rất ghét những người gian dối.

- Thật đáng buồn, chúng ta đã làm mất cơ hội để gặp lại nhau.

Cô bé quay người, bước vội vào bóng tối của căn nhà. Tôi thở dài buồn bã, đứng lặng im chẳng muốn bước đi. Rồi đột nhiên, tôi nghe có tiếng phong cầm trầm ấm từ nơi nào đó đang nhẹ nhàng vang vọng lại.

Đoàn Thạch Biền
_________________
chiều ,,lang thang ,,, tắm suối ,,một mình ....

chohu
28-05-2007, 11:52
Chiếc chìa khoá vàng

hay truyện ly kỳ của Buratino
Chương 9
Trên đường về nhà, Buratino gặp hai gã ăn xin:
mèo Badilio và cáo Alisa


http://www.fiveavenue.ru/images/childrenlogos/buratino.jpg


Sáng tinh mơ hôm sau, Buratino đếm lại số tiền. Bàn tay nó có bao nhiêu ngón thì nó có bấy nhiêu đồng tiền vàng:
năm đồng. Nó vừa chạy về nhà vừa nhảy nhót, bàn tay nắm chặt năm đồng tiền. Nó khe khẽ nói một mình:
- Mình sẽ mua một cái áo mới cho bố. Mình sẽ mua một đống tướng những bánh mật ong, những con gà bằng đường phèn.


http://zhgun.ru/pics/buratino.gif


Lúc rạp múa rối cùng những lá cờ phần phật bay đã khuất, nó thấy hai gã ăn xin kéo lê gót trên con đường bụi mù:
cáo Alisa đi khập khiễng ba chân và mèo Badilio mù cả hai mắt. Không phải là con mèo Bu-rati-nô gặp hôm qua ở ngoài phố. Con này cũng tên là Badilio, cũng có vằn. Buratino định mặc kệ chúng nó, nhưng cáo Alisa đã cất tiếng nói, giọng ngon ngọt:
- Chào chú Buratino, chú đi đâu mà vội thế?
- Về nhà đây, về nhà bố tớ đây.
Cáo thở dài nói, giọng càng ngon ngọt hơn:
-Không biết bố chú còn sống không. Tội nghiệp bác Carlo quá. Chẳng bao giờ bác khổ như lúc này, vừa đói lại vừa rét.
Buratino xòe bàn tay cho cáo xem năm đồng tiền vàng.
- Thế có cái này thì sao?
Thấy tiền vàng, cáo bỗng nhiên giơ chân lên, còn mèo thì giương thao láo hai con mắt sáng như hai ngọn đèn xanh lè. Bura- ti-nô chẳng thấy điều ấy.
- Chú Buratino ngoan quá... Chỗ tiền ấy, chú định dùng làm gì?
- Tớ sẽ mua cho bố một cái áo mới... mua một quyển sách vỡ lòng nữa.
Cáo lắc đầu nói:
- Sách vỡ lòng à? Học để làm quái gì! Tớ, tớ đã học chán rồi đây, kết quả thế này này:
tớ chỉ còn đi ba chân.
Mèo Badilio nhổ toẹt một bãi nước bọt ra vẻ giận dữ lắm.
Nó nói:
- Sách vỡ lòng! Học với chả hành, mù mẹ nó cả hai mắt đây này.
Bên đường cái, quạ già đậu trên cành cây khô. Quạ nghe ngóng câu chuyện rồi kêu:
- "Quà! Quà!" Láo! Láo!
Tức thì mèo nhảy phốc lên cây, đạp quạ một cái. Quạ ngã giúi xuống, vội bay đi, lông đuôi rơi tơi tả. Badilio lại giả vờ mù cả hai mắt. Buratino thấy vậy lạ lùng hỏi:
- Sao mày lại đánh nó thế?
Mèo đáp:
- Mắt tớ có trông thấy gì đâu. Tớ tưởng có con chó ở trên cây...
Cả ba cùng đi trên con đường đầy bụi. Cáo bảo:
- Chú bé này, chú đã thông minh lại ngoan ngoãn. Chú có thích được nhiều tiền gấp mười thế này không?
- Sao lại không? Nhưng làm thế nào?
- Dễ như bỡn. Cứ đi theo chúng tớ.
- Đi đâu cơ?
- Đến xứ Ngu Si.
Buratino nghĩ một lát rồi trả lời:
- Không. Tớ muốn về thẳng nhà.
Cáo bảo:
- Không thì thôi, có dây nào buộc dính mày với chúng tao đâu. Không đi thì thây kệ.
Mèo lẩm bẩm:
-Thây kệ mày.
Cáo bảo:
- Mày dại thì mặc xác.
Mèo cũng lẩm bẩm:
- Mày dại thì mặc xác.
- Năm đồng tiền vàng sẽ biến thành một đống vàng.
Buratino đứng lại, mồm há hốc, nó nói:
- Chỉ nói láo.
Cáo ngồi xuống liếm lông rồi bảo Buratino:
- Để tớ cắt nghĩa cho mà nghe. Ở xứ Ngu Si có một cách đồng gọi là cánh đồng Kỳ Diệu. Đến đấy, mày chỉ việc đào một cái lỗ rồi nhắc lại ba lần câu:
“Correct, Perfect". Mày đặt đồng tiền vàng vào lỗ, đắp kín đất, trên rắc tí muối. Xong đâu đấy, tưới nước vào rồi đi ngủ. Thế là sáng hôm sau, sẽ mọc lên một cái cây, mỗi cái lá là một đồng tiền vàng. Hiểu chưa?
Buratino giãy nảy:
- Nói phét?
Cáo quay mõm đi bảo mèo:
- Thôi đi, Badilio. Nó không muốn nghe mình thì thôi, chả nói nữa...
Buratino kêu lên:
- Có, có, tớ có nghe mà!.... Nào, mau mau đến xứ Ngu si đi!....


Aleksey Nikolayevich Tolstoy (http://en.wikipedia.org/wiki/Aleksey_Nikolayevich_Tolstoy)


http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237nnn3n2nmn31n343tq83 a3q3m3237nvn0n

Apomethe
28-05-2007, 13:36
Anh kiếm đâu ra cái hình minh họa đấy. Trong hình đấy Cáo hư nói với Buratino là: "Chào Buratino! Hãy viết mật khẩu của chú và chôn ở Cánh đồng kỳ diệu. Mật khẩu được mã hóa thêm trong máy tính chú với Java bản Md5"

na9
01-12-2007, 07:46
Lẵng quả thông và nàng Solveig (http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/bannhachomnay//2128/index.aspx)

