Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Tạp chí Khoa học của Vương quốc Nhạc Cổ điển [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Tạp chí Khoa học của Vương quốc Nhạc Cổ điển



ttdungquantum
03-01-2007, 08:27
Tạp chí Khoa học của Vương quốc Nhạc Cổ điển

Tổng biên tập: ttdungquantum

Tiêu chí:
- Các bài viết phải tuân thủ nội quy diễn đàn.
- Nội dung các bài viết thể hiện sự liên quan của Âm nhạc Cổ điển với các lĩnh vực Khoa học Tự nhiên, Triết học, Khoa học Xã hội hoặc các nghiên cứu văn hoá.
- Các bài viết phải tương đối nghiêm túc và có tính trung thực cao.
- Không copy vào đây những bài viết có nội dung lá cải hoặc xuất xứ từ những nguồn không đáng tin cậy.

ttdungquantum
03-01-2007, 08:40
Mozart và Cơ học Lượng tử


http://ttdungquantum.googlepages.com/weiskopf.jpg/weiskopf-medium.jpg (http://ttdungquantum.googlepages.com/weiskopf.jpg/weiskopf-full.jpg)

"Đối với tôi, có hai điều đáng để sống," Victor Weisskopf vẫn thường nói với học trò của ông, "đó là Mozart và Cơ học Lượng tử." Vốn là một nhạc công piano, cực kỳ say mê âm nhạc, lý do để Weisskopf đến với vật lý lý thuyết cũng xuất phát từ những niềm say mê khoa học trong sáng và hướng thiện. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho điện động lực học lượng tử và vật lý hạt nhân. Chiến tranh cùng với những nghiên cứu hạt nhân đã cuốn ông vào chương trình Manhattan chế tạo bom nguyên tử. Sống qua những thảm hoạ chiến tranh và hạt nhân nhưng Weisskopf vẫn luôn giữ được niềm vui của mình, những niềm vui ấy có lẽ cũng là nguồn gốc cho lương tri của một con người.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/8d/Trinity_shot_color.jpg/200px-Trinity_shot_color.jpg

"Chiến tranh Thế giới II đã gây ra một áp lực đặc biệt khiến chúng tôi buộc phải phát triển những siêu vũ khí nhằm giành được thắng lợi. Nhiều nhà khoa học, trong đó có cả tôi đã tham gia vào công việc này vì mối lo sợ rằng những kẻ như Hitler cũng như các hệ thống chính trị phát xít sẽ có được những loại vũ khí đó trước chúng tôi...Tôi đã có mặt ở đó, ngày 16/7/1945, khi quả bom nguyên tử đầu tiên được cho nổ ở sa mạc New Mexico. Tôi đã nhìn thấy nó qua kính râm: ánh sáng của nó mạnh hơn 20 lần so với ánh sáng mặt trời lúc giữa trưa. Hai ngày sau, tôi lái một chiếc xe jeep chở Hans Bethe, Enrico Fermi, Robert Oppenheimer và tướng Leslie Groves đến xem chỗ quả bom nổ. Cát sa mạc đã bị nấu chảy và tráng thành một lớp thuỷ tinh trên một vùng có bán kính khoảng 200 thước Anh (1 thước Anh = 0,914 mét). Tướng Groves chép miệng: 'Tất cả chỉ có thế thôi sao?'. Chẳng lẽ ông ấy còn muốn đào một cái hố vào tận tâm Trái Đất chắc?" (Victor Weisskopf)




Trên những chặng đường của QED
Viki (tên gọi thân thiện của Victor Weisskopf) sinh ngày 19/9/1908 ở Vienna. Khi còn niên thiếu, Viki đã rất thích thiên văn học. Khi chưa đầy 15 tuổi, sau một đêm quan sát bầu trời, cậu đã cho đăng một nghiên cứu về những trận mưa sao băng Perseid. Thành Vienna khi ấy, như người ta vẫn ca tụng, chính là nơi mà âm nhạc của Mozart và những bản Valse của gia đình nhà Strauss có thể xua tan đi những suy nghĩ tăm tối trong đầu óc con người. Môi trường trí thức và giàu nghệ thuật ở đây đã nuôi dưỡng thế giới quan và những niềm say mê trong cuộc sống của Viki. Một niềm say mê lớn của Viki chính là âm nhạc. Khi còn rất trẻ, Viki đã trở thành một nghệ sỹ đệm đàn piano và thậm chí còn được coi là một nhạc công chuyên nghiệp.
http://ttdungquantum.googlepages.com/VikiBach.JPG/VikiBach-medium.jpg (http://ttdungquantum.googlepages.com/VikiBach.JPG/VikiBach-full.jpg)
Weisskopf đang chỉ huy một dàn nhạc thính phòng trình diễn Concerto Brandenburg Số 3 của Bach. (1974)

