PDA

View Full Version : Igor Stravinsky



Apomethe
28-08-2006, 17:47
Igor Stravinsky
Louis Andriessen, Pierre Boulez, Jonathan Cross
Vũ Ngọc Thăng dịch

Lời người dịch: Sinh tại Nga (Oranienbaum, 1882), mất tại Mĩ (New York, 1971) và chôn cất tại Venice, Igor Stravinsky được xem là một trong những nhà soạn nhạc đa dạng và ảnh hưởng nhất của âm nhạc Phương Tây thế kỉ 20. Sự nghiệp quốc tế của ông bắt đầu với các tác phẩm L’Oiseau de feu (1910), Petrouchka (1911), và đặc biệt nhất - Le Sacre du printempslogos Hi Lạp; mặt khác, ông sáng tác những tác phẩm chuyên chở những tính cách thiêng liêng Thiên Chúa Giáo/Chính Thống Giáo. Về phương diện ngữ nhạc, ông đã có những đóng góp quyết định, đặc biệt, ở phạm vi tiết tấu, âm sắc, phối khí dàn nhạc, xử lí chất liệu âm nhạc quá khứ, cách cấu thức khối tảng, chốc lát, tĩnh tại. Nhiều người cho rằng, về cơ bản, ông là một nhà soạn nhạc tiền-hậu hiện đại, đã khai thác tính đa dạng và tính ‘phi cảm’ của thời hiện đại, không phải trong một tinh thần rã rời phóng túng, biếm nhại mà trong một tinh thần vượt qua mọi sự thách thức, đe dọa của chính nó và đi tìm một thứ trật tự nền tảng. Như một nhà tiên tri về thời kì hiện hành, hỗn mang, ưu tiên sự ngờ vực - ông chiêm nghiệm một sự an nhiên trong cấu trúc. Ðược xem là “một nghệ sĩ kiệt xuất tiêu biểu của thế kỉ 20, không chỉ theo nghĩa âm nhạc” [W.H. Auden], ông đi và sống ở nhiều nơi, mang trong người ba quốc tịch, làm việc và giữ quan hệ bạn bè với vô số nhà văn, nhà thơ, họa sĩ; ông thiết tha quan tâm đến những cái mới và thú vị đương thời, từ các bài thuyết trình về thơ và suy tư trừu tượng của Paul Valéry tại Collège de France, cho đến Ragtime, Big Bands, phim ảnh và truyền hình. Phương thức sáng tác của ông phản ánh một hệ hình đa nguyên, trong một thế kỉ luôn luôn hiếu động và muôn mặt về phong cách. Theo những chiều hướng ấy, “có lẽ ông là một nhà soạn nhạc ‘phổ biến’ nhất chưa từng thấy trong lịch sử âm nhạc” [Leonard Berstein]. Ba bài dịch và một số lời trích sau đây là vài nét về nhà soạn nhạc trưởng lão này của nền âm nhạc đương đại Phương Tây. (1913) - viết cho Ballets Russes ở Paris, đoàn vũ balê mà dưới sự chỉ đạo của Sergei Diaghilev đã trở thành một trong những tụ điểm của hoạt động nghệ thuật Tiền Phong (Picasso, Ravel, và Cocteau đã từng thi thố tài năng ở đây). Sau những năm Thê chiến I ngụ ở Thụy Sĩ, ông về sống ở Paris từ 1920 đến 1939, rồi di cư sang Mĩ trước khi Thế chiến II bùng nổ. Khả năng tiếp hợp kì diệu nhiều phong cách âm nhạc hết sức dị biệt trong lúc vẫn duy trì cá tính khiến ông giữ một vị trí trung tâm trong âm nhạc hiện đại Phương Tây thế kỉ 20. Nhạc Stravinsky thấm đượm các tinh chất của Bach, của Mozart, của Tchaikovsky, của Rimsky-Korsakov và của nhiều nhà soạn nhạc khác. Tư duy sáng tạo của ông hầu như phản ánh tất cả các khuynh hướng âm nhạc quan trọng của thế kỉ 20: chủ nghĩa dân tộc mới thời đầu, chủ nghĩa dân tộc có tính cách thử nghiệm thời Thế chiến I, chủ nghĩa tân cổ điển của thời kì 1920-1951, rồi những nghiên cứu về âm nhạc quá khứ làm nền cho các tác phẩm tiêu biểu theo phương thức 12 âm ở thập niên 1950 và phương thức chuỗi (serialism) đầy cá tính ở thập niên cuối đời. Ðộ đan kết trong tác phẩm từ mỏng nhất đến dày nhất; phạm vi vận dụng chất liệu và phương thức sáng tác hết sức rộng: từ một giai điệu dân gian Nga cho đến một tiết tấu jazz, từ một khúc thánh ca Chính Thống Giáo cho đến một mô thức Barốc, từ phương thức đa chủ âm cho đến phương thức 12 âm của ‘kình địch’ Schönberg. Tất cả, đã được ông xử lí theo cung cách của một nhà giả kim: kết hợp, biến hóa và mang lại cho chúng một vẻ tươi mới, độc đáo, không thể nhầm lẫn. Âm cảnh bao hàm nhiều chiều kích: vừa trí tuệ vừa bản năng; vừa thần hứng vừa thủ công; vừa sùng kính vừa bất kham; vừa dịu dàng vừa sắc chỏi; vừa nạp đầy cảm xúc vừa đậm tính phản-lãng mạn; vừa dân dã vừa bí truyền; vừa dân tộc vừa quốc tế. Một mặt, ông sáng tác những những tác phẩm chuyên chở những tính cách thiêng liêng hoang dã, kế thừa từ các nền văn hóa cổ xưa đậm tính thần thoại-nghi lễ, ở ngoài vòng tác động của tinh thần

Jonathan Cross
Stravinsky vào thế kỉ 21


Ảnh hưởng thực của Stravinsky chỉ mới bắt đầu.
(Andriessen và Schonberger, 1989 [1] )




Ðã có thời dòng diễn biến âm nhạc của thế kỉ 20 hầu như chỉ được phản ánh theo biểu đồ chủ nghĩa hiện đại Ðức-Áo. Cùng với việc thừa nhận vị thế cách mạng của một số tác phẩm hiện đại then chốt sơ thời không thuộc Ðức và Bắc Âu - như Prélude à l’après-midi d’un faune của Debussy, ‘Concord’ Sonata của Ives, The Miraculous Mandarin của Bartók, và đương nhiên, Le Sacre du printemps của Stravinsky - thì sự phát triển của dòng nhạc tiền phong, nói chung, được thể hiện qua một đội ngũ xuất phát: Schönberg và hai người học trò nổi tiếng nhất của ông , và qua các biểu thị vị lai ở Darmstadt (Boulez, Stockhausen). Ðây chính xác là điều, trong lúc triển khai phương pháp sáng tác 12 âm, Schönberg đã mường tượng về dòng diễn biến của lịch sử qua lời tuyên bố: “Hiện nay tôi đã khám phá ra cái điều sẽ bảo đảm uy thế cho âm nhạc Ðức trong 100 năm tới” [2] . Năm 1951, Pierre Boulez tìm cách duy trì huyền thoại Schönberg khi ông khẳng định: “kể từ các khám phá của Trường phái Vienna, tất cả các nhà soạn nhạc không theo phương thức chuỗi đều vô dụng” [3] (hôm nay, không nhất thiết Boulez giữ cái nhìn này). Ở thập niên 1940, Theodor Adorno, một nhân vật có ảnh hưởng lớn với nhóm Darmstadt, đã đề xướng cách đánh giá (thể hiện rõ nhất trong Philosophie der neuen Musik/Triết lí âm nhạc mới) trong đó ông đặt Schönberg và Stravinsky ở hai cực đối lập: Schönberg - Kẻ Tiến Bộ, Stravinsky - Kẻ Thoái Bộ. Theo cái nhìn chung lúc ấy, Stravinsky chỉ được xem là một nhà tân-cổ điển (còn Schönberg thì không gánh trách nhiệm nào). Chỉ sau cái chết của Schönberg năm 1951, Stravinsky mới vận dụng phương thức chuỗi, và được xem là đã gia nhập ‘dòng chủ lưu’ (Adorno biểu lộ niềm ‘thích thú’ của mình trong ‘Stravinsky rời phái phản động’ [4] ). Quả thực, những chuyển biến trong Stravinsky ở những năm 1950 là một hiện tượng ngoại lệ, hầu như chưa từng xảy ra: sau khi là nguồn hứng khởi cho các thế hệ nhạc sĩ trẻ hồi đầu thế kỉ, thì ở giai đoạn cuối đời, chính ông lại được các thế hệ trẻ ảnh hưởng lại. Có lẽ những diễn biến Darmstadt đã quyến rũ Stravinsky, trong đó có sự kiện ông tham dự buổi ra mắt tác phẩm Structures của Boulez, và có lẽ những buổi trình tấu Webern của Robert Craft ở Mĩ cũng đã tác động mạnh lên ông.