Ran
28-02-2008, 21:13
·TOCCATA
·ALLEMANDE I & II
·COURANTE
·SARABANDE
·MENUET (RONDEAU)
·AIR
·GIGUE
Bạn có nghĩ đây là tựa đề của các chương sách không? Theo như dịch giả Cao Việt Dũng, “là các dạng nhạc nổi tiếng của Jean-Sebastien Bach, nhà soạn nhạc mà nhân vật (chính, người dẫn chuyện) Maximilien Aue đặc biệt yêu quý và ngưỡng mộ, và theo một cách nào đó đã tạo ra nhịp điệu cho tòan bộ cuốn tiểu thuyết.” (Ghi chú của người dịch – cuối tập 1) (*)
Vâng, mình đang nói về tiểu thuyết “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes – Jonathan Littell) – Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn - 2008. Bạn đã đọc cuốn sách này chưa? Nếu chưa, hãy đọc và mua cho riêng mình đi! Tuyệt vời lắm đấy.
Mình không rành lắm về nhạc của Bach, nhưng quả thật là tiểu thuyết này, một dòng thác ngập tràn những sự kiện lịch sử và những điều kinh tởm, lại có một sự cân xứng và trong sáng đến kỳ lạ, như những gì mình lóang thóang cảm nhận khi nghe Bach.
Có những đọan trong tiểu thuyết này tuyệt diệu đến mức mình không thể nào rời mắt được. Nếu đó là những viên ngọc hòan hảo thì dường như cả cuốn sách là một chuỗi ngọc hòan hảo. Chắc chắn mình sẽ phải đọc nhiều lần, vì muốn cảm nhận được hết, cuốn sách đòi hỏi người đọc phải có thật nhiều kiến thức về lịch sử, tôn giáo, triết học, chính trị, ngọai giao, văn hóa, nghệ thuật,… của châu Âu trong giai đọan này, một giai đọan khủng khiếp của lòai người.
(Xin mở ngoặc ở đây, bạn đừng vội vàng ném cuốn sách đi vì những đọan “kinh tởm” nhé, khoan chú ý đến những chi tiết đó mà hãy nhìn vào tòan thể.)

Mình trích một đọan cho các bạn đọc thử (tập 1, tr.601 đến tr.604). Một bữa ăn trưa giữa nhân vật chính và vợ chồng người em gái sinh đôi của anh ta, Una và Nam tước Karl Berndt Egon Wilhelm von Üxküll, còn là một nhà sọan nhạc nổi tiếng của nước Đức. Một khía cạnh đầy mâu thuẫn đáng buồn trong tính cách một dân tộc đáng kính trọng như dân tộc Đức, ở vào thời điểm năm 1943.

“…
Rồi, vì không biết phải nói gì nữa, tôi hỏi ông ta đã đi nghe nhạc kể từ lúc đến Berlin hay chưa. “Tôi không thấy có gì thú vị cả”, ông ta đáp. “Tôi không thích cái tay Karajan trẻ tuổi đó lắm. Anh ta vẫn còn quá say sưa với chính mình, quá cao ngạo.” – “Vậy thì ông thích Furtwängler hơn phải không?” – “Hiếm khi nào Furtwängler gây đuợc bất ngờ. Nhưng ông ấy rất vững. Thật không may là người ta không để ông ấy chỉ huy các vở opera của Mozart nữa, mà cái đó thì ông ấy lại giỏi nhất. Có vẻ như là Lorenzo Da Ponte có một nửa dòng máu Do Thái, và Cây sáo thần là một vở opera có tính chất Tam Điểm.” – “Ông không tin điều đó à?” – “Có thể điều đó là đúng, nhưng tôi thách anh tìm được cho tôi một khán giả Đức có thể tự biết được điều đó đấy. Vợ tôi có nói rằng anh rất thích nhạc Pháp cổ?” – “Vâng, nhất là các tác phẩm khí nhạc.” – “Anh có gu tốt đấy. Rameau và Couperin vĩ đại vẫn còn quá bị xem nhẹ. Ngoài ra,còn có cả một kho báu âm nhạc cho đàn viola của thế kỷ XVII, vẫn chưa được khai thác nhưng tôi đã được xem vài bản viết tay rồi. Tuyệt diệu. Nhưng nửa đầu thế kỷ XVIII ở Pháp thì quả thực là một đỉnh cao. Người ta không còn biết cách viết nhạc như vậy nữa. Các nhà lãng mạn đã làm hỏng tất cả, người ta vẫn còn gặp khó khăn trong việc thóat ra khỏi đó.” – “Anh biết là tuần này Furtwängler đã chỉ huy mà”, Una nói xen vào. “Ở Admiralpalast. Có Tiana Lemnitz đấy, không tệ chút nào cả. Nhưng bọn em đã không đến đó. Họ diễn Wagner, mà Berndt không thích Wagner.” – “Nói vậy là còn nhẹ”, ông ta tiếp luôn. “Tôi ghét ông ta. Về kỹ thuật thì có những phát hiện tuyệt vời, những điều thực sự mới mẻ, khách quan, nhưng tất cả những cái đó bị mất đi trong sự phô trương, chứng phình đại và cả sự chi phối thô thiển các cảm xúc nữa, giống như phần lớn nhạc của Đức kể từ 1815. Nó được viết ra để cho những người có sở thích âm nhạc cơ bản, xét cho cùng, là thứ kèn trống quân đội. Đọc các bản nhạc của Wagner thì tôi thấy cuốn hút, nhưng nghe nó thì tôi không thể.” – “Không có nhạc sĩ Đức nào được ông coi trọng à?” – “Sau Mozart và Beethoven ư? Một vài bản của Schubert, nhiều đọan của Mahler. Như thế là tôi đã độ lượng lắm rồi đó. Xét cho cùng, gần như chỉ có Bach…, và hiện nay, dĩ nhiên, Schönberg.” – “Xin lỗi, Freiherr, nhưng tôi thấy rằng thật khó xếp nhạc Schönberg vào cùng với nhạc Đức.” – “Anh bạn trẻ”, von Üxküll lạnh lùng đáp, “đừng cố dạy tôi những bài học về chủ nghĩa bài Do Thái. Tôi bài Do Thái từ trước khi anh sinh ra cơ, ngay cả khi tôi đã quá lạc hậu khi tin rằng sự linh thiêng của lễ rửa tội là đủ mạnh mẽ để rửa sạch đi vết nhơ của Do Thái giáo. Schönberg là một thiên tài, người vĩ đại nhất kể từ sau Bach. Nếu người Đức không muốn ông ấy thì đó là vấn đề của họ.” Una nở một nụ cười trong trẻo: “Ngay cả tờ VB cũng vẫn cho rằng Berndt là một trong những đại diện lớn nhất của văn hóa Đức. Nhưng nếu anh ấy là nhà văn, thì hẳn là hoặc anh ấy đã ở Mỹ cùng với Schönberg và anh em nhà Mann, hoặc là ở Sachsenhausen.” – “Chính vì thế mà ông không sáng tác gì từ mười năm nay?”, tôi hỏi. Von Üxküll lắc lắc cái nĩa và trả lời: “Trước hết, vì không phải là thành viên của Musikkammer, tôi không thể. Và tôi từ chối cho chơi nhạc của tôi ở nước ngòai nếu tôi không thể diễn nó được tại đất nước của tôi.” – “Thế tại sao ông lại không ghi tên?” – “Theo nguyên tắc. Chính là vì Schönberg đấy. Khi họ đuổi ông ấy ra khỏi Viện Hàn Lâm và ông ấy phải rời khỏi Đức, họ đã đề nghị tôi thay chỗ ông ấy: Tôi đã đuổi thẳng cánh họ đi. Strauss đã đích thân đến gặp tôi. Ông ta vừa lấy chỗ của Bruno Walter, một chỉ huy dàn nhạc kiệt xuất. Tôi nói với ông ta rằng ông ta nên lấy làm xấu hổ, rằng đó là một chính phủ của bọn gangster và của những tên vô sản cau có và nó sẽ không tồn tại được lâu đâu. Mặt khác họ cũng đánh sập Strauss hai năm sau đó còn gì, với cái cớ là cô con dâu Do Thái của ông ta.” Tôi gượng cười: “Tôi sẽ không đi vào một cuộc tranh luận chính trị. Nhưng nghe ông nói, tôi thấy khó hiểu được bằng cách nào mà ông có thể tự coi mình là một người bài Do Thái.” – “Thế nhưng việc đó lại hết sức đơn giản”, von Üxküll cao ngạo trả lời. “Tôi đã chiến đấu chống lại bọn Do Thái và bọn Đỏ ở Courlande và Memel. Tôi đã đấu tranh ủng hộ lọai bỏ bọn Do Thái khỏi các trường đại học Đức, khỏi chính trừơng và nền kinh tế Đức. Tôi đã uống mừng sức khỏe của những người đã giết chết Rathenau. Nhưng âm nhạc thì lại là một chuyện khác. Chỉ cần nhắm mắt lại nghe là ngay lập tức có thể biết được nó hay hoặc không hay. Nó không có gì chung với máu, và tất cả những thứ nhạc vĩ đại đều có giá trị, cho dù nó là Đức, Pháp, Anh, Ý, Nga hoặc Do Thái. Mayerbeer không đáng giá gì, không phải vì ông ta là Do Thái, mà là vì ông ta không đáng giá gì. Và Wagner, người căm ghét Mayerbeer bởi vì ông ta là người Do Thái và vì ông ta đã giúp mình, theo sở thích của tôi cũng không đáng giá gì.”
…”