Những bài giảng tuyệt vời của Hans Thirring ở Đại học Vienna đã đem đến cho Viki sự tiếp xúc đầu tiên với vật lý lý thuyết. Năm 1928, theo lời khuyên của Thirring, Viki đã đến Göttingen, thánh địa của cơ học lượng tử. Vào thời gian đó, phương trình Dirac cùng với lý thuyết lượng tử về trường điện từ của Dirac đã đặt nền móng cho sự ra đời của điện động lực học lượng tử (QED). Mặc dù sớm có được những thành công ban đầu nhưng QED đã gặp phải những khó khăn sâu sắc về các khái niệm và kỹ thuật tính toán. Chính Viki đã luôn bám sát những chặng đường dài hàng chục năm của QED và đã đóng một vai trò lớn cho sự phát triển tốt đẹp của lý thuyết này.
Bề rộng tự nhiên của các vạch phổ là vấn đề đầu tiên mà Viki nghiên cứu. Ông đã đưa ra lời giải cho trường hợp các mức năng lượng chỉ chuyển về một trạng thái bền. Cùng với Eugene Wigner, ông đã mở rộng lý thuyết cho tất cả các loại chuyển dịch. Luận án tiến sỹ năm 1931 của ông đã mô tả sự áp dụng lý thuyết đó cho sự huỳnh quang cộng hưởng.
Trong những năm 1931-1937, Viki làm những nghiên cứu sau tiến sỹ, đầu tiên là với Werner Heisenberg ở Leipzig, sau đó với Erwin Schrödinger ở Berlin, Niels Bohr ở Copenhagen, Wolfgang Pauli ở Zürich, và cuối cùng lại quay về với Bohr. Tháng 1/1933, phát xít lên nắm quyền và thi hành chính sách bài Do Thái, vì lẽ đó mà Viki thường gặp khó khăn khi tìm việc.
Trong thời kỳ này, Viki cũng đã kết bạn với nhiều đồng nghiệp trẻ tài năng như Patrick Blackett, Felix Bloch, Henrik Casimir, Max Delbrück, Rudolf Peierls và George Placzek. Năm 1932 ở Copenhagen, ông đã gặp và cưới Ellen Tvede.
Trong giai đoạn này, Viki đã tập trung vào hai vấn đề lớn của QED: vai trò của các phản hạt và năng lượng tự tương tác của electron. Trong hai năm làm việc với Pauli ở Zürich, Viki đã thực hiện hai công trình quan trọng góp phần giải quyết hai vấn đề này. Theo gợi ý của Pauli, ông đã sử dụng lý thuyết lỗ để thực hiện một tính toán nhiễu loạn cho năng lượng tự tương tác của electron. Viki đã mắc phải một lỗi về dấu nhưng đã được Wendell Furry nhanh chóng nhận ra. Kết quả là năng lượng tự tương tác phân kỳ theo dạng lôgarít khi bán kính electron tiến tới không.
Đây là một kết quả lạ lùng. Từ trước đó, điện động lực học cổ điển chỉ cho sự phân kỳ tuyến tính và ngay cả QED cũng chỉ vừa mới cho thấy một năng lượng tự tương tác phân kỳ bậc hai nếu phương trình Dirac được dùng để mô tả một hạt. Viki đã cảm thấy chán nản vì chuyện mắc lỗi trong tính toán, ông trở nên mất niềm tin vào khả năng toán học của mình. Sau này, chính sự thiếu tự tin đó đã một lần nữa ảnh hưởng đến những tính toán về dịch chuyển Lamb của ông.
Công trình thứ hai được viết cùng với Pauli, liên quan đến lượng tử hoá các trường vô hướng. Vào thời điểm đó, công trình này chỉ được xem là một bài tập lý thuyết thuần tuý, bởi vì người ta vẫn chưa biết hạt "cơ bản" nào có spin bằng không. Tuy nhiên, sự tồn tại của những hạt này đã trở thành một đặc trưng không thể tránh khỏi của lý thuyết trường lượng tử cho các boson tích điện. Thêm vào đó, công trình của Pauli-Weisskopf đã cho thấy rằng, sự kết hợp thuyết tương đối và cơ học lượng tử không cần đòi các hạt phải có spin 1/2 như nhiều người vẫn nghĩ. Và với thành công của lý thuyết meson Yukawa, lý thuyết trường vô hướng đã không còn chỉ là một bài tập cho các nhà vật lý.
Năm 1936, lần thứ hai đến Copenhagen, Viki đã xuất bản một công trình kinh điển về sự phân cực chân không bởi một điện trường đều có độ lớn bất kỳ. Đặc biệt đáng chú ý trong nghiên cứu này là, ông đã phần nào đoán nhận được sự tái chuẩn hoá điện tích.