Ðương nhiên, việc tiếp thu hậu bối đòi hỏi một nỗ lực lớn... Nhưng khi bạn đã qua tuổi 75 và thế hệ bạn đã chồng gối lên nhiều thế hệ trẻ, hẳn bạn không có bổn phận phải giữ vị trí tiên phong trong ‘chuyến đi của một nhà soạn nhạc’, mà bạn có bổn phận phải tìm cách phát hiện ra điều gì đó mới, cái đã khiến thế hệ mới trở nên mới [5] .

Movements, cho dương cầm và dàn nhạc năm 1958-59, là một câu trả lời rõ ràng của Stravinsky đối với các thử nghiệm hứng khởi từ Webern của các đồng nghiệp trẻ. Nhưng Stravinsky vẫn tiếp tục phát triển phương thức chuỗi của ông (không nhất thiết theo hệ 12 âm), lường trước việc đánh giá và vận dụng lại phương thức 12 âm trong vài thập niên cuối của thế kỉ 20. Về mặt này, một Agon trước đó một chút thì có sức hấp dẫn lớn. Ðược các nhạc sĩ rất khác nhau như Birtwistle, Boulez, Carter và Taverner viện dẫn, ảnh hưởng của Agon đối với các nhà soạn nhạc trẻ xuất phát từ cái cấu trúc, từ sự phối khí tinh sắc, từ tính quân bình giữa các chất liệu dị chuyển, đồng chuyển và 12 âm, cũng như từ chính cái phương thức tổ chức chuỗi tự nó của tác phẩm.

Nhưng vì sao Stravinsky vẫn đóng một vai trò cách mạng đối với thế kỉ 21? Chắc chắn chúng ta có thể khẳng định rằng di sản của Stravinsky đối với toàn bộ thế kỉ 20 là hết sức đồ sộ. Ðiều này chỉ dần dà trở nên rõ ràng khi cái bóng Stravinsky ngày càng hiển lộ trên cái bóng trấn át Schönberg, cũng như khi lịch sử chủ nghĩa hiện đại phải được viết lại để tính đến một mạng ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều. Ðương nhiên, có nhiều nhà soạn nhạc đã trực tiếp mô phỏng các khía cạnh ngôn ngữ âm nhạc của Stravinsky. Từ các nhạc sĩ cùng thời như Varèse và Antheil, thông qua Poulenc, Orff và Copland (một Stravinsky ‘Brooklyn’), cho đến vô số các nhà soạn nhạc phim (cứ thử nghe nhạc phim Jaw của Steven Spielberg do John Williams soạn, hầu như bạn sẽ nghe được Le Sacre du printemps ở mỗi đoạn chuyển biến tình huống). Nhưng so với những cái mà các ví dụ ấy thoạt nhiên cho thấy thì ảnh hưởng của Stravinsky còn tế nhị và sâu xa hơn nhiều.

Chỉ cần viện một tác phẩm: Le Sacre. Chắc chắn có nhiều người mô phỏng nó. Nhưng nội lực tiết tấu và những đổi mới về nhịp thức, lối kết cấu khối-tảng và các tầng ý nhạc sắp xếp đồng thời, cách phối khí khác thường và cái năng lượng tuyệt đối ban sơ của nó - tất cả những tính cách triệt để ấy đã bảo đảm cho cái bóng của Le Sacre đậm ngả lên cả thế kỉ. Amériques của Varèse, Turangalila-symphonie của Messiaen, Metastasis của Xenakis, Double Concerto cho dương cầm và đàn clavico của Carter (tác phẩm mà bản thân Stravinsky cho là một ‘tuyệt tác’), và Earth Dances của Birtwistle, tất cả, qua những cung cách rất quyến rũ, đã mô phỏng nhiều khía cạnh trong Le Sacre du printemps.

Một số tác phẩm khác của Stravinsky cũng cho thấy tầm ảnh hưởng tương tự. Thậm chí, có thể nói, cường độ năng lực tiết tấu không ngớt trong Les Noces còn mạnh hơn trong Le Sacre, và chắc chắn là được duy trì liên tục hơn – một đặc trưng được Antheil tiếp thu và đẩy đến cực điểm trong tác phẩm Ballet mécanique đầy ấn tượng. Và những tràng chuông nghi lễ kết thúc trong Les Noces ngân vang thế kỉ 20, dội thẳng vào các nghi lễ tâm linh, chẳng hạn như, của Arvo Part.

Không nghi ngờ gì, về phương diện thuần cấu trúc, Symphonies of Wind Instruments [6] chính là tác phẩm ảnh hưởng nhất của Stravinsky. Mĩ pháp của nó được Taruskin miêu tả qua thuật ngữ Nga drobnost’, cái mà ông định nghĩa là “một ‘tính cách tróc mảnh’; cái phẩm chất không thống nhất về cấu thức, một tổng-bộ-phận.” [7] , tương tự như kĩ thuật montage trong điện ảnh. Trong Symphonies, phương thức này biểu lộ qua một kiểu cấu-trúc-khảm, tạo ra những kết quả vang dội trong những cách bố cục ‘hồi đoạn’ của các tác phẩm rất khác nhau như Cantéyodjayâ và Couleurs de la cité céleste của Messiaen, Piano Sonata n. 2 và vở ôpera King Priam của Tippett, Momente của Stockhausen, De Staat của Andriessen, khắp nơi trong Birtwistle và Xenakis, thậm chí, một số chỗ, trong Ferneyhough. Nói vậy không có nghĩa cách cấu trúc khối-tảng đã không được sử dụng trong những tác phẩm khác của Stravinsky (nó được thấy rất rõ trong Petrushka và Le Sacre), và quả thực nó đã hiện diện trong âm nhạc của các nhạc sĩ khác, chẳng hạn Debussy (nổi bật nhất trong Jeux). Nhưng Symphonies là một biểu hiện rõ nét nhất của cái drobnost’: thái độ phản-hữu cơ đầy tự tin của tác phẩm đã đặt nó vào vị trí đối lập với âm nhạc đương đại Ðức, vốn được soạn theo phương thức xuyên suốt/through-composed, và thậm chí nó vẫn tiếp tục, sau gần một trăm năm, là một trong những tác phẩm tươi rói và giàu tưởng tượng nhất của thế kỉ 20.

Một trong những tính chất quyết định, cái khiến âm nhạc Stravinsky được phân biệt với các dòng nhạc hiện đại khác - là chiều kích nghi lễ của nó. Chính chiều kích này trong âm nhạc của ông, giữa nhiều chiều kích khác, là cái được Stravinsky ám chỉ trong quyển Tự Truyện qua câu nói nổi tiếng cho rằng âm nhạc hoàn toàn không mang bất cứ một khả năng biểu hiện nào. Ðiều này không có nghĩa âm nhạc không chuyên chở cảm xúc. Ðúng hơn, nó gắn liền với tính diễn cảm cộng đồng, với kinh nghiệm tập thể; nó chuyên chở tính biểu tượng, được cách điệu hóa hơn là mang chức năng miêu tả; nó đánh động các nghi lễ và hoạt động thờ phụng cổ xưa, muôn thuở. Ðiều này thấy rất rõ qua nhiều phương thức khác nhau trong các tác phẩm vũ nhạc như Le Sacre, Oedipus Rex, The Flood. Và thủ pháp ‘lạ hóa’ gần như kiểu của Brecht cũng được thể hiện trong các tác phẩm như Renard, Histoire du soldat và The Rake’s Progress. Nhưng trong nhiều tác phẩm khác, chiều kích này cũng rất hiển nhiên. Khúc hợp xướng nghi lễ lúc cuối trong Symphonies of Wind Instruments, những nghi lễ dân gian trong Les Noces, những nghi lễ tôn giáo trong Symphony of Psalms và Requiem Canticles, vai trò của các nhạc cụ trong Three Pieces for String Quartet. Ðúng làtrong lúc có nhiều nhà viết kịch cũng khai thác những kiểu sân khấu phi tự sự, sân khấu nghi lễ hóa, thì phong cách âm nhạc nghi lễ của Stravinsky đã chứng tỏ là một mô hình màu mỡ cho các nhà soạn nhạc rất khác nhau như Berio và Reich, Maxwell Davies và Henze.