(*) “Jean” trong tên Bach và “dạng nhạc” hơi ngồ ngộ, nhờ các bạn giảng cho mình. Không biết có tác phẩm nào của Bach có các phần đúng trình tự như tên các chương sách không? Trong English Suites và Cello Suites thì thấy gần giống.

Tiffany
29-03-2008, 11:25
@Ran: Ran ơi, nếu Tiffany không lầm khi đọc tiểu sử của Jean Sébastien Bach (1685-1750) thì đây là cách viết tên của Johann Sebastian Bach theo kiểu Pháp.

Cám ơn bạn đã giới thiệu quyển sách thú vị này nhé :x
Để Tiffany đọc thử xem tiết diễn những chương sách có nhanh chậm giống như tiêu đề các điệu vũ không...

Apomethe
29-03-2008, 14:52
Nghe bảo cái cô biên tập quyển này ở Nhã Nam phải nghỉ làm nửa tháng vì đau đầu sau khi biên tập cuốn này.

Bagiai_Bach
09-08-2008, 00:19
MÌnh sẽ mua cuốn này, ít ra vì cái tay Jonathan Littell này chắc là mê Bach.
Phuong bé lược dịch bài "Triste" đi chứ? hay định cho ai buồn đây?

pain_of_salvation
04-01-2009, 00:45
Trong ngõ hẻm dưới ánh trăng


Ánh sáng lạnh lùng xen bóng tối


Có người đang đứng một mình


Tấm lưng còng dựa vào hoài niệm


Mắt thẫn thờ nhìn kí ức xưa


Đang nhảy múa trên bức tường rêu mốc.





Ngõ hẻm dưới ánh trăng khuya


Có nỗi buồn mênh mang đang thẩm thấu


Có cơn sầu thênh thang đang nở ra


Đan quyện nhau thành cơn gió


Rụng lá tàn xào xạc


Phủ lên bóng thân gầy.

na9
13-02-2009, 08:53
Mọi thành viên của Vương quốc Nhạc cổ điển đều có thể gửi những tác phẩm văn học do mình sáng tác/dịch vào đây. Thành viên nào muốn gửi tác phẩm của thành viên khác thì trước hết phải được sự đồng ý của tác giả. Các thành viên khác cũng có thể gửi những bài cảm nhận và bình luận về những tác phẩm đã được gửi lên.
Lưu ý: chỉ gửi các tác phẩm của thành viên diễn đàn Nhạc cổ điển.
@ Lake of Tears: Ngay cả cuốn “Và khi tro bụi” của Đoàn Minh Phượng cũng sẽ không được phép post lên Tạp Chí Văn Học của VQNCĐ nếu như Apomethe (người post) chưa xin phép tác giả (cũng là một thành viên của diễn đàn nhaccodien.info này).
Sau này Tạp Chí có mở rộng thêm với các tác phẩm văn học liên quan đến nhạc cổ điển. "Tuổi 20 yêu dấu" thì có gì liên quan đến ncđ nhỉ? Em tự xử lý bài em mới post nhé!

na9
13-02-2009, 15:59
@ 2 mod box Phòng Khách:

Theo tiêu chí đề ra từ trước, TCVHCVQNCĐ chỉ chấp nhận những cảm nhận về các tác phẩm văn học đã được gửi lên (các tác phẩm văn học đã được gửi lên này phải do thành viên diễn đàn ncđ sáng tác hoặc dịch thuật).

Các tạp chí Mĩ thuật và Khoa học của VQNCĐ cũng chỉ chấp nhận các tác phẩm mĩ thuật/bài viết khoa học có liên quan đến nhạc cổ điển hoặc do thành viên diễn đàn nhaccodien.info thực hiện thôi.

Nếu thành viên nào muốn bày tỏ cảm xúc về các tác phẩm văn học nghệ thuật không có liên quan đến ncđ thì có thể lập một topic khác và topic này sẽ không được đính lên đầu box.

Những quy định khắt khe này cũng chỉ nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một Phòng Khách đặc trưng NHẠC CỔ ĐIỂN. :)

kiki
14-02-2009, 09:53
Ngoài tập Chansons de Bilitis (Bài ca Bilitis) L 90 gồm 3 mélodie Debussy viết cho giọng hát và piano trong khoảng năm 1897 đến năm 1898, Debussy còn soạn tập nhạc sân khấu Chansons de Bilitis (Bài ca Bilitis) L 96 dùng làm nhạc nền để ngâm 12 bài thơ văn xuôi của Pierre Louys. Các nhạc cụ ông dùng trong bộ nhạc nền này gồm 2 flute, 2 harp và celesta.

Dưới đây là bài số 5 trong tập Chansons de Bilitis của Pierre Louys do kiki dịch:

no. 5. La Partie d'osselets (Trò chơi xương ngón)

Comme nous l'aimions toutes les deux, nous l'avons joué aux
osselets. Et ce fut une partie célèbre. Beaucoup de
jeunes filles y assistaient.

Elle amena d'abord le coup des Kyclôpes, et moi, le coup de
Sôlon. Mais elle, le Kallibolos, et moi, me sentant perdue, je
priais la déesse !

Je jouai, j'eus l'Epiphénôn, elle le terrible coup de
Khios, moi l'Antiteukhos, elle le Trikhias, et moi le coup
d'Aphroditê qui gagna l'amant disputé.

Mais la voyant pâlir, je la pris par le cou et je lui dis tout
près de l'oreille (pour qu'elle seule m'entendît) : " Ne
pleure pas, petite amie, nous le laisserons choisir entre nous."

***

Vì cả hai chúng tôi cùng yêu chàng, chúng tôi chơi trò xương ngón (*1) để tranh chàng. Và đó là một trò chơi trọng thể. Rất nhiều cô gái trẻ ngồi xem.

Đầu tiên, bạn đưa ra quân Kyclôpes (*2). Còn tôi quân Sôlon. Nhưng bạn đưa ra quân Kalibolos, tôi cảm thẩy sắp thua, tôi cầu khẩn nữ thần!

Tôi chơi, có được quân Epiphénôn, bạn ghê gớm đưa ra quân Khios, còn tôi quân Antiteukhos, bạn đi quân Trikhias, tôi đi quân Aproditê giành được người yêu bị tranh chấp.