Chạy trốn
Năm 1936, Viki cảm thấy rằng, đối với một người Áo Do Thái thì tốt hơn hết là nên dời châu Âu càng sớm càng tốt. Ông đã quyết định làm một số nghiên cứu về vật lý hạt nhân để có thể tìm đường sang Mỹ. Và thế là Viki đã có được một công trình xuất sắc áp dụng cơ học thống kê cho sự phát các neutron của hạt nhân, kết quả này đã được đăng trên Physical Review.
Thực ra, Viki cũng đã từng được mời làm sang Liên bang Xô Viết làm giáo sư ở Kiev và một vị trí nghiên cứu ở Moscow. Nhưng khi nhận ra rằng, không khí chính trị ở đây đã còn như chuyến thăm lần trước, Viki đã quyết định rằng, ông sẽ chỉ đến USSR nếu không còn sự lựa chọn nào khác. Trong những năm này, Bohr vẫn thường xuyên qua lại giữa Anh và Mỹ để "vận chuyển" những người tị nạn trong viện của ông. Năm 1937, Bohr đã thuyết phục được Đại học Rochester nhận Viki làm một chân trợ giảng, Viki nhận lời.
Sau khi Viki đến Rochester, vật lý hạt nhân đã trở thành một hướng nghiên cứu chính của ông. Những nghiên cứu của ông về sự kích thích Coulomb và những chuyển dịch bức xạ là đặc biệt đáng chú ý. Ông cũng tiếp tục nghiên cứu chi tiết hơn về vấn đề năng lượng tự tương tác của electron trong QED. Ông đã thu được một kết quả rất giá trị là chứng minh năng lượng tự tương tác phân kỳ theo dạng lôgarít.
Đầu năm 1943, Oppeheimer mời Viki đến Los Alamos. Khi ấy, người ta vẫn chưa hề có những dữ liệu thực nghiệm liên quan đến các vụ nổ hạt nhân. Chương trình Manhattan phải dựa trên sự chỉ dẫn của các nhà lý thuyết. Viki đã trở thành một nhân vật sáng giá của bộ môn vật lý lý thuyết. Hans Bethe, trưởng bộ môn này, đã chọn Viki làm phó của ông. Với những tính toán quan trọng liên quan đến hiệu ứng bom, Viki cũng đã tham gia chứng kiến vụ thử Trinity ở sa mạc New Mexico tháng 7/1945. Một tháng sau đó, Mỹ ném bom hạt nhân ở Hiroshima và Nagasaki.