Tóm lại, Stravinsky ngày càng trở nên quan trọng vì cung cách ông đi trước nhiều mối quan tâm hậu hiện đại. Sự phá bỏ ranh giới giữa cái gọi là nghệ thuật ‘cao’ và nghệ thuật ‘thấp’ qua cách vận dụng phóng khoáng các chất liệu âm nhạc dân gian (Ragtime, Ebony Concerto, cả đến những khía cạnh của Symphony in Three Movements), tư tưởng của nhiều nghệ sĩ ‘giao lai’ hôm nay. Ranh giới giữa ‘cổ điển’, ‘thử nghiệm’, ‘rock’, ‘pop’, và ‘jazz’ đã được suy rộng, như được chứng tỏ (ở Hà Lan) qua Andriessen và những hoạt động của ông với ban kịch De Volharding, hoặc (ở Mĩ) qua Michael Gordon, hoặc (ở Anh) qua Steve Martland và Michael Nyman. Và đâu là vị thế của nhiều nhà soạn nhạc tối giản và hậu tối giản (Reich, Adams, Torke, Fitkin, v.v.) nếu không có Stravinsky? Không chỉ thái độ sử dụng chất liệu âm nhạc, không chỉ tính sống động tiết tấu trong âm nhạc, mà chính cái vũ trụ âm thanh của họ là cái đã chịu ơn Stravinsky sâu sắc. (Chỉ cần so khúc mở đầu của tác phẩm hay được diễn tấu Short Ride in a Fast Machine của Adam với khúc mở đầu của Petrushka). Stravinsky chưa bao giờ là nhà hậu hiện đại; ‘cơ bản ông là một nhà soạn nhạc tiền-hậu hiện đại’ [8] . Nhưng bằng cách đặt âm nhạc quá khứ và âm nhạc phổ thông đương đại trong những bối cảnh mới, ông đã đề xuất những khả năng sáng tác phong phú. Quá khứ trở thành hữu cơ với hiện tại. Ðây là điều khiến The Rake’s Progress trở nên một tác phẩm quan trọng như nó đã có, bởi vì nó có thể được lĩnh hội theo nhiều cung bậc, từ kiểu phỏng nhại của Mozart cho đến kiểu phê phán toàn bộ lịch sử ôpera. Nếu di sản của Schönberg đối với thế kỉ là phương pháp của ông, thì di sản của Stravinsky là thái độ của ông [9] .

Arnold Schönberg đã chế ngự nửa đầu thế kỉ 20, và có thể nói, John Cage đã chế ngự nửa sau. Nhưng trên rất nhiều phương diện, người ta ngày càng nhận ra rằng thế kỉ 20 là thế kỉ của Stravinsky. Và chỉ ở các thập niên gần đây thì các nhà soạn nhạc thuộc đủ mọi trường phái mới toàn tâm nhận biết sự chịu ơn của họ đối với Stravinsky. Trong khi người ta có thể biện luận rằng các khả năng đề xuất của phương thức chuỗi và phương thức ngẫu định /aleatoricism đã cạn kiệt, thì các nhà soạn nhạc hôm nay vẫn thỏa chí hoạt động với các ý niệm, và thậm chí, với các chất liệu được Stravinsky trao tặng. Ở lúc khởi đầu một thế kỉ mới, thật là hấp dẫn khi nhìn xem khẳng định sau đây của Andriessen còn giữ vững cho đến khi nào: ảnh hưởng thực của Stravinsky chỉ mới bắt đầu.

© 2004 talawas
___________________
[1]Louis Andriessen và Elmer Schonberger, The Apollonian Clockwork: on Stravinsky, Jeff Hamburg dịch (Oxford: Oxford University Press, 1989), 6.
[2]Arnold Schönberg gửi Josef Rufer, Malcolm MacDonald trích từ Schönberg, (London: Dent, 1987), 29.
[3]Pierre Boulez, ‘Schönberg is dead’, trong Stocktakings from an Apprenticeship, Stephen Walsh dịch (Oxford: Clarendon, 1991), 214.
[4]T. W. Adorno, ‘Stravinsky: a dialectical portrait’, trong Quasi una Fantasia, Rodney Livingstone dịch (London: Verso, 1992), 172.
[5]Igor Stravinsky và Robert Craft, Conversations with Igor Stravinsky (London: Faber and Faber, 1959), 133.
[6]Ý kiến này được khai triển trong Jonathan Cross, The Stravinsky Legacy (Cambridge: Cambridge University Press, 1998).
[7]Richard Taruskin, Stravinsky and the Russian Traditions: a Biography of the Works Through Mavra (Oxford: Oxford University Press, 1996), 1677.
[8]Stephen Walsh, ‘Stravinsky’, The New Grove Dictionary of Music and Misicians, (ấn bản) Stanley Sadie, bản duyệt lại (London: Macmillan, 2001), cuốn 24, 557.
[9]‘Ảnh hưởng của Stravinsky có thể nhận ra . . . qua một thái độ đặc thù đối với các chất liệu đã có.’ Andriessen và Schonberg, The Apollonian Clockwork, 100.

[B]Nguồn: The Cambridge Companion to Stravinsky, Edited by Jonathan Cross, Cambridge University Press, 2003

Apomethe
28-08-2006, 17:49
Sáng tác cùng Stravinsky
Jonathan Cross chuyện trò với Louis Andriessen [1]

Jonathan Cross (JC): Ông thường đề cập là, ông tin rằng tầm quan trọng của nhạc Stravinsky đối với thế kỉ 21 rồi cũng giống như tầm quan trọng nó đã có đối với thế kỉ 20. Và trong một quyển sách, ông viết: “ảnh hưởng thực của Stravinsky lại bắt đầu lần nữa” [2] . Ông vẫn còn giữ ý kiến này? Theo ông, tại sao hôm nay điều này vẫn còn chính xác?

Louis Andriessen (LA): Có nhiều suy tư mang tính mong ước mạnh mẽ trong câu nói ấy! Tôi hi vọng nó vẫn chính xác và tôi không tìm ra bất cứ một lí lẽ thuyết phục nào để bảo rằng tình thế đã thay đổi. Trước hết, nó không trực thuộc thái độ của Stravinsky đối với chất liệu âm nhạc, cái vốn là một chủ đề triết học. Ðúng hơn, nó trực thuộc một yếu tố nhân quần, cái tính chất xã hội trong âm nhạc của ông. Với điều này, tôi muốn nói đến ý niệm của Stravinsky về bản chất chống-thứ-bậc của nguồn xuất phát và chất liệu âm nhạc. Tôi nghĩ đây là bước đi quan trọng nhất của Stravinsky so với cái Schönberg đã thực hiện, người chỉ tìm cách dân chủ hóa cao độ của nốt nhạc. Sự việc hình như cho thấy tôi có thể chính xác: với sự xuất hiện của cái gọi là hậu hiện đại, cái hiện đại (âm nhạc đồng chuyển phức hợp) có vẻ không còn là tương lai của âm nhạc, mà đúng hơn, là cái ngõ cụt kết cuộc của chủ nghĩa Lãng Mạn Ðức.

Tôi đã có những nghi ngại về hiện trạng này ở cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, giờ thì nhiều người đứng về phía tôi. Tôi nghĩ rằng những nhà soạn nhạc trẻ - Mĩ là một ví dụ tốt - đã ngoảnh mặt với cái họ gọi là tư duy dĩ Âu vi trung. Họ bắt đầu hiểu rằng có nhiều nền âm nhạc khác nhất thiết phải được nghiên cứu và vận dụng để phát triển ngữ nhạc của họ. Ðương nhiên, cũng có một khía cạnh tân thực dân trong văn hóa Mĩ mà tôi ghét, cái họ gọi là ‘world music’. Những thứ này thật gớm ghiếc.

JC: Đây là điều chẳng dân chủ chút nào phải không?