Song trông thấy bạn trở nên tái xám, tôi ôm lấy cổ bạn, nói thật gần vào tai bạn (để mỗi bạn nghe thôi): “Đừng khóc nhé cô bạn nhỏ, hai đứa mình hãy để chàng lựa chọn.”

Chú thích:
(*1) nguyên văn “La Partie d'osselets”, một trò chơi của trẻ chăn cừu hồi xưa.
(*2) tên các nhân vật dùng trong trò chơi.

eaudouce
05-06-2009, 23:24
EM...

Rất gần mà lại rất xa
Rất thật mà lại như là chiêm bao
Rất thấp mà lại rất cao
Em làm tôi té lộn nhào - điếng đau
Thoắt mừng vui, thoắt lo âu
Thoắt gặp gỡ, thoắt ngoảnh đầu làm ngơ
Em làm tôi hóa ngu ngơ
Chẳng phân biệt được thực - mơ giữa đời!

Bài này mình sáng tác cách đây chừng 10 năm:). "Hoàn cảnh sáng tác" là thế này : Hồi ấy nhỏ bạn thân của mình rất hay ngúng nguẩy và làm khổ anh chàng đang theo đuổi nó. Mình thấy tội nghiệp anh chàng quá, thế là bài thơ này ra đời.

Hôm nay post ở đây, tặng mọi người, đặc biệt là... mấy bạn nam:P. Ai muốn sử dụng bài thơ này để nói hộ lòng mình với "người ấy" thì cứ thoải mái nhé!>:D<

lehuongnhu86
05-07-2009, 20:13
http://i492.photobucket.com/albums/rr290/dinhminhhung/sngnewssmartcomvn.jpg
NGÔI NHÀ.

BÂNG QUƠ
Dạo khúc " Bình Sa LẠc Nhạn "
Thương bâng quơ, bóng chim chiều.
Chao cánh về đâu chẳng rỏ
Ở nơi nào, một chốn yêu?

Dạo khúc " Hoài Lang Dạ Cổ "
Bụi vương vó ngựa chinh nhân
Áo bào, sương gió phong trần
Vọng phu, một người hóa đá.

Đàn lên giai điệu " Cò Lả "
Rập rờn sóng lúa bên sông
Chàng về là về Cửa Phủ
Để hoài cô ả ngóng trông.

Thế rồi, đàn gieo " Quán Dốc "
Ai ngồi tựa gốc cây đa?
Trăng kia, đang, non hay già?
Nguyệt kia, đang, tròn hay khuyết?

Đàn gieo tình ai, còn - hết?
Đau nhừ mười ngón tay ngoan
Ngẩn ngơ, nửa bài tứ tuyệt
Long lanh, giọt nước mắt, tràn...
(HNhu )

banhday
12-07-2009, 16:03
http://i492.photobucket.com/albums/rr290/dinhminhhung/sngnewssmartcomvn.jpg
NGÔI NHÀ.

BÂNG QUƠ
Dạo khúc " Bình Sa LẠc Nhạn "
Thương bâng quơ, bóng chim chiều.
Chao cánh về đâu chẳng rỏ
Ở nơi nào, một chốn yêu?

Dạo khúc " Hoài Lang Dạ Cổ "
Bụi vương vó ngựa chinh nhân
Áo bào, sương gió phong trần
Vọng phu, một người hóa đá.

Đàn lên giai điệu " Cò Lả "
Rập rờn sóng lúa bên sông
Chàng về là về Cửa Phủ
Để hoài cô ả ngóng trông.

Thế rồi, đàn gieo " Quán Dốc "
Ai ngồi tựa gốc cây đa?
Trăng kia, đang, non hay già?
Nguyệt kia, đang, tròn hay khuyết?

Đàn gieo tình ai, còn - hết?
Đau nhừ mười ngón tay ngoan
Ngẩn ngơ, nửa bài tứ tuyệt
Long lanh, giọt nước mắt, tràn...
(HNhu )

Nhu chơi đàn gì mà "mỏi nhừ muời ngón tay ngoan" thía?
Tam thập lục huyền cầm hay Bát thập bát huyền cầm :-/

Cám ơn vì 1 bài thơ hay và buồn như 1 điệu nam ai

Cat Vu
13-07-2009, 11:46
hô hô!!!!! kg có cái dại nào bằng cái dại nào!!!!!! Bánh Dày mà mần thơ thì cả diễn đàn này nhả ngọc phun châu tất. Thôi Hnhu mần thơ 1 mình đi. May là diễn đàn chỉ có 1 tâm hồn thi sĩ , thêm 1 Nhị hnhu nữa chắc sập nhà woa!!!!!!!!:(

lehuongnhu86
26-07-2009, 14:27
http://i698.photobucket.com/albums/vv350/Namlan_2009/CIMG0938.jpg
LAN HỒ ĐIỆP.

TƠ ĐỒNG.
Một dây như gió thoảng
Hai dây tợ mây bay
Ba dây nắng vàng say
Bốn dây, chiều giông tới.

Năm dây tay em vói
Hái một nắm sao trời.
Sáu dây treo trôi nổi
Mảnh trăng non bên đời.

Này thì là bảy dây
Môi hồng hồng chúm chím
Tám dây nằm im ỉm
Nhụi đầu vào mơ ngoan.

Dây chín trỗi vang vang
Xuân thì mùa đương tới
Đồng xa lúa hực vàng
Mười dây rung phơi phới.

Gieo cung thương chờ đợi.
Trổ cung oán dỗi hờn.
Lên non xem hổ đấu
Khổng Minh toạ lầu son.

Này là Chiêu Quân khúc.
Tứ đại oán não nề.
Người ơi người sao nỡ...
Xin gượm ở, đừng về.

Gieo, đàn gieo Quán Dốc.
Á, đàn á, Mười thương.
Người một thân cô độc.
Về trong khúc yêu đương.
( 26/7/09 - HNhu )

bé na
11-10-2009, 09:14
Khổ thứ 8 trong bài thơ Hà Nội - phố của Phan Vũ:

Ta còn em những ngọn đèn mờ.
Trên nóc phố,
Mùa trăng không tỏ.
Tiếng rao đêm
Lạc giọng
Thờ ơ…
Ta còn em bảy nốt cù cưa,
Lão Mozart hàng xóm
Từng đêm quên ngủ.
Cô gái mặc áo đỏ Venise
Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ
Những mảnh vỡ trên thềm
Beethoven và Sonate Ánh Trăng
Nốt nhạc thiên tài bay lả tả,
Một kiếp người,
Một phím đàn long…

meongoan
08-12-2009, 14:32
Đồ mắt xanh dở hơi =))

Tháng Chín 15, 2009 at 12:08 sáng



- Em luôn nhìn anh và không hiểu, làm sao anh có cặp mắt xanh như vậy?

- Từ khi sinh ra mắt anh đã thế.

- Khi bắt anh làm tù binh, em đã nghĩ…

- Nghĩ gì?

- … về cặp mắt anh… Anh có một cặp mắt nguy hiểm.

- Nguy hiểm cho ai?

- Cho phụ nữ. Ánh mắt nồng nàn và mạnh mẽ. Chúng làm anh trở nên quyến rũ.

- Thế chúng có quyến rũ em không?

- Đồ quỉ! Đừng có hỏi những câu như thế. Đồ mắt xanh dở hơi

(Marutxia vùng vằng bỏ đi…)
Hí hí, nguon: http://figaro83.wordpress.com/

Nina
26-03-2010, 21:02
http://bvi.rusf.ru/fanta/foto/kuprin.jpg
Aleksandr Kuprin (1870 - 1938)

Aleksandr Kuprin là một trong những nhà văn Nga xuất sắc hồi cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Ở Việt Nam, có lẽ ông được độc giả biết đến qua tác phẩm "Chiếc vòng thạch lựu" và "Người tình của vua Sô lô mông" (Суламифь).