Sau chiến tranh
Năm 1946, Viki đến Viện Công nghệ Massachusett (MIT). Sau khi Hendrik Kramers đưa ra ý tưởng và Bethe thực hiện tính toán phi tương đối tính để giải thích sự dịch chuyển Lamb, French và Weisskopf đã lần đầu tiên hoàn thành một tính toán thực sự phù hợp cho sự dịch chuyển này. Nhưng Viki đã không công bố kết quả vì nó có một sự sai khác nhỏ so với các tính toán của Richard Feynman và Julian Schwinger. Viki đã không dám tin là kết quả của ông và French đúng. Ông nghĩ rằng hai thiên tài trẻ như Feynman và Schwinger với những kỹ thuật tính toán mới và hiệu quả thì không thể mắc cùng một sai lầm được. Nhưng trên thực tế, Feynman và Schwinger đã mắc cùng một sai lầm.
Sau chiến tranh, Viki tập trung vào vật lý hạt nhân chứ không phải QED nữa. Cùng với các cộng sự, đặc biệt là với Herman Feshbach, ông đã xuất bản hàng loạt những công trình về các phản ứng hạt nhân. Một cuốn sách được coi là kiệt tác của Viki: chuyên luận về vật lý hạt nhân, viết cùng với John Blatt đã từng trở thành sách gối đầu giường cho nhiều thế hệ các nhà lý thuyết hạt nhân. Công trình có tầm ảnh hưởng lớn nhất của Viki sau chiến tranh được viết cùng với Feshbach và Charles Porter, nó mô tả tiết diện tán xạ toàn phần và đàn hồi của các neutron.
Trước vụ thử Trinity, Viki đã từng tham gia vào một cuộc thảo luận do Bohr khởi xướng, bàn về sự đe doạ của vũ khí hạt nhân đối với loài người. Sau chiến tranh, Viki thuộc vào nhóm những nhà khoa học của Chương trình Manhattan, nhóm này đã thành lập nên Liên đoàn các nhà Vật lý Mỹ. Khi ấy, Viki cũng là thành viên của một hội đồng nhỏ do Albert Einstein làm chủ tịch, nhằm phổ biến và cảnh báo cho công chúng về bom hạt nhân. Trong những năm 1950, Viki đã tham dự những hội nghị Pugwash đầu tiên giữa các nhà khoa học hạt nhân phương Tây và Liên Xô, sau đó ông tiếp tục liên kết với những nhà khoa học Liên Xô để theo đuổi những nỗ lực kiềm chế vũ khí hạt nhân.
Năm 1960, Weisskopf làm chủ tịch Hội Vật lý Mỹ. Sau đó ông được làm giám đốc Cơ quan Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN). Trong suốt nhiệm kỳ của Viki, số người làm việc ở CERN đã tăng gấp đôi lên 2500. Các phòng thí nghiệm ở đây đã bắt đầu có những khám phá quan trọng, chẳng hạn như sự phân rã beta của hạt pion và phép đo với độ chính xác cao momen từ dị thường của hạt muon. Đến tháng 12/1965 thì Viki kết thúc nhiệm kỳ, Hội đồng CERN đã chấp thuận kế hoạch do ông vạch ra, xây dựng một máy gia tốc 300 GeV.
Trở về từ châu Âu, Viki đã đề nghị thành lập Ban Cố vấn Năng lượng Cao (HEPAP) cho Hội đồng Năng lượng Nguyên tử (sau này là Uỷ ban Năng lượng Hoa Kỳ). Viki đã trở thành chủ nhiệm đầu tiên của ban cố vấn này. Năm 1966, Viki trở về MIT và làm trưởng khoa trong sáu năm. Sau đó ông cũng có bốn năm làm chủ tịch của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học. Ông đã viết sách, các bài luận và đặc biệt là cuốn tự thuật Niềm vui của sự Hiểu biết.

Con người của Viki
http://ttdungquantum.googlepages.com/JonahViki.jpg/JonahViki-medium.jpg (http://ttdungquantum.googlepages.com/JonahViki.jpg/JonahViki-full.jpg)Viki và cháu trai Jonah Weisskopf (1984).

Tình yêu của Viki với cây đàn piano và âm nhạc cổ điển đã đi theo ông suốt cả cuộc đời. Một nửa chương cuối trong cuốn tự thuật của ông ("Mozart, Cơ học Lượng tử và một Thế giới tốt đẹp hơn") được dành để nói về tình yêu của ông đối với âm nhạc, cả như một thính giả và như một nghệ sỹ biểu diễn. Những nghệ sỹ biểu diễn cùng ông vẫn nhìn nhận ông như một nghệ sỹ piano tài năng với sự thể hiện sâu sắc âm nhạc của Beethoven, Mozart, Schubert và nhiều nhà soạn nhạc khác.
"Tôi đã sống cuộc đời hạnh phúc trong một thế kỷ chết chóc". Viki đã từng nói như vậy, sau khi phải thấy một cuộc chiến tranh thế giới đầy rẫy những tội ác và là nhân chứng cho vụ nổ hạt nhân đầu tiên của loài người. Ồng vẫn luôn luôn duy trì được tâm trạng hạnh phúc và yêu đời ngay cả trong những tình huống khắc nghiệt. Những tháng đầu tiên làm giám đốc CERN, ông đã phải nằm trong bệnh viện vì một tai nạn ô tô.
Victor Weisskopf là sự kết hợp của hai con người, nói chung là trái ngược nhau. Một con người thì uỷ mị, đa cảm và rất lãng mạn, con người kia lại nghiêm ngặt, khắt khe và rất lý tính. Ông vẫn thích nói rằng, ông gắn bó với Mozart và cơ học lượng tử. Ông đã lấy tiêu đề cuốn sách phổ biến khoa học viết năm 1963 của mình là Kiến thức và điều Kỳ diệu. Trong những buổi nói chuyện về vũ trụ học, ông vẫn thường bật lên đoạn crescendo chói tai trong bản oratorio Đấng Sáng tạo của Haydn. Weisskopf mất ngày 22/4/2002.