LA: Trái với dân chủ. Nó là một loại chủ nghĩa thực dân tư bản. Tuy nhiên, có một khía cạnh khác, Steve Reich hẳn là một ví dụ tao nhã. Tiền thân của loại tư duy ấy có thể thấy trong âm nhạc của Stravinsky, ngay cả trong những tác phẩm sơ thời. Chính điều này là điều tôi muốn nói về ảnh hưởng của Stravinsky.

JC: Như thế, ông có nghĩ là Schönberg và Webern đã có thời của họ, rằng ảnh hưởng của họ đã thực hiện xong chuyến đi của nó?

LA: Thật ra, vấn đề là ở chỗ lịch sử không đi theo đường thẳng. Nhưng tôi nghĩ điều này là chính xác: chắc chắn nó chính xác đối với Schönberg. Nhưng do sự thể từ Schönberg mà có một Webern hậu kì, thế là chúng ta gặp khó khăn. Bởi vì một Webern hậu kì thì có cái gì đó liên quan tới cách cấu thức không phát triển, cái hết sức truyền thống và cổ điển, chẳng mang chút tính cách Lãng mạn nào, và rất gần với Josquin [Des Prez] [3] . Từ thời điểm ấy chúng ta vụt trở lại Stravinsky, và hẳn là Morton Feldman, người mà tôi cho là một nhà soạn nhạc rất quan trọng. Thế thì với các thiên tài như Anton Webern – cũng như Schönberg – thì rất khó mà trói buộc họ về mặt lịch sử. Cũng thế khi bạn đề cập một cách tổng quát về phương thức chuỗi. Ðương nhiên, có một lượng âm nhạc đồ sộ rất ngớ ngẩn và hỗn độn viết theo phong cách này, nhưng cũng có những kiệt tác của Stockhausen và Boulez, những tác gia hết sức quan trọng. Sự hiện diện của họ là thiết yếu về mặt lịch sử. Mặt khác, tư duy chuỗi tự nó, khi được chiết ra từ các tác phẩm 12-âm sắc thé, thì cực kì tác động, một lối thoát rất quan trọng cho các loại âm nhạc lạc quan ngờ nghệch, trước và sau Thế chiến II. Ðấy là các Sinfonettas cho dàn nhạc đàn dây, các ngón nghề của Carl Orff, và các loại âm nhạc xào lại.

JC: Thế thì, có phải tư duy chuỗi vẫn có tầm quan trọng của nó cho dù ảnh hưởng của Schönberg đã suy sụt?

LA: Ðiều thú vị là khi Boulez và Stockhausen thực hiện xong cái họ muốn thực hiện ở hậu kì thập niên 1940, thì họ lúc nào cũng nghĩ nó chẳng liên quan gì đến chủ nghĩa Lãng mạn Ðức. Họ không mảy may có một ý niệm gì. Stockhausen hoạt động trong các phòng ghi âm. Ông đang bận tâm trong việc tìm ra những âm thức hoàn toàn mới và (ông nghĩ) những ý niệm âm nhạc mới. Tôi nhớ lại một hội nghị về âm nhạc điện tử ở Venice năm 1958. Nono có mặt, Berio và một số nhà soạn nhạc Ðức cũng có mặt, tôi gặp nhiều nhân vật rất ấn tượng. Rồi Hà Lan trình làng một tác phẩm bát cung, lạc quan, qui mô nhỏ cho vĩ cầm và các nhạc khí điện tử do Henk Badings soạn. Âm nhạc của tác phẩm này thực sự làm Nono khó chịu, người tin rằng bạn không nên phối hợp chất liệu âm nhạc cũ với phương tiện mới. Phương tiện mới, đối với họ, có nghĩa là tư duy mới về âm nhạc.

JC: Theo tôi, Boulez là một nhân vật rất thú vị, bởi vì một đằng, chúng ta lập tức xem ông là người trực thuộc thế hệ Darmstadt hồi cuối thập niên 40, người đã diễn giải lại Webern, nhưng đằng khác, ông lại là một nhà soạn nhạc rất Stravinsky.

LA: Ðúng vậy, chắc Boulez cũng thừa nhận điều này.

JC: Ðây không chỉ là hệ quả của sự phân tích nổi tiếng của ông về Le Sacre du printemps mà còn là hệ quả của quan điểm sáng tác của ông: một mối quan tâm về nghi lễ, về việc kiến tạo những cấu trúc qui mô rộng dựa trên một lượng chất liệu tương đối giới hạn, liên tục rà soát lại các ý tưởng hơn là phát triển chúng theo chiều hướng của Schönberg.

LA: Boulezchẳng mang chút gì của một nhà soạn nhạc Lãng mạn hoặc Biểu hiện. Theo một truyền thống đặc sắc nhất của Pháp, ông là một nhà soạn nhạc thủ công. Có lẽ ông không tìm hiểu nhiều về Maritain [4] , thế nhưng ở tầng kích triết học, ông thiên về Stravinsky hơn là về Schönberg. Thật vậy, Boulez là một trong những người đầu tiên tuyên bố rằng Schönberg đã chết.

JC: Thế ông có nhớ bản nhạc nào của Stravinsky mà lần đầu tiên ông nghe được không?

LA: Tôi không nhớ. Ðiều tôi nhớ rất rõ là cái đĩa nhạc Le Sacre du printemps 78 vòng. Ðây là một đĩa nhạc rất hay (tôi nghĩ là của Telefunken với Eduard van Beinem và Concertgebouw Orchestra), một trong ít đĩa nhạc mà gia đình tôi có hồi đầu thập niên 1950. Trong gia đình, chúng tôi thường chơi những tác phẩm dành cho dương cầm bốn tay, có một nhạc bản của Stravinsky, nhưng đó không phải là một soạn phẩm cho dương cầm bốn tay. Tôi nghĩ trước đó chắc tôi cũng đã được nghe các tác phẩm khác của Stravinsky, nhưng Le Sacre là mối tình sâu đậm và bền bỉ nhất.
JC: Thế thì, phải chăng Stravinsky – và đặc biệt là Le Sacre – đã tác động lên cha anh trong cương vị một nhà soạn nhạc [5] ?

LA: Năm 1950 – lúc tôi 10 tuổi, thì gia đình tôi dọn từ Utrecht về Den Haag. Tôi nhớ trong nhà có nhạc bản Oedipus Rex và Symphony of Psalms. Có cả đĩa nhạc Symphony of Psalms. Cha tôi luôn luôn nói về nó với niềm thán phục sâu sắc. Sự phê phán duy nhất của ông là cách viết hợp xướng quá nghiêm cứng, quá vuông vắn. Ðây là đề tài lập đi lập lại của cha tôi. Là một nhà soạn nhạc Thiên Chúa Giáo, cha tôi thấm sâu trong lối viết hợp xướng rực rỡ (tất cả những khúc Nhạc Thánh Ca theo phong cách Pháp hoặc Ý).

JC: Anh còn cho rằng Le Sacre là một tác phẩm then chốt cho thế kỉ 21. Rõ ràng rằng nó là một tác phẩm có ảnh hưởng trong thời của nó và người ta có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn của nó trên thế kỉ 20. Nhưng do đâu mà anh cho rằng, cho thế kỉ 21, nó vẫn là một tác phẩm cách mạng?

LA: Tôi nghĩ rằng điều này vẫn có nghĩa. Trước hết, cái mà chúng ta và thời kì sắp tới phải tiếp thu từ Le Sacre không phải là sự phát triển tiết tấu, mà sự phối hợp kì diệu giữa các chất liệu giai điệu dị chuyển và các chất liệu hòa âm đồng chuyển. Ðây là điểm then chốt mà Stravinsky chưa bao giờ nói đến. Nó rất sáng rõ. Chính điều này, hơn là cái ‘ùm pà- ùm pà - ùm pà’, là cái chìa khóa của bản nhạc. Theo tôi, phương cách phối hợp lạ lùng giữa các giai điệu cực giản dị và lối hòa âm cực tinh luyện vẫn là một điều bí ẩn. Chúng ta, ai cũng nỗ lực tìm hiểu là bằng cách nào mà tác phẩm đã liên tục tác động và chẳng bao giờ có ai tìm được câu trả lời. Tôi tin rằng, đây là điều kì diệu của Le Sacre: cái ý niệm giao biên giữa âm nhạc nghiên cứu kĩ và âm nhạc bình dị.

JC: Thế thì, chính xác, bằng cách nào mà âm nhạc nghiên cứu kĩ và âm nhạc bình dị đã hoạt động chung với nhau?