Tuy nhiên cá nhân Nina thì khi mua một tuyển tập truyện ngắn và truyện vừa của Kuprin, thì lại ấn tượng nhất với truyện ngắn "Cây đàn vĩ cầm của Paganini"

Nhân một ngày xấu trời, xin dịch và giới thiệu cùng bạn đọc

Cây đàn vĩ cầm của Paganini


Aleksandr Kuprin

Có ai còn chưa nghe đến truyền thuyết, rằng nghệ sĩ và nhạc sĩ vĩ cầm vĩ đại Niccolo Paganini, người gốc Venezia đã bán linh hồn của mình cho quỷ sứ, để đổi lấy một cây đàn vĩ cầm thần diệu? Đến cả Heinrich Heine - một người vô thần, hoài nghi và hay chế giễu mọi sự, một nhà thơ danh tiếng cũng tin vào truyền thuyết ấy. Bù lại, chẳng mấy ai biết được, cái hợp đồng trái đạo ấy kết thúc ra sao, và ai là người chiến thắng – con người hay kẻ thù của loài người. Giữa những người di gan lang thang ở Hungary có một truyền thuyết mờ mịt. Có nên tin truyền thuyết ấy hay không – tùy các ngài.


http://www.gutenberg.org/files/11419/11419-h/image/img10.jpg
Niccolo Paganini (1782-1840)

Số phận rất khắc nghiệt đối với chàng thanh niên Niccolo trẻ tuổi vào cái năm ấy, khi nợ nần, thất bại và hàng trăm chuyện khó chịu lẻ tẻ khác bắt anh phải chạy từ Venezia đến Vien. Ở đó anh – một người chơi đàn rong – kéo đàn trong các đám cưới, hoặc đem cây đàn rẻ tiền của mình mua vui trong các quán rượu tồi tàn nhất. Anh không được vào các khách sạn tử tế, vì bộ cánh tồi tàn gồm đầy những mảnh giẻ.

Nhưng ngày tồi tệ nhất, đáng nguyền rủa nhất đối với Niccolo là ngày 21 tháng 10. Suốt từ sáng sớm, trận mưa với tuyết lạnh lẽo cứ dai dẳng. Đôi giày rách của chàng nghệ sĩ ướt hết, nhão ra theo từng bước chân, làm bắn đầy bùn, còn Paganini thì ướt và bẩn như một chú chó pudel vừa mới chui từ đầm lầy ra.

Một buổi tối vàng đục báo đầy điềm gở trải ra trên thành phố. Những ngọn đèn đường hiếm hoi khó khăn lắm mới xuyên qua được màn mưa. Trong lúc thời tiết như thế, trái tim người ta ít cảm thông hơn với nỗi đau khổ và sự nghèo khó của người khác, trong khi người nghèo khổ thì cảm thấy cái lạnh, cái đói và cái cô đơn nghiệt ngã gấp đôi.

Suốt cả ngày hôm đó Paganini chẳng kiếm được xu nào.. Mãi đến tận tối muộn, một người thợ mạ thiếc say mới đưa cho anh một cốc bia chưa uống hết, sau khi đã hắt tàn từ trong tẩu thuốc của mình vào đó. Còn ở một chỗ khác, một anh sinh viên ăn chơi ném cho anh ba krejcer và nói:

- Này, cầm lấy tiền và đừng cò cử nữa nhé!

Paganini cầm món tiền ấy và nghiến răng: "Được! Khi mà ta sẽ nổi danh – mày sẽ nhớ đến ba krejcer này!"

Cần phải nói rằng, trái với mọi rủi ro, bất hạnh, Paganini chưa bao giờ nghi ngờ vào tài năng của mình. "Mình chỉ cần có bộ cánh tử tế, một dịp may, với một cây vĩ cầm tốt – và mình sẽ làm cả thế giới phải ngạc nhiên!". Quán rượu cuối cùng đơn giản là quẳng Paganini ra phố, vì mỗi bước đi của anh dội ra sàn hàng vũng nước. Với ba krejcer, Paganini mua một mẩu bánh mì trắng nhỏ, và ăn không một chút hài lòng trên đường về nhà. Khi anh mệt mỏi leo lên tận tầng trên cùng, vào căn phòng bé xíu và trơ trọi trên gác xép của mình, thì sự tuyệt vọng khôn cùng và cơn giận dữ khủng khiếp chiếm lấy tâm hồn tối tăm của anh. Anh giậm chân vứt cây đàn vĩ cầm ẩm ướt tội nghiệp của mình vào góc, và lấy tay đấm ngực, hét lên:

- Hỡi quỷ sứ! Hỡi quỷ sứ! Nếu ngươi không phải là óc tưởng tượng ngu ngốc của đàn bà, nếu ngươi thực sự tồn tại, thì hãy đến với ta ngay! Đang có một linh hồn con người kiêu hãnh bán rẻ kèm theo tài năng nghệ thuật! Nhanh lên! Nếu không thì ngươi còn gì với một kẻ nghèo khổ đã treo cổ?

Và quỷ sứ xuất hiện ngay lập tức. Hoàn toàn không xuất hiện trong màn khói xám, với mùi kinh tởm của loài dê, không hề có móng chẻ đôi thay cho bàn chân, không hề có một dấu hiệu gì của đuôi – quỷ sứ xuất hiện trong hình hài của một công chứng viên hay luật sư đã hơi già, mặc một chiếc áo camisole xám tươm tất với đăng ten cũ đã hơi ngả màu vàng. Một lọ mực, một chiếc bút lông ngỗng và một quyển sổ hợp đồng cũ kỹ - hắn cầm theo tất cả những thứ đó, và không vội vã bày ra trên chiếc bàn khập khiễng. Ngọn lửa trong chiếc đèn dầu sáng bùng lên.

- Cậu thấy không, chàng trai – quỷ sứ bắt đầu nói rất điềm tĩnh – tôi đến gặp cậu hoàn toàn không có những sự ồn ào rẻ tiền chợ búa, không có bất kỳ thứ mùi kinh khủng nào của địa ngục, và cũng không đòi hỏi cậu phải ký bằng máu. Chúng ta hãy bỏ những thứ đạo cụ sân khấu ngớ ngẩn ấy cho óc tưởng tượng nghèo nàn và bệnh hoạn của thời trung cổ. Thế kỷ của chúng ta là thế kỷ của sự lịch sự, của văn xuôi và số học. Tôi cũng không giấu gì cậu, rằng chúng tôi, quỷ sứ ấy, nếu trung thực và phục vụ khách chu đáo thì còn tiện lợi hơn là một sự lừa dối đơn giản. Vì vậy, cậu đừng có ngạc nhiên, là trong hợp đồng của chúng ta tôi sẽ không chỉ là người mua, mà nếu cần, thì đôi lúc tôi sẽ còn là luật sư của cậu nữa. Trước hết: cậu muốn được gì đổi lấy linh hồn của mình?

- Tiền! Vàng! Vàng thật nhiều!

- Thấy chưa, cậu đã cần đến trợ giúp pháp lý của tôi rồi đấy. Không có gì dễ hơn việc đòi quỷ sứ cho vàng. Điều này thì một thằng ngốc nào cũng làm được. Thế cậu nghĩ gì về vinh quang nhỉ?