Tài liệu tham khảo
1. Speak Out Against the New Right edited by Herbert F. Vetter (Boston: Beacon Press, 1982)
2. Mozart and Quantum Mechanics: An Appreciation of Victor Weisskopf. Phys. Today, Vol. 56, No.2, 43-47
3. Kurt Gottfried and J. David Jackson - Victor Frederick Weisskopf, A Biographical Memoir. Published 2003 by The National Academies Press Washington, D. C.
4. H. H. Stroke. Some Weisskopf contributions to atomic physics. Phys. Today 56, pp. 13-14.
5. 8. M. Jacob. Knowledge and Wonder. In Victor F. Weisskopf 1908-2002, CERN Courier Commemorative Issue, December 2002, pp.18-21.


Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/news?id=1122

ttdungquantum
03-01-2007, 08:49
LUDWIG BOLTZMANN - Vật lý, Âm nhạc, Triết học và Cái chết

http://ttdungquantum.googlepages.com/Boltzmann1.jpg/Boltzmann1-medium.jpg (http://ttdungquantum.googlepages.com/Boltzmann1.jpg/Boltzmann1-full.jpg)
Đã một trăm năm trôi qua kể từ khi Ludwig Boltzmann tự vẫn. Trong một thế kỷ đó, càng chứng kiến sự phát triển của nhận thức và khoa học người ta càng nhớ đến những công lao to lớn của ông - một trong nhà vật lý và triết học lỗi lạc nhất.

Ludwig Edward Boltzmann sinh ngày 20/2/1844 ở quận Landstrasse thành Vienna, bắt đầu học vật lý ở Đại học Vienna năm 1863 và nhận học vị tiến sỹ năm 1866. Ở tuổi 25, Boltzmann trở thành giáo sư vật lý toán ở Đại học Graz và sau đó trở về Đại học Vienna năm 1873. Năm 1876, Boltzmann lấy Henriette von Aigentler, một phụ nữ xinh đẹp với mái tóc dài và đôi mắt xanh đến từ Graz. Trong suốt 14 ngày hạnh phúc ở Graz, Boltzmann đã phát triển những ý tưởng của ông về khái niệm thống kê của tự nhiên.
Năm 1885, Boltzmann trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia, và năm 1877 là hiệu trưởng Đại học Graz. Boltzmann cũng được mời làm trưởng khoa Vật lý lý thuyết Đại học Munich năm 1890. Sau khi quay lại Đại học Vienna năm 1894, Boltzmann đã cảm thấy khó tìm được ở đây một nhóm bạn và đồng nghiệp tốt như hồi ở Munich. Vì không chịu ở cùng với Ernst Mach (1838-1916), đặc biệt là sau khi Mach trở thành giáo sư triết và lịch sử khoa học ở Đại học Vienna năm 1895, ông lại quyết định sang Leipzig và dạy vật lý lý thuyết ở đó. Sau khi Mach về nghỉ hưu, Boltzmann mới trở về Vienna vào mùa thu năm 1902.
Ngoài vật lý, Boltzmann cũng đã bắt đầu giảng dạy triết học vào năm 1903. Với cương vị là trưởng khoa triết học tự nhiên, ông đã dạy một loạt bài giảng với tiêu đề "Các Phương pháp và Lý thuyết Phổ quát của Khoa học Tự nhiên" nhằm thế chỗ loạt bài giảng trước đó của Mach có tên gọi "Lịch sử và Lý thuyết của Khoa học Quy nạp." Vào thời đó, các bài giảng Boltzmann về triết học tự nhiên đã rất nổi tiếng và thu hút được sự chú ý lớn. Ngay bài giảng đầu tiên đã có được thành công lớn. Mặc dù một hội trường lớn nhất đã được sử dụng cho bài giảng nhưng người đến dự vẫn đứng chật kín các lối đi và cầu thang. Sinh viên, trợ lý, giáo sư và cả các quý bà quý cô cũng đến. Tất cả báo chí đều đưa tin về sự kiện này. Hoàng đế Franz Joseph đã nói với Boltzmann rằng, ông rất vui về sự trở về của Boltzmann.