LA: Có thể nói thế này, cơ bản, các giai điệu chỉ là những mẩu hát dân gian. Nhưng hòa âm thì liên kết sít sao với những cái mới nhất của thời kì, trong âm nhạc của Skryabin, của Ravel - nghĩa là, của những nhạc sĩ mà Stravinsky thực sự chịu ảnh hưởng.

JC: Và đương nhiên là Rimsky-Korsakov.

LA: Ðúng vậy. Luôn luôn là Rimsky.

JC: Tôi thấy điều này rất thú vị. Chúng ta hẳn biết tất cả những tác phẩm đã mô phỏng các tính cách tiết tấu hiển nhiên nhất trong Stravinsky ở thập niên 1920 và 1930 (anh đã đề cập đến Carl Orff). Người ta mau nhàm điều này. Nhưng, một cách chính xác, cái hết sức quyến rũ tôi trong một tác phẩm, chẳng hạn như Les Noces,là cái tính cách phức hợp về hòa âm hầu như không thể mô phỏng của nó.

LA: Và sự phối hợp (giữa hòa âm và tiết tấu). Những cách hòa âm ấy, trong một khuôn khổ nhất định, đã từng được Ravel và Debussy sử dụng. Nhưng nó vẫn chỉ là hòa âm. Trong Stravinsky thì dường như khác.

JC: Theo nghĩa nào mà ông đã sáng tác cùng Stravinsky một cách có ý thức? Dưới góc độ của một nhà soạn nhạc, điều gì đã khiến ông tìm đến Stravinsky?

LA: Có thể tôi sẽ nói khác với những điều tôi đã nói trong The Apollonian Clockwork. Nhưng về cơ bản, tôi đã thực hiện nhiều điều trong quyển sách này. Ðây là đóng góp của tôi về việc sáng tác. Nhưng lúc này, cái tôi cho là quan trọng nhất, tôi gọi là ‘thái độ đối với chất liệu’. Tôi cũng thấy thái độ tương tự trong các hình nghệ thuật khác, và tôi đã liên kết với chúng. Nabokov trong văn học, Picasso trong nghệ thuật thị giác là những ví dụ rất thích hợp. Trong quyển sách, chúng tôi đã nêu tên một số nhà soạn nhạc làm ví dụ. Thái độ này can dự đến cái tôi gọi là phương thức lạ hóa. Bạn khởi sự với một khoảng cách. Khoảng cách cần thiết để dự phòng những cái dễ làm bạn tổn thương trong cương vị của một nhà soạn nhạc. Tính trào phúng che chở tình cảm của bạn. Và sau đó thì bạn có tự do để sáng tác. Tôi không nói trào phúng theo nghĩa nói ngược lại điều bạn muốn nói. Ðây chính là một hình thái rất sâu sắc của triết lí nghệ thuật. Trong những năm gần đây tôi khám phá ra rằng thuật ngữ trào phúng đã được các nhà triết học Ðức sử dụng vào thời Hegel. Schlegel đã nói về tính trào phúng bi kịch. Ðó là lúc chủ nghĩa Lãng mạn bắt đầu. Trong âm nhạc, thời kì Lãng mạn sơ thời này rất thú vị, tôi nghĩ Berlioz, Mendelssohn, Chopin rất quan trọng. Sau đó thì không còn trào phúng nữa; chúng rơi vào sầu cảm. Một sự khác biệt lớn.

JC: Thế anh có nghĩ rằng cái mà lúc ấy Stravinsky đang hướng đến trong lời tuyên bố, thường được trích dẫn và bị hiểu nhầm, theo đó âm nhạc chẳng chuyên chở bất cứ một khả năng biểu hiện nào? Một số người thì bảo rằng điều này đơn giản chỉ là nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng thực ra có phải nó can dự đến phương thức giữ khoảng cách trào phúng không?

LA: Cuối cùng thì tôi nghĩ nó can dự đến tình yêu của Stravinsky đối với âm nhạc Lãng mạn sơ thời hoặc không Lãng mạn. Cần nhận thức rằng, vào thời này, âm nhạc được nghe là âm nhạc Lãng mạn. Ðó là sinh hoạt âm nhạc ở Châu Âu. Lúc ấy không có những phương thức thực hành mới, không có phương thức thực hành Barốc, không có âm nhạc đương đại. Ðây cũng là điều Stravinsky phê phán. Một nhà soạn nhạc trẻ bất mãn mắng một phương thức thực hành trưởng giả. Thế nhưng, nó chuyên chở những tính cách chính xác và sâu sắc hơn: chắc chắn trong các bài giảng ở Havard, Stravinsky đã bàn luận với Roland-Manuel về toàn bộ cái triết lí thủ công. . .

JC: Ðúng vậy. Nhưng trên thực tế, có một vấn đề là nhiều cái trong Poetics of Music không phải do Stravinsky viết.

LA: Nhưng họ (Stravinsky, Alexis Roland-Manuel và Pierre Souvtchinsky) ắt đã thảo luận với nhau. Stravinsky đã nói cái ông muốn nói.

JC: Và Stravinsky tiếp tục nói, nó ngày càng trở thành khắt khe. Trong cương vị của một nhà soạn nhạc, anh là người rất dấn thân về chính trị, không chỉ trong âm nhạc của anh mà còn qua cung cách anh muốn âm nhạc của anh được lĩnh hội, cái bối cảnh trong đó nó được diễn tấu. Làm cách nào mà anh đặt tương quan với một khía cạnh của Stravinsky – ít nhất là trên bề mặt – sự thể ông hoàn toàn không tham gia vào chính trị? Ðiều ấy có phải là một vấn đề đối với anh?

LA: Không. Tính cách con người rất ít liên hệ đến tác phẩm. Như tôi đã nói trong không khí sôi sục của các cuộc đấu tranh ở các thập niên 1960 và 1970: một người cộng sản tốt không nhất thiết là một nhà soạn nhạc tốt, và ngược lại. Âm nhạc Stravinsky vượt qua những ranh giới xã hội và địa lí. Stravinsky phản đối xã hội Châu Âu nặng tính giai cấp hồi đầu thế kỉ 20.

JC: Chúng ta có thể nói kĩ hơn về những cái đặc thù trong âm nhạc Stravinsky không? Tôi nghe thấy trong âm nhạc của anh một ‘âm thức’ Stravinsky, một mối quan tâm tinh sắc về cung cách các bè nhạc được sắp xếp, di chuyển v.v.

LA: Chắc chắn nó liên quan đến kĩ thuật dắt bè. Trong quyển sách, chúng tôi gọi là phép ‘hòa thanh không tưởng’. Ðây là kiểu dắt bè lúc nào cũng ‘nhầm’, từ một bè này sang một bè khác. Và cái ‘nhầm’ này trong nhạc Stravinsky là cái ông ‘lấy’ từ Bach. Trong quyển sách, chúng tôi cũng bàn về việc diễn tấu các Côngxéctô ‘Brandenburg’ cho bốn tay – ở đây, người ta thường gặp cái phương thức dắt bè là lạ của Bach. Stravinsky thì lại khác hơn nữa: mỗi khuông nhạc đều có một nốt nằm không đúng chỗ, hoàn toàn nhầm. Nhưng hầu như nó nghe như đúng chỗ; thật là lạ kì. Tôi nghĩ điều này rất tiêu biểu ở Stravinsky. Sự phối khí rốt cuộc ít quan trọng hơn. Và có rất nhiều đặc thù khác, chẳng hạn như nhịp độ hòa âm, cái hết sức lạ.

Hôm nay tôi vừa có một buổi dạy một nhạc sĩ trẻ, người đang tìm cách phát triển các ‘hạt’ nhạc cực nhỏ kiểu Ligeti. Trong buổi học tôi đã phê phán việc anh ta thích viết theo nhịp 4/4; anh ta đổi tốc độ, nhưng với nhịp thức 4/4 thì điều này rất dễ. Sau đó tôi nói với anh ta về tính khả thi của một trạng thái biện chứng khi bè trầm có vẻ giữ đúng nhịp thức nhưng phách nhạc thì lúc đúng lúc trật. Stravinsky thực hiện điều này bằng cách chuyển nhịp hiệu. Tại sao ông làm điều này? Giai điệu đối với ông cực kì quan trọng, nhưng ông để bè trầm lúc thì đảo phách, lúc thì không. Nó trở nên nhẹ nhàng: đấy là điều ông muốn. Bạn giải thích điều này cho học trò để họ thông thoáng và uyển chuyển hơn, nhưng không nên bắt chước.