- Vớ vẩn! Vinh quang có thể mua bằng tiền. Chỉ cần đừng quá hà tiện là được.

- Ồ không đâu anh bạn, cậu nói thiếu suy xét rồi. Vàng chỉ có thể mua được bọn xu nịnh. Nhưng cái vinh quang ấy sẽ không vượt quá giới hạn của vòng tròn, tạo bởi những kẻ xu nịnh ấy, còn tâm chính là anh, bị điếc tai vì những lời xu nịnh thô thiển nhất. Không, tốt hơn là cậu hãy kể cho tôi về điều gì khác. Ví dụ, về tình yêu chẳng hạn.

- Quỷ bắt ngài đi! Chính tình yêu mới là thứ dễ mua nhất thì có!

- Tình yêu nào cũng thế ư? Cậu nghĩ thế à? Vô ích, hoàn toàn vô ích, Niccolo trẻ trung của tôi! Nếu như tình yêu nào cũng bán, thì cả trái đất này, toàn bộ vũ trụ này đã hoàn toàn thuộc về quyền lực tuyệt vời của Quỷ sứ từ lâu lắm rồi. Và chúng tôi, những cộng sự của Quỷ, đã sống sung túc nhàn hạ bằng lương nhà nước. Cậu muốn không, tôi kể cho cậu một bí mật khủng khiếp nhé? Cậu có biết tại sao Quỷ sứ lại bất hạnh đến thế không? Bởi vì Quỷ rất muốn yêu, bằng tất cả sức lực của mình, nhưng Quỷ không thể yêu… Không đâu, chàng trai, nếu cậu muốn ký hợp đồng với tôi, một hợp đồng có lợi và trọng danh dự với cả hai phía, thì hãy dừng lại với những điều kiện đầu tiên, khiêm tốn của cậu: bộ cánh tử tế, một dịp may và một cây vĩ cầm tuyệt diệu.

Paganini nghĩ ngợi vài phút rồi nói một cách không quả quyết lắm:

- Tôi không từ bỏ dự định của mình. Tôi có cảm giác rằng, có lẽ ngài đúng, ngài luật sư ạ. Nhưng liệu trong lúc khó khăn vội vàng tôi có hét một giá quá rẻ cho linh hồn bất tử của tôi, linh hồn đã bị kết án trước cho những đau khổ vô tận và vĩnh cửu?

Luật gia im lặng cúi xuống, lôi từ dưới bàn ra một cái bao đàn lớn cũ kỹ, đã mòn góc làm từ da trâu và cẩn thận đưa cho Paganini.

- Cậu có thể tự nhìn cây vĩ cầm, thậm chí thử nó. Cái này là hoàn toàn miễn phí.

Paganini kính cẩn tháo những khuy cài bằng đồng mạ vàng của bao đàn, rút ra và đặt lên bàn ba lớp khăn phủ bao quanh cây đàn: lớp khăn bằng da cừu, khăn nhung và khăn lụa, - và cây đàn vĩ cầm thần kỳ được nâng lên cao, hiện ra trong toàn bộ sự tuyệt vời, hình dáng giống than thể một người phụ nữ khỏa thân hết sức cân đối, với cái đầu nhỏ, cổ thon và dài, hai bờ vai thoai thoải, và sự chuyển tiếp hết sức hài hòa từ vòng eo nhỏ nhắn tới hông.

- Đây không phải là Stradivarius – Paganini kinh ngạc thốt lên – nhưng đây cũng không phải là Amati, không phải Guarneri và cũng không phải Guadagnini! Đây là lý tưởng của cây vĩ cầm, mà loài người sẽ không đi xa hơn được, không thể đi xa hơn được! Ồ, như vậy là ngài cho phép tôi được chơi nó một chút chứ?

- Ồ vâng, xin mời, - quỷ đồng ý một cách miễn cưỡng, buồn tẻ và không mất nhiệt tình. – Tôi đã nói với cậu rồi.

Đàn vĩ cầm đã được lên dây, và mã vĩ đã được bôi nhựa thông vừa đủ. Và khi Paganini vừa mới kéo một khúc tức hứng rực lửa mạnh mẽ, thì lần đầu tiên chính Paganini hiểu ra – anh có một tài năng lớn đến thế nào, tài năng mà cho tới giờ vẫn bị sự nghèo khó đè bẹp. Và anh nói gần như vui vẻ:

- Thưa chủ nhân, tôi sẵn sàng được phục vụ ngài, và rất cám ơn ngài vì những lời khuyên thông thái. Tuy nhiên, tôi muốn được biết – nếu điều này không làm ngài khó xử - tại sao ngài lại có vẻ chán nản và u buồn, cứ như là ngài giận tôi vậy?

- Nếu mà nói thực lòng, - quỷ đứng dậy nói, - tôi hơi thất vọng vì cậu thực ra lại tài năng hơn rất nhiều so với tôi có thể đoán trước. Nhưng lời hứa là lời hứa. Cây vĩ cầm này thuộc về cậu trọn đời. Còn đây là một túi vàng nhỏ - cho thời gian ban đầu. Ngày mai sẽ có người tới gặp cậu: một bác thợ may với bộ quần áo cung đình, và một thợ cắt tóc nổi tiếng nhất thành Vien, rồi ngày kia thì cậu sẽ biểu diễn tại cuộc thi âm nhạc trang trọng do chính hoàng tử nước Áo tổ chức. Còn bây giờ, xin cậu vui lòng ký vào đây. Tốt rồi. Merci và hẹn gặp lại, chàng trai trẻ.

- Chúng ta sẽ mau gặp lại chứ? – Paganini, anh chàng người Venezia láu lỉnh hỏi.

- Điều đó thì tôi không biết, - quỷ trả lời khô khốc. – Tôi nghĩ rằng đến hết thời hạn cậu được cấp, không gần hơn. Bởi vì cậu đâu có đòi tôi được trường sinh nhỉ? Tôi rất khâm phục, maestro!


http://www.ofletters.com/composers/paganini.jpg
Paganini và cây vĩ cầm

Quỷ sứ không lừa nghệ sĩ vĩ cầm ở điểm nào. Mọi sự xảy ra theo đúng kế hoạch đã nói. Sau cuộc thi âm nhạc do hoàng tử tổ chức, ngôi sao danh vọng của Paganini lên tới đỉnh điểm, tỏa sáng rực rỡ và đến ngày nay vẫn còn lấp lánh. Nhưng chính Niccolo Paganini thì lại trở thành một người bất hạnh nhất trên trái đất. Những dục vọng không được thỏa mãn, tính háo danh không đủ no, lòng tham lam vô độ đối với tiền bạc, và cùng với đó là sự keo kiệt kinh khủng; sự ghen tị tột cùng không chỉ đối với các nghệ sĩ đã sống, các nghệ sĩ đương đại, mà còn cả đối với các nghệ sĩ vĩ cầm tương lai đã đốt cháy tâm hồn của Paganini. Nhiều khi ông viết các tác phẩm của mình trong những tổ hợp nốt hết sức khó khăn, mà chỉ có một mình Paganini kéo được. Nhưng vốn thừa nhận sự vô tận của nghệ thuật thầm nhắc, rằng một ngày nào đó sẽ có một nghệ sĩ vĩ cầm khác, sẽ kéo những tác phẩm ma quỷ đó còn hay hơn Paganini, và đi xa hơn Paganini. Và người đó, nghệ sĩ tương lai đó, đã bị Paganini căm thù từ trước.