Bảo vệ thuyết nguyên tử
Hồi cuối thế kỷ 19, Boltzmann là người có công lớn nhất bảo vệ thuyết nguyên tử. Thời đó, nhiều nhà khoa học coi các nguyên tử và phân tử chỉ là những phép ẩn dụ - một sự hư cấu có ích dùng để giải thích các hiện tượng bằng toán học. Nhưng Boltzmann tin rằng, các phương trình thống kê của Maxwell đã mô tả một thế giới thực của các phân tử và nguyên tử. Ông đã nghiên cứu các chất khí và đặc tính của chúng. Ông đã biết rằng, việc một lượng khí có thể bị nén sẽ được giải thích nếu nó cấu tạo bởi rất nhiều những thực thể rất nhỏ. Boltzmann không thể nhìn thấy các nguyên tử nhưng ông có thể đo được các đặc tính của chúng. Phương pháp của ông dựa trên thống kê và đo lường, chúng đã dẫn ông đến "lý thuyết động học" về chất khí - một nền tảng quan trọng của nhiệt động lực học. Boltzmann đã chỉ ra rằng, chuyển động của các phân tử và nguyên tử sinh ra nhiệt. Ông cùng tìm ra quy luật phân bố vận tốc của các phân tử chất khí. Những khám phá của Boltzmann đã xây dựng nên cơ sở của vật lý thống kê, nhưng vào thời của ông có rất ít người nhận ra tầm quan trọng của chúng.

Bắc cầu cho vật lý hiện đại
Boltzmann là một nhà vật lý cổ điển, nhưng ông đã có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành các lĩnh vực vật lý hiện đại. Lý thuyết động học chất khí của ông đã là một nguyên mẫu đầu tiên của môn cơ học thống kê với những ứng dụng quan trọng cho đến ngày nay. Các phương trình Boltzmann những ý tưởng trọng yếu cho nhiệt động lực học không cân bằng và các quá trình thuận nghịch. Chúng đã trở thành những vấn đề rất quan trọng của vật lý hiện đại cũng như là mối quan tâm lớn của triết học. Boltzmann cũng có công lớn trong việc xây dựng và bảo vệ định luật hai của nhiệt động lực học, phát triển định nghĩa entropy từ quan điểm thống kê thuần tuý và đánh đổ quan điểm chết nhiệt vũ trụ. Max Planck viết: "Trong tất cả những nhà vật lý của thời đó, Boltzmann là người hiểu được ý nghĩa của entropy sâu sắc nhất.".
Trên thực tế, ngoài Planck ra thì còn có một người có công đầu đề xuất ý tưởng cho thuyết lượng tử, đó chính là Boltzmann. Trong những công trình của Boltzmann năm 1827 (trước Planck 28 năm), ông đã lần đầu tiên chia năng lượng của một hệ thành những phần gián đoạn rất nhỏ. Tuy nhiên, ông đã chỉ nhận thức "sự lượng tử hoá" này như một thủ thuật toán học cho phép việc sử dụng các phương trình trong tính toán xác suất. Các lượng tử năng lượng đã không còn xuất hiện trong những phương trình cuối cùng, nhưng có một điều chắc chắn là chính Boltzmann đã dọn đường cho thuyết lượng tử.

Chống Schopenhauer
Trong một bài giảng gửi cho Hội Triết học Vienna ngày 21/1/1905, Boltzmann đã phê phán tất cả các triết học của Schopenhauer. Ông viết: "Toàn bộ hệ thống của Schopenhauer không hề có sự phân tích đầy đủ mà chỉ là những suy nghĩ thoáng qua về một chủ đề." Trên thực tế Boltzmann đã cố gắng chỉ ra rằng, vấn đề đối với triết học Schopenhauer chính là cái nền tảng siêu hình trong suy nghĩ của ông ta đã dẫn đến sự chệch đường của ông ta cũng như tất cả những niềm tin của ông ta. Một điểm đáng chú ý là Boltzmann đã nói về sự mâu thuẫn trong định nghĩa không gian và thời gian của Schopenhauer. Ông nhấn mạnh sự bất cẩn của Schopenhauer trong việc sử dụng sự "tiên nghiệm". Boltzmann đã phủ nhận sự "tiên nghiệm" của Schopenhauer cho rằng không gian chỉ có thể có ba chiều bằng việc khẳng định một không gian có nhiều hơn ba chiều là hoàn toàn có thể hiểu được, thậm chí không gian đó có thể phi Euclide.
Boltzmann cũng cho thấy một cách chi tiết sự cố gắng vô nghĩa của Schopenhauer khi áp dụng giả thuyết của ông ta cho các nghệ thuật khác nhau. Ông giải thích rằng, thậm chí sự phân loại các nghệ thuật khác nhau của Schopenhauer cũng không hề bao hàm bất cứ thứ nghệ thuật khả dĩ nào. Schopenhauer coi âm nhạc như sự biểu diễn trực tiếp của ý chí tới mức nó không còn là khách thể nữa. Trái lại, tất cả các nghệ thuật khác cũng biểu diễn ý chí nhưng chỉ là gián tiếp và được coi như một dạng khách thể cá biệt của âm nhạc. Sự tách biệt giữa âm nhạc và các nghệ thuật khác của Schopenhauer như vậy là xuất phát từ một cái nhìn thiếu hiện thực, dẫn đến những hệ quả buồn cười cũng như những mâu thuẫn nghiêm trọng. Theo Schopenhauer, âm nhạc là một tấm gương phản ánh toàn bộ thế giới, còn thế giới lại đang là một sự biểu hiện của ý chí vũ trụ và một thứ âm nhạc khác, có được bằng những cách khác và độc lập với thứ âm nhạc ban đầu. Như vậy, âm nhạc có thể tiếp tục tồn tại nếu thế giới không tồn tại. Nghĩa là trong cả những trường hợp không có đàn violin, không có không khí truyền âm thanh, không có những đôi tai hay không có những óc nhận thức thì âm nhạc vẫn tồn tại!