JC: Cái hấp dẫn tôi là tính sân khấu trong Stravinsky và các loại sân khấu mà ông đã kiến tạo. Chúng ta đã nói về phương thức lạ hóa, nhưng tính nghi lễ cũng quan trọng. Theo tôi, tính nghi lễ cũng là một bộ phận quan trọng trong các tác phẩm sân khấu của anh. Chính cái ý niệm sân khấu của Stravinsky là cái anh hay quay về phải không?

LA: Tôi nghĩ tính sân khấu là tuyệt đối thiết yếu. Diaghilev hẳn đã tác động mạnh lên Stravinsky. Boulez có lần đặt câu hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu Stravinsky và Brecht hoạt động cùng nhau.

JC: Nhưng Brecht lúc nào cũng muốn khán giả giữ khoảng cách với hành vi kịch, cái tôi không tin là Stravinsky muốn.

LA: Nhưng điều này xảy ra trễ hơn nhiều. Ở thập niên 1920, tôi nghĩ những điều Stravinsky muốn thực hiện trong Oedipus Rex thì tương tự như những tính cách của Brecht. Brecht là một trong những người đầu tiên đã nghiên cứu sân khấu ngoài-Phương Tây: ông tường tận sân khấu Nô; ông học nhiều điều từ Trung Quốc. Tôi nghĩ, đây là thái độ giống nhau.

JC: Khi ông sáng tác các tác phẩm cho sân khấu ông có nghĩ đến Brecht không?

LA: Ở những năm 1970, tôi gặt hái được nhiều kinh nghiệm khi làm việc chung với một gánh hát mang tên Baal, tên vở kịch đầu tiên của Brecht. Các thành viên của gánh này say mê cực điểm! Các vở ôpera nho nhỏ mà chúng tôi thực hiện (với rất nhiều đối thoại) đã trao cho tôi danh nghĩa của một nghệ sĩ sân khấu. Trước đấy, tôi đã viết nhạc phim và nhạc kịch, tôi đã hợp tác với các đoàn vũ; tôi đã viết nhạc cho kịch rối ở tuổi 15. Ðúng vậy, tôi thực sự cảm thấy sự hiện diện của Brecht.

JC: Thế còn điện ảnh? Ðây là loại hình nghệ thuật mà Stravinsky chưa thực sự tham gia. Người ta có thể nghĩ rằng nhạc của ông hẳn sẽ rất thích hợp với điện ảnh.

LA: Lúc ấy, điện ảnh chỉ là sự thu hút thương mại. Trừ vài ngoại lệ, nó thực sự chẳng can dự gì đến nghệ thuật. Ở Châu Âu, đã có vài hoạt động điện ảnh tiền phong ở những năm 1920, và đương nhiên đã có một Bunuel. Nhưng lúc ấy, ít ai biết đến tác phẩm của ông. Hollywood chỉ có nghĩa là nghệ thuật hạng ba… và kim tiền. Có lúc Stravinsky đã thử hoạt động trong lãnh vực này. Ông đã được đặt viết (cho phim Jane Eyre, với Orson Welles trong vai Rochester). Tất nhiên, các nhà sản xuất Hollywood cho rằng nó là nhạc ‘điên’. Họ không thể sử dụng và nhờ một nhạc sĩ khác (Bernard Herrmann). Nhưng họ vẫn trả tiền Stravinsky. Hôm nay, với viđeo thì khác hẳn. Bạn có thể thực hiện những điều ‘điên’. Nhưng ở thời Stravinsky, loại hình nghệ thuật này không được quan tâm; sân khấu là loại hình nghệ thuật phát triển hơn nhiều.

JC: Ông nghĩ gì về tình trạng âm nhạc mới hiện nay ở Hà Lan, qua các học trò ông cũng như qua các nhà soạn nhạc chung quanh ông? Có giai thoại cho rằng, đối với các nhà soạn nhạc Hà Lan thuộc thế hệ hậu chiến, vai trò của Stravinsky rất quan trọng. Ông nghĩ điều này còn chính xác không?

LA: Tôi tin rằng điều này vẫn chính xác. Nói chung, tôi cho rằng việc người Canada và người Mĩ giải phóng chúng tôi có nghĩa là ảnh hưởng, tích cực cũng như tiêu cực, của văn hóa Mĩ đối với Hà Lan trở nên mạnh hơn so với Anh và chắc chắn là mạnh hơn so với Ðức và Pháp. Tôi nghĩ, ảnh hưởng của văn hóa phim ảnh và nhạc jazz Mĩ là cực mạnh. Ðiều này cho thấy tại sao từ những năm 1920 cảnh quang âm nhạc ở đây đã chuyển biến rất nhiều, tôi cho rằng – nói chung, nó thiên về kiểu Stravinsky hoặc Varèse… và kiểu Mĩ. Sau đó thì Stravinsky hầu như được xem là một nhà soạn nhạc Mĩ.

Có lẽ cũng vì ở xứ chúng tôi không có núi non: đất thì phẳng, ánh sáng thì sắc. Người ta bảo rằng những tính cách địa lí ấy có can dự đến thuyết Calvin. Ở Hà Lan có nhiều dòng Tin Lành rất mạnh, nhiều nhà soạn nhạc thích thể hiện những tính cách cứng cáp, khắt khe… Mondrian là một ví dụ trong nghệ thuật. Nhưng một điều lạ lùng là ở đây lại có nhiều điều khả thi. Tôi nghĩ đó cũng là lí do mà Stravinsky được trao cho một vị thế rất quan trọng.

Nhạc jazz, nhạc ứng tác, vốn hết sức sinh động ở Hà Lan, cũng can dự đến điều này, và cũng là điều gần với văn hóa Mĩ. Còn Schönberg hoặc Webern với nhạc jazz, thì không thể mường tượng. Sự lớn mạnh của bộ môn jazz trong tất cả các nhạc viện lớn ở Hà Lan là một thuận lợi lớn cho các hoạt động tôi đang và sẽ tiến hành trong tương lai. Ðây cũng là sự giải phóng cho các nhạc cụ bị gọi là “trán thấp”, như đàn guitar hoặc kèn saxô hoặc các nhạc cụ gõ. Hiện nay, các nhạc công sácxô ở Hà Lan có thể diễn tấu mọi thể nhạc. Họ có thể chơi ngẫu hứng rất tuyệt, họ có thể thổi mọi khúc chuyển thể bebop; nhưng họ cũng có thể diễn tấu toàn bộ âm nhạc của tôi. Tôi cần loại nhạc công sắcxô này, không phải các nhạc công chơi theo phong cách duyên dáng Pháp. Ðàn guitar cũng thế. Năm 1976, khi tôi soạn một bè nhạc cực khó cho đàn guitar bass trong tác phẩm De Staat, thì có một nhạc sĩ guitar tài hoa có thể tương đối hoàn thành tốt phần việc. Hôm nay thì có một số nhạc sĩ guitar có thể diễn tấu phần này.

Thế nhưng có một âm thức Hà Lan. Cornelis de Bondt chẳng hạn, rất Hà Lan: anh ta có cách tiếp cận Stravinsky thực sự mới. Hoàn toàn mới.

JC: Anh đã dành khá nhiều thời gian cho những hoạt động ở Mĩ, nơi nhạc của anh rất phổ cập. Anh thấy gì ở đó? Liệu người ta có thể khái quát hóa những hoạt động sáng tác hiện nay ở Mĩ không?

LA: Nói chung, không nên khái quát hóa.

JC: Nhưng theo sự quan sát của anh thì có những xu hướng nào?

LA: Tôi nghĩ, nói chung, các nhà soạn nhạc ở Mĩ không ý thức nhiều về mặt lịch sử; ở Châu Âu chúng ta cảm thấy có một sự hỗ trợ lớn từ lịch sử. Tôi nghĩ người Mĩ thích âm nhạc của tôi bởi nó thể hiện cả hai khía cạnh. Nó rất Mĩ hóa - ít nhất là âm nhạc của tôi ở thập niên 70 và đầu thập niên 80.