Khi đã trở thành triệu phú, thì Paganini vẫn nhặt những mẩu giấy, những đoạn dây buộc và đủ thứ linh tinh trên phố, còn thức ăn hàng ngày của ông không bao giờ vượt quá một thaler.

Bao nhiêu mỹ nhân tuyệt vời bị quyến rũ bởi nghệ thuật quá mức tưởng tượng của Paganini đã đến với ông, dâng cho ông trái tim, số phận của mình, nhưng Paganini luôn luôn quay lưng lại họ một cách ghê tởm – ông tin tưởng rằng họ chỉ muốn vàng của ông. Còn đối với một phu nhân sang trọng, vợ của một quan chức cao cấp, người muốn cùng chia sẻ với ông cả vinh quang, lẫn sự giàu có với tình yêu và sự nhục nhã của ly dị, thì Paganini trả lời, ném lên bàn mấy đồng tiền xu: "Xin bà chuyển cho chồng bà ba krejcer này. Trước đây ông ta đã ném cho tôi ba krejcer để tôi không kéo vĩ cầm nữa; còn bà thì tôi mời bà đi, hiện giờ tôi bận tập đàn…"

Bao nhiêu bạn bè và người hâm mộ đích thực bị Paganini đẩy đi bằng những lời thô bạo: "Anh chỉ chạy theo tiền bạc của tôi, hoặc chỉ muốn được chia sẻ ánh vinh quang của tôi". Quả thực, Paganini là một người đáng thương hại, ông rất đau khổ, và không hề có sự an ủi nào. Bởi vì ông chẳng tin ai.

Khi thời khắc cái chết của ông đã điểm, và Ngài luật sư xám đến bên giường, thì Paganini bình thản nói với ông ta:

- Thưa chủ nhân, tôi đã sẵn sàng. Nhưng tôi phải nói với ngài, rằng trong cuộc đời tôi không có niềm vui.

Ngài luật sư xám mệt mỏi phản đối:

- Chà, tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi chẳng được lợi lộc gì từ ngài cả. Cả hai chúng ta đã ký một hợp đồng chẳng có lợi cho ai. Ngài nhìn danh sách các hợp đồng đây này. Trong đó còn chẳng hề có tên ngài. Cái tên ấy bị xóa, đã bị ai đó gạch bỏ. Ai đó, người mà chúng ta không dám gọi tên.

- Thế thì tôi còn có thể làm gì bây giờ? – Paganini khoan dung hỏi.

- Hoàn toàn không có gì cả, - Ngài luật sư xám trả lời. Hoàn toàn không có gì, bạn tôi ạ. Tôi đã không còn nợ nần gì với ngài ít ra bởi tôi đã không bỏ qua buổi diễn nào của ngài rồi. Điều này khiến cho tôi mất điểm đối với lãnh đạo bên tôi. Nhưng còn ngài, thì cũng sạch nợ với người kia, người mà không thể gọi tên được. Bởi vì, nghệ thuật đích thực không phải xuất phát từ chúng tôi, mà từ phía Người, còn ai sẽ tổng kết những chuyện này? Thôi vĩnh biệt ngài. Bây giờ thì đã là mãi mãi. Tôi để lại cây vĩ cầm cho ngài. Ồ không! Đừng lo cho tôi. Đây chỉ là mấy chuyện khó chịu lặt vặt công vụ thôi mà. Vĩnh biệt…

Sáng hôm sau người ta thấy nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại Paganini đã qua đời; trán ông và những nếp nhăn vẫn kiêu hãnh và nghiêm nghị như khi còn sống. Trên môi ông là một nụ cười hạnh phúc mãn nguyện. Cây đàn vĩ cầm của quỷ thì biến mất mãi mãi.


1929

Le Petit Prince
26-03-2010, 22:06
người nghệ sĩ vốn tìm thấy niềm vui ở tiếng đàn của chính mình và sự đồng điệu của những người xung quanh. Còn Paganini không giữ lại được cho mình bất cứ điều gì :(

Nhưng nếu cho ông quay trở lại, có lẽ ông vẫn sẽ chọn cây đàn mê hoặc ấy...

Có 2 đoạn em rất thích



Cậu có biết tại sao Quỷ sứ lại bất hạnh đến thế không? Bởi vì Quỷ rất muốn yêu, bằng tất cả sức lực của mình, nhưng Quỷ không thể yêu…



cây đàn vĩ cầm thần kỳ được nâng lên cao, hiện ra trong toàn bộ sự tuyệt vời, hình dáng giống than thể một người phụ nữ khỏa thân hết sức cân đối, với cái đầu nhỏ, cổ thon và dài, hai bờ vai thoai thoải, và sự chuyển tiếp hết sức hài hòa từ vòng eo nhỏ nhắn tới hông.


cám ơn chị đã dịch truyện này :*

kiki
18-09-2010, 16:08
Phòng hòa nhạc đầu tiên mà tôi từng bước vào, khi lên tám tuổi, trong khoảng một phút có ý nghĩa với tôi hơn mọi vương quốc huyền thoại... Đi vào phòng hòa nhạc là bước đầu tiên trong một câu chuyện tình. Tiếng lên dây của các nhạc cụ là lời ước hẹn của tôi... tôi khóc mỗi lần dàn nhạc bắt đầu hát lên. Một thế giới âm thanh cho một người mù, một ân huệ mới bất ngờ làm sao!... Với người mù âm nhạc là nguồn nuôi dưỡng... Anh ta cần tiếp nhận nó, để chốc chốc được nó cung cấp như là thực phẩm... Âm nhạc được tạo ra cho người mù.

(kiki trích dịch hồi ký Và có ánh sáng của Jacques Lusseyran, một nhà văn và vị anh hùng trong phong trào kháng chiến của Pháp, người có tài năng âm nhạc và chơi cello khi còn nhỏ trước cả khi bị mù ở tuổi lên bảy)

landichgia
22-10-2010, 16:54
:) Tặng các bạn một bài thơ do tôi sáng tác

BAO DUNG
NBL

Trò tha thứ những ai đã chơi rồi
Lượng bao dung đong sẵn và chuyển phát chậm
Hôm nay ai nói lời làm đau trái tim mẫn cảm
Tôi ôm bóng tôi từng phút dọi tìm bao dung
Lời nói gió bay qua cây cầu tám nhịp
Tôi gục xuống tôi khóc giọt lệ đắng
Tôi chưa được như tôi nguyên thủy
Vẫn cay đắng và chua xót
Tụng cầu
:):):) bao dung…

na9
05-11-2010, 11:07
Bài thơ LE CHAT của Charles Baudelaire dưới đây na9 dịch đã lâu.

dịch xong đề tặng Minou

“Minou” này là tên một con mèo

(giống đực, nhưng đã bị cung hình,

để đề phòng nó bỏ chủ đi,

nhưng cũng chỉ được vài năm,

thì nó bỏ đi vào một ngày thu.)

Dạo đó lão phù thủy ttdungquantum cùng vừa mất mèo.

Mèo của ttdungquantum tên là Boeing.

Con Boeing bị bọn săn tiểu hổ bắt đi

Lão phù thủy cóc làm gì được

Đến khi Minou của na9 bỏ đi

Lão phù thủy đổ TẠI MÙA THU

Mùa thu đáng sợ thế sao?

Mùa thu khiến một con mèo đã bị thiến vẫn bỏ đi à?

Thế mấy thu trước sao nó không bỏ đi?

Vì bây giờ nó mới đủ béo tốt để bọn săn tiểu hổ để ý tới à?