Một con người của khoa học, nghệ thuật và cái đẹp
Âm nhạc và nghệ thuật đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Boltzmann. Ông là một nghệ sỹ piano xuất sắc và đã từng học nhạc với Anton Bruckner, nhà soạn nhạc giao hưởng danh tiếng cuối thế kỷ 19. Boltzmann đã từng chỉ ra rằng, cái công việc của Schopenhauer - phân loại nghệ thuật để đọc ra các quy tắc của chúng chỉ là một trò thông thái rởm, ngớ ngẩn và nực cười. Có thể thấy được niềm ngưỡng mộ của Boltzmann đối với nghệ thuật và cái đẹp qua những gì ông viết: "Có lần tôi đã cười ầm lên khi đọc được rằng, có một họa sỹ đã mất nhiều ngày đêm để đi tìm một màu đơn sắc, nhưng bây giờ tôi không cười về điều đó chút nào nữa. Tôi đã khóc khi tôi nhìn thấy màu sắc của biển; tôi không hiểu vì sao tôi lại khóc chỉ vì một màu sắc. Đó là ánh trăng, hay là sự phát sáng của mặt biển trong một đêm tối thăm thẳm. Nếu có điều gì đó đáng để chúng ta ngưỡng mộ hơn cả vẻ đẹp của tự nhiên, thì đó chính là nghệ thuật của con người...Kỳ quan vĩ đại nhất của tự nhiên chính là tư duy của loài người!"
Boltzmann là một nhà sư phạm xuất sắc và đối xử rất tốt với các học trò. Một học trò nổi tiếng của ông, Lise Meitner đã viết: "Ông có một tâm hồn trong sáng, thuần khiết và một trái tim đầy nhân hậu. Mối quan hệ của ông với các sinh viên rất mang tính nhân văn. Ông vẫn thường chơi piano cho chúng tôi nghe và nghệ sỹ piano tài năng này cũng hay kể với chúng tôi về những câu chuyện cuộc đời của ông."
Boltzmann vẫn quan hệ tốt với những đối thủ của mình mặc dù ông có nhiều mâu thuẫn gay gắt với họ về những quan điểm triết học và khoa học. Boltzmann và Wilhelm Ostwald (1853-1932) đã thường xuyên chống đối nhau trong triết học và khoa học nhưng về mặt cá nhân, họ vẫn là những người bạn tốt. Chẳng hạn, Boltzmann đã từng đến Leipzig vì một lời mời của Ostwald. Boltzmann rất khó chịu đối với tư tưởng của Mach, thậm chí ông đã dời bỏ thành Vienna yêu dấu của mình vào năm 1900 chỉ vì có sự tồn tại của Mach ở đây. Nhưng trên thực tế, hai người này vẫn cư xử rất lịch sự và tôn trọng nhau. Thực ra, một trong những lý do quan trọng khiến Boltzmann phê phán Schopenhauer mạnh mẽ là do Schopenhauer đã sử dụng những từ ngữ bất lịch sự để chống lại các nhà triết học khác. Boltzmann nói rằng với một học giả lớn thì không thể dùng những từ ngữ đó.
Nhưng người bạn của Boltzmann thường thấy ở ông những đặc điểm giống như một đứa trẻ, ngây thơ, chất phác và thánh thiện. Ostwald đã từng gọi Boltzmann là một "kẻ lạ trên thế giới này." Lý do khiến mọi người gọi ông là một đứa trẻ ngoan là bởi vì ông bảo vệ và tuân theo vô điều kiện những truyền thống và quy ước, nghĩa là tiếp cận những vấn đề trong khoa học và trong cuộc sống theo một con đường mở. Những thành tựu của ông đã chứng tỏ rằng, ngay cả trong cuộc sống hàng ngày ông cũng nhận thức rõ mục đích của mình, nhưng những hành động của ông thường là khác thường so với những người khác. Chẳng hạn, người ta kể rằng, sau khi mua một con bò cho cho ngôi nhà ở ngoại ô của mình, ông đã đến nhờ một người bạn của mình, một giáo sư động vật học cố vấn cho ông về cách lấy sữa.
Khả năng làm việc của Boltzmann thực sự là tuyệt vời. Ông đã từng làm giáo sư toán, vật lý toán, vật lý lý thuyết và vật lý thực nghiệm. Ông có bài giảng về rất nhiều lĩnh vực như cơ học, lý thuyết nhiệt, đàn hồi, lý thuyết toán cho âm học, mao dẫn, phương pháp tính, phép tính vi phân và tích phân, lý thuyết số, các chủ đề đặc biệt về giải tích nâng cao, hình học giải tích, lý thuyết hàm số, cơ học giải tích, lý thuyết khí, lý thuyết điện và từ, nhiệt động lực học và các nguyên lý trong triết học tự nhiên. Nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng H. A. Lorentz rất ngưỡng mộ Boltzmann và đã viết về ông như sau: "Ông là một nhà vật lý thông thái, những lời của ông đã đem ông đến gần với trái tim chúng tôi hơn...Ở đây, ông chia sẻ với chúng tôi những niềm vui và cả những trăn trở, ông đã dẫn dắt chúng tôi qua cái nhìn khoa học logic về Tự nhiên."