Ở Mĩ, có những pháo đài giảng dạy sáng tác theo chủ nghĩa hiện đại – chẳng hạn các đại học Columbia, Yale, Princeton. Nhưng bây giờ thì tình trạng hoàn toàn thay đổi. Hầu như tất cả các đại học đều có các giảng viên rành rọt nhiều thứ, ví dụ, Charlie Parker.

JC: Còn các xứ Châu Âu khác… như Ðức, Anh, anh thấy thế nào?

LA: Tôi nghĩ ở các xứ Châu Âu khác, âm nhạc đương đại thường là những buổi diễn tấu các thứ nhạc 12 âm phức tạp với năm sáu chục người nghe thuộc giới trưởng giả. Lúc nào cũng là số người ấy: hoàn toàn là một nhóm người khép. Tại Hà Lan, đặc biệt ở Amsterdam, thì khác. Trong số những người bạn Ðức đồng nghiệp, Heiner Goebbels là người có cùng quan điểm với tôi: ông viết một loại nhạc rất sáng tạo và sắc sảo nhưng không quá như Brian Ferneyhough. Berlin thì có vẻ rất chủ động và tôi hi vọng ở đây rồi sẽ có những giao lai.

Về nước Anh thì tôi không thể phán đoán. Tôi nghĩ trong một cung cách nào đó, Anh gần với Hà Lan hơn là gần với Pháp và Ðức. Tuy nhiên, ở Anh sự đa dạng thấy rất rõ. Bạn có các nhà soạn nhạc trang nhã kiểu [George] Benjamin của bạn. Bạn có các nhà soạn nhạc kiểu [Michael] Finnissy của bạn. Không chỉ có một tuyến phát triển. Hôm nay tình hình này có lẽ chỉ có ở những xứ nhỏ. Thế rồi tôi nghĩ có một cách viết nhạc lạc quan kiểu Stravinsky mà tôi thấy trong một số nhà soạn nhạc Ai Len như Gerald Barry, Colin Matthews, Julian Anderson, họ là những nhà tân-Stravinsky. Có nhiều nhạc sĩ tương tự ở lứa tuổi 30. Và không nên đánh giá nhẹ một nhà soạn nhạc như Harry Birtwistle. Ông không chỉ đơn giản là một nhà soạn nhạc kiểu Schönberg hoặc Stravinsky (dù có thiên về Stravinsky hơn là thiên về Schönberg). Ông là một nhà soạn nhạc rất quyến rũ.

JC: Ở thời điểm này, ông đang sáng tác gì?

LA: Tôi đã hoàn tất vở ôpera thứ hai với Peter Greenaway [Writing to Vermer, 1999], đối với tôi đây là một loại nhạc hoàn toàn khác. Tôi nghĩ đến Ravel khi viết cho vở ôpera này. Nhưng nó cũng không xa Stravinsky mấy. Hiện nay tôi rất quan tâm đến sự phối hợp giữa giữa âm thức và hình ảnh, cho nên tôi có nhiều hoạt động với các nghệ sĩ thị giác. Tất nhiên, tôi đã nhận được phúc lợi đặc biệt khi làm việc với Greenaway: ông là một bậc kì tài. Lúc này tôi đang làm việc với một nhà làm phim khác ở New York, Hal Hartley, người mà tôi rất yêu chuộng. Chúng tôi đã hoàn thành một viđêô [The New Math(s), 2001]. Chúng tôi hi vọng sẽ thực hiện một cuốn khác. Có lẽ trong thời gian tới chúng tôi sẽ thực hiện một vở kịch. Nhưng thời điểm này thì tôi đang viết một côngxéctô đúp.

JC: Thế có phải ngay cả lúc này khi anh đang ngồi sáng tác anh có ý thức là cái bóng của Stravinsky đang ngả trên anh không?

LA: Anh thấy đấy, trên chiếc đàn dương cầm của tôi, phía tay phải là một bức ảnh nhỏ chụp nhà tôi, và phía tay trái là một bức ảnh lạ lùng, chụp Stravinsky với Balanchine, đứng phía sau, nhìn lên vai ông. Ðây là một bức ảnh hết sức ấn tượng. Anh biết đấy. Ðối với tôi, Stravinsky như một người bạn. Tất nhiên, cha tôi là người gần gũi hơn vì ông là cha tôi. (Chỉ tay vào các ngăn sách) Ðây là tất cả những quyển sách viết về Stravinsky – thậm chí có những quyển viết bằng các ngôn ngữ tôi không thể đọc, như tiếng Phần Lan hoặc tiếng Nga. Nơi kia thì có tất cả những tổng phổ của ông và tất cả những tác phẩm viết cho đàn dương cầm. Tôi đã bàn với Craft về khả năng viết một tổ khúc cho dàn nhạc dựa trên The Rake’s Progress, nhưng tôi nghĩ chắc tôi sẽ không thực hiện điều này, bởi tôi cần kèn trombone. Khi bạn thu hồi các giọng hát thì bạn cần thêm vào nhạc khí, và tôi thấy điều này quá khó, bởi trong sự phối khí nguyên thủy không có kèn trombone. Tôi không thể làm điều này. Có lẽ tôi còn quá khắt khe trong chuyện này.


© 2004 talawas
_____________________
[1]Buổi nói chuyện diễn ra tại nhà Louis Andriessen [một trong những nhà soạn đương đại nổi tiếng nhất của Hà Lan] ở Amsterdam ngày 12/02/2001.
[2]Andriessen và Schonberg, The Apollonian Clockwork, 101.
[3]Josquin Des Prez (1450-1521), một trong những nhà soạn nhạc lớn nhất của thời Phục Hưng, và ảnh hưởng nhất của âm nhạc Phương Tây.
[4]Jacques Maritain (1882-1973), nhà triết học Pháp.
[5]Hendrik Andriessen (1892-1981) nhà soạn nhạc Hà Lan.

Nguồn: The Cambridge Companion to Stravinsky, Edited by Jonathan Cross, Cambridge University Press, 2003

Apomethe
28-08-2006, 17:51
Pierre Boulez
Stravinsky: Le Sacre du printemps

Lời người dịch: Le Sacre du printemps được xem là tác phẩm biểu tượng của Stravinsky, thậm chí, của toàn bộ thế kỉ 20. Buổi ra mắttác phẩm này tại Théâtre des Champs-Elysées ngày 29/05/1913 là một trong những vụ xìcăngđan nổi tiếng nhất trong lịch sử sinh hoạt nghệ thuật Phương Tây. Khán thính giả thấy ‘buồn cười’ vì khúc dẫn nhập vừa êm ả lại vừa linh hoạt. Khi màn mở và Nijinsky bắt đầu vũ, thì cử tọa nổi cơn thịnh nộ, ‘nhạy cảm tinh tế’ của họ bị xúc phạm. Ravel và Debussy cũng có mặt và được âm nhạc cuốn hút, nhưng chẳng mấy chốc thì không khí đắm chìm trong một cuộc ẩu đả ầm ĩ, sỏi đá và nắm đấm cũng được tung ra. Buổi diễn chỉ có thể kết thúc với sự trợ lực của Nijinsky, chênh vênh trên thành ghế bên cánh gà, hô vang nhịp nhảy cho các vũ công. Vụ xìcăngđan nhanh chóng tạo ra hình ảnh một nhà soạn nhạc cách mạng, đạp đổ thần tượng, một enfant terrible, tác giả của một nhạc bản làm rung chuyển - và theo một số người - lật đổ toàn bộ một nền âm nhạc… Hôm nay, với khoảng cách của thời gian, người ta dễ dàng nhận ra rằng, bên cạnh những cái mới, tác phẩm còn chuyên chở những khía cạnh truyền thống, cắm sâu trong âm nhạc chủ âm, trong cách sử dụng hợp âm chủ ba nốt, trong âm nhạc dân tộc Nga, và ngay cả trong âm nhạc của các nhà soạn nhạc như Scriabin, Debussy, và Ravel. Nhưng sức tác động mạnh mẽ của tác phẩm, nhất là cái năng lực sáng tạo sôi sục đằng sau, vẫn tràn ngập chúng ta sau mỗi lần nghe.