Mùa thu mát mẻ mà ăn chả tiểu hổ thì thật tuyệt!!!

(Hôm nào phải thử mới được ke ke)

Ghi chú: gõ kiểu thế này không phải là “mần thơ” đâu. Mà là theo yêu cầu của một thành viên cận thị nặng nhưng bướng bỉnh không chịu đeo kính cận. Thành viên này rất hâm mộ ttdungquantum. Hôm nọ chat với na9, thành viên này khen ttdungquantum manly (hê hê, manly mới sợ chứ!!!) >:)

LE CHAT
Charles baudelaire

I

Dans ma cervelle se promène,
Ainsi qu'en son appartement,
Un beau chat, fort, doux et charmant.
Quand il miaule, on l'entend à peine,

Tant son timbre est tendre et discret ;
Mais que sa voix s'apaise ou gronde,
Elle est toujours riche et profonde.
C'est là son charme et son secret.

Cette voix, qui perle et qui filtre
Dans mon fonds le plus ténébreux,
Me remplit comme un vers nombreux
Et me réjouit comme un filtre.

Elle endort les plus cruels maux
Et contient toutes les extases ;
Pour dire les plus longues phrases,
Elle n'a pas besoin de mots.

Non, il n'est pas d'archet qui morde
Sur mon coeur, parfait instrument,
Et fasse plus royalement
Chanter sa plus vibrante corde

II

Que ta voix, chat mystérieux,
Chat séraphique, chat étrange,
En qui tout est, comme en un ange,
Aussi subtil qu'harmonieux!

De sa fourrure blonde et brune
Sort un parfum si doux, qu'un soir
J'en fus embaumé, pour l'avoir
Caressé une fois, rien qu'une.

C'est l'esprit familier du lieu ;
Il juge, il préside, il inspire
Toutes choses dans son empire ;
Peut-être est-il fée, est-il dieu ?

Quand mes yeux, vers ce chat que j'aime
Tirés comme par un aimant,
Se retournent docilement
Et que je regarde en moi-même,

Je vois avec étonnement
Le feu de ses prunelles pâles,
Clairs fanaux, vivantes opales,
Qui me contemplent fixement.

CHÚ MÈO
Charles Baudelaire
na9 dịch

I

Dạo trong trí óc tôi,
Như trong nhà của nó,
Mèo khoẻ, đẹp, dịu dàng và kiều diễm.
Ta vừa nghe tiếng nó meo meo,

Âm sắc nhẹ nhàng và ý tứ biết bao;
Song giọng nó dù trấn an hay doạ dẫm,
Cũng luôn luôn dồi dào và sâu lắng.
Ấy là vẻ quyến rũ và bí mật của mèo.

Giọng này đọng thành giọt và thấm vào
Trong người tôi ở những tầng sâu nhất,
Làm đầy tôi như rất nhiều thơ phú
Làm tôi vui như thứ bùa yêu.

Nàng làm dịu những hung tàn xấu xa
Và giữ lại mọi niềm ngây ngất;
Để thổ lộ những câu dài nhất
Nàng chẳng còn cần dùng đến từ.

Chẳng phải là vĩ của nhạc cụ tuyệt trần
Thứ cắn xé tim tôi đau đớn
Mà hành động một cách đế vương
Hát bằng dây đàn rung vang nhất.

II

Ôi giọng mi, chú mèo huyền bí,
Chú mèo thần tiên, mèo lạ lùng,
Trong nó tất thảy tựa trong một thiên thần,
Vừa tài tình lại vừa hoà hợp!

Từ bộ lông vàng và gio nhạt
Toát ra mùi hương thật ngọt ngào,
Mà tôi được ướp thơm một chiều
Qua có mỗi một lần ve vuốt.

Ở nơi đây, nó là linh hồn quen thuộc;
Nó tạo hứng, phán xét và điều hành
Tất cả mọi vật trong vương quốc mèo
Biết đâu nó là tiên, là thần thánh?

Mắt tôi hướng theo mèo yêu quý
Hút vào như một thỏi nam châm
Từ đó tôi sẽ thấy bản thân
Khi mèo ta vâng lời nhìn lại,

Tôi thấy rất kinh ngạc
Ngọn lửa từ con ngươi của nó,
Những đèn hiệu sáng, ngọc mắt mèo lấp lánh
Chăm chú ngắm nhìn tôi.

Mme Ngô
25-11-2010, 01:57
*
Ring..ring..ring (chuông reng...)
Toc..toc..toc (gõ cửa luôn cho ăn chắc..)
Có ai ở nhà hôn ? Làm ơn ra nhận hoa của tiệm Hoàng Gia gởi tới

Hoa đủ thứ đủ màu của cô Chín (bị hổng biết cô thích loại nào) http://www.brantflorist.com/images/Products/C16-4142_t.jpg

Hoa tím như lệ thường của cô mèo hư, xí lộn mèo ngoan) http://www.brantflorist.com/images/Products/BF5622_m.jpg

Bữa nay bổn tiệm đích thân giao hoa, bị vì hai cộng sự viên kiki và bé Phương đằng vân giá vũ biền biệt phương trời dzồi, kiếm chưa dza.
Điệu này trước sau chi cũng sụt lương và cúp luôn trợ cấp. (hừm hừm hừm...)

Gilles Simic
07-11-2012, 05:47
great ideas!!

na9
07-02-2013, 10:47
Xưa nay bạn đọc trên toàn thế giới biết đến Rabindranath Tagore không chỉ vì là ông là một nhà thơ nổi tiếng, mà còn bởi ông là một cây viết truyện ngắn xuất sắc của Ấn Độ. Tập truyện Một đêm duy nhất (http://www.vinabook.com/mot-dem-duy-nhat-m11i53016.html) giới thiệu những truyện ngắn hay nhất của Tagore về đề tài người phụ nữ Ấn Độ trong hôn nhân. Dưới chế độ hà khắc với những quan niệm tín ngưỡng, tập tục cổ hủ, người phụ nữ Ấn Độ hầu như không có quyền quyết định bất cứ điều gì, kể cả mạng sống của mình. Qua văn chương, Tagore đã thừa nhận quyền lên tiếng của người phụ nữ và thừa nhận sự đấu tranh của họ trước những tủi nhục bằng sự chia sẻ, cảm thông sâu sắc.
(người dịch: landichgia & na9)

Bagiai_Bach
07-02-2013, 11:45
Chúc mừng na9! Còn sách tặng anh xin 1 cuốn. Thởi trai trẻ cũng say sưa đọc Thơ dâng của Tagore.

Blue eye
08-02-2013, 11:18
Xin chúc mừng Na9 nhé ,mong đc thấy nhiều tác phẩm của bạn.

Chris Pho
14-09-2014, 02:56
Một tình khúc dở dang


Nắng chiều trên phố vắng
Vẳng đâu tiếng dương cầm
Hồn theo về dĩ vãng
To a wild rose *


Tiệm cà phê vắng người
Thoang thoảng mùi khói thuốc
Tiếng tango dập dình
nghe như El Choclo


Trời cuối thu lành lạnh
Nhìn lá rơi bên thềm
Nhớ người năm xưa ấy
Nhớ khúc Liebestraum


Không gian như trầm lắng
Nhớ nhung đến bao giờ
Ai về cho tôi gởi
Một tình khúc dở dang *


CMP





To a Wild Rose (Cho một đóa giã hồng) nhạc của MacDowell
Liebestraum (Giấc mộng tình) của Liszt
Tình khúc dở dang, Unfinished Symphony của Schubert