"Năng lượng tinh thần" và Chúa
Trong tranh biện triết học, Boltzmann đã từng phân tích về các dạng năng lượng vật lý và năng lượng tinh thần. Ông cho rằng, không thể xét chung hai dạng năng lượng này trong cùng một thế giới được. "Trong khoa học tự nhiên, năng lượng là một đại lượng đo được với những đơn vị thích hợp và luôn duy trì giá trị của nó sao cho nếu nó triệt tiêu ở chỗ này thì ở chỗ khác sẽ một lượng bằng như vậy được sinh ra. Cho nên nếu muốn xây dựng một khái niệm năng lượng tinh thần tương đương với năng lượng vật lý thì phải chứng minh rằng, năng lượng tinh thần cũng đo bằng đơn vị giống như năng lượng vật lý và một lượng của nó được sinh ra thì một lượng năng lượng vật lý chính xác bằng với lượng đó sẽ phải mất đi. Tuy nhiên, việc chứng minh nhận định này không thể nào thực hiện được. Bởi vì nó hoàn toàn sai. Sự tương đương giữa các các hiện tượng tinh thần và những quá trình vật lý của bộ não sinh ra khả năng là tất cả năng lượng được duy trì không đổi dưới dạng vật lý của nó bên trong khối lượng bộ não. Toàn bộ những quá trình tinh thần chỉ là những hiện tượng phụ tương đương và có lẽ cũng chỉ là một bức tranh thứ hai của các quá trình vật lý được nhìn ở một góc độ khác, mà cái đó thì chắc chắn là không chứa đựng bất cứ loại năng lượng mới nào có ý nghĩa vật lý". Theo Boltzmann, việc phổ biến cái gọi là lý thuyết về năng lượng tinh thần trong khoa học vật lý là không đúng. "Năng lượng vật lý và cái mà tôi gọi là năng lượng tinh thần là hai thứ hoàn toàn khác nhau, được gọi bởi cái tên giống nhau chỉ vì có một sự tương tự hời hợt. Tôi nghĩ là sai lầm khi người ta nói mà không phân biệt được các khái niệm về lý thuyết năng lượng trong cơ học, hoá học với các hiện tượng tinh thần như sự vui vẻ và những thứ tương tự".
Triết học của Boltzmann được coi là chủ nghĩa duy vật hiện thực (realism-materialism). Ông viết: "Chắc chắn là, chỉ một người điên mới phủ nhận sự tồn tại của Chúa. Nhưng điều này cũng tương đương với trường hợp là, tất cả các ý tưởng của chung ta về Chúa chỉ là những thuyết phỏng theo người (anthropomorphism) không thích đáng. Thành ra, theo cách đó, những điều chúng ta tưởng tượng về Chúa