Le Sacre du printemps là một địa chỉ chính xác cho ai muốn đi tìm tờ khai sinh cho cái vẫn còn được gọi là âm nhạc ‘đương đại’. Là loại tác phẩm tuyên ngôn, trong cùng cung cách, và có lẽ, trong cùng lí do như Les Demoiselles d’Avignon của Picasso, Le Sacre không ngừng tạo ra, đầu tiên, các cuộc luận chiến, sau đó, những lời ngợi ca, và cuối cùng, việc gạn đục khơi trong cần thiết. Suốt 7 thập niên, sự hiện diện của tác phẩm liên tục gây tác động. Cho đến những năm gần đây, một cách nghịch lí, Le Sacre đã khẳng định sự nghiệp của nó như một tác phẩm hòa tấu hơn là một vở balê; cả cho hôm nay, bên cạnh ít lần dàn dựng vang lừng, số lần biểu diễn giao hưởng vượt xa số lần thực hiện balê.

Như cái tên Schönberg đã gắn với Pierrot Lunaire, thì trong cùng phương thức, cái tên Stravinsky đã gắn với Le Sacre du printemps, hoặc phải nói, với hiện tượng Le Sacre - hiện tượng đã hợp nhất tác phẩm và cái bối cảnh của nó. ‘Nhạc bản’ này trở thành (tự nó và bởi huyền thoại nhanh chóng tỏa ra chung quanh việc sáng tạo nó) một tác phẩm nền tảng của âm nhạc hiện đại.

Cho dù hôm nay cảnh quang lịch sử có vẻ đa dạng hơn và tính cách của Stravinsky có vẻ phức tạp hơn, nhưng không gì có thể làm loãng đi niềm kích động vật lí khơi dậy bởi độ mãnh liệt và sinh lực tiết tấu trong một số đoạn. Không khó để hình dung niềm kinh ngạc được các đoạn ấy kích gợi trong cái thế giới nơi nền mĩ học ‘văn minh hóa’ thường tự cạn kiệt qua một tính cách hòa nhã hấp hối. Ðây chính là một dòng máu ‘man dã’ tươi rói, một cú sốc điện, thẳng thừng áp dụng trên một cơ thể úa vàng. Trong đại số học, từ ‘chiết giản’ được sử dụng khi các con số hạng của một phương trình được rút lại thành các biểu hiện trực gọn. Theo nghĩa này, Le Sacre có thể được đề xuất như một tính cách cơ sở: nó rút gọn những con số hạng của một ngôn ngữ phức hợp và tạo điều kiện cho một cuộc khởi hành mới.

Ngôn ngữ chiết giản này dứt khoát thu hồi một yếu tố đã từ lâu đã bị bỏ rơi [1] . Ngay sau khúc mở đầu và xuyên qua các khúc quan trọng nhất của Le Sacre, tính chiết giản đã xông xáo khẳng định quyền của nó: các mối quan hệ về hòa âm hoặc các đoạn thức giai điệu được rút lại thành những công thức rõ ràng, cực kì ấn tượng; chúng được sử dụng để hỗ trợ cho một chuyến sáng tạo tiết tấu, chuyến đi mới mà truyền thống Phương Tây chưa từng biết đến. Không nghi ngờ gì, âm nhạc Tây Âu đã từng chứa đựng những hạt giống ưu tư về tiết tấu, đặc biệt ở thời kì đầu; nhưng trong quá trình truy tìm giải pháp ở khu vực phức điệu, khu vực giai điệu, và khu vực cấu thức, vai trò của tiết tấu đã dần dần bị rút lại thành một lớp móng tất nhiên - đôi lúc được cải tiến - dựa trên một số nguyên mẫu hoặc ‘mô hình’. Dẫu sao, tiết tấu đã tuân theo dòng diễn biến chung của âm nhạc: viết để nhắm đến sự tinh tế, sự uyển chuyển, và sự phức hợp.

Nhưng với Stravinsky, sự trội bật về tiết tấu được bày tỏ qua phương thức qui rút tính phức điệu và hòa âm thành những chức năng phụ. Khúc ‘Danses des adolescentes’ cung ứng một ví dụ điển hình và tối cực cho cục diện mới này, nơi một hợp âm chuyển tải, thực vậy, toàn bộ sự sáng tạo. Rút lại thành một phương tiện biểu hiện giản dị và giản lược nhất (một hợp âm đơn lẻ không thể sản sinh bất kì một quan hệ về chức năng nào), hòa âm được sử dụng như chất liệu để thảo dựng tiết tấu, nhận thức qua thủ pháp nhấn âm. Phối khí dàn nhạc càng giúp chúng ta nghe rõ các chỗ nhấn âm ấy qua tiếng ‘thé’ của kèn co trên dòng liên tục của đàn giây. Chúng ta nhận thức loại âm nhạc được cực kì được dự kiến này như sau: trước khi bận tâm là đang nghe hợp âm nào, thì chúng ta đã chịu tác động bởi cái mạch nhịp phát ra từ nó. Khúc ‘Glorification de l’élue’, hoặc ‘Dance sacrale’, dù là những phút chốc ít sử dụng tính chiết giản hơn, gây ấn tượng trong cùng một cung cách như ở lúc đầu; vì rằng, bên trên những mẩu giai điệu ngắn (mà sự lập lại cho phép chúng ta nhận ra chúng nhanh như chúng ta đánh mất sự tác động của chúng), cái chúng ta nghe là một xung lực tiết tấu gần như ở trạng thái tinh ròng.

Stravinsky chuyển hướng xung lực tiết tấu. Cho đến thời ông, việc viết nhạc, về cơ bản, dựa trên một nhịp thức cơ sở, trong khuôn khổ đó, các ‘xung đột’ được kiến tạo qua các thủ pháp chồng chập, ráp hợp và chuyển dời những dạng thức tiết tấu chủ yếu gắn liền với việc sáng tạo ra giai điệu và việc thể hiện chức năng hòa âm. Cho nên, đã có một kiểu trật tự và qui cách đôi lúc bị các yếu tố xa lạ làm xáo trộn. Với Stravinsky, đặc biệt nhất, trong Le Sacre, trước tiên, có sự tồn tại của một mạch nhịp cơ sở, hầu như cảm thấy được một cách vật lí. (Không phải không có lí do, nhạc của ông luôn luôn được dự kiến một cách chính xác theo các giá trị được qui định bởi máy giữ nhịp, một hiện tượng ít thấy trong các nhà soạn nhạc hơn như người ta nghĩ). Mạch nhịp cơ sở này, tùy theo một đơn vị cho sẵn, được nhân lên, theo hoặc không theo qui tắc nào. Ðương nhiên, các hiệu ứng ‘kích động’ nhất được khơi dậy từ cái phép cái bội nhân bất qui tắc này, vì rằng nó tạo ra một qui mô ‘không thể dự kiến’, bên trong một nhạc cảnh ‘có thể dự kiến’.

Như một tác phẩm tự thân, Le Sacre không phụ thuộc vào chủ đề của vở balê; nó đã chứng tỏ điều ấy qua sự thể nó không cần bất cứ một sự cải biến nào khi được chuyển từ sân khấu sang phòng hòa nhạc. Có thể cho rằng cốt truyện của vở balê đã hòa quyện với cấu thức âm nhạc thành một thể đơn nhất: cấu thức của vở balê chính là cái chủ đề của nó. Ở những năm sau đó, Stravinsky thường truy tìm một sự trùng khớp giữa cấu thức và biểu hiện; ở đây, trong Le Sacre du printemps, ông tình cờ bắt gặp cách giải quyết hầu như không ý thức, và đã biến sự phân cách (dù có cằn cỗi thế nào), giữa âm nhạc thuần túy và âm nhạc ‘tiêu đề’, giữa âm nhạc cấu thức và âm nhạc biểu hiện, thành vô hiệu và trống rỗng.

Cái nghi lễ ‘Pagan Russia’, quả thực, đã đạt được một chiều kích vượt trên cái điểm xuất phát của nó; chính nó đã trở thành nghi lễ và huyền thoại của âm nhạc hiện đại.


© 2004 talawas
______________________
[1]Ở đây Boulez có ý nói về phương thức vận dụng tiết tấu đẳng tiết (isorhythmic): khi một mô thức tiết tấu được sử dụng xuyên suốt trong một nhạc bản và là một qui trình quan trọng, nếu không nói là nổi bật nhất trong một bài nhạc. Phương thức này được sử dụng rộng rãi trong các bài thánh ca ngắn (motet) ở thế kỉ 14 và đầu thế kỉ 15. (ND)


Nguồn: Orientations, Collected Writtings by Pierre Boulez, edited by Jean-Jacques Nattiez, translated by Martin Cooper , Harvard University Press 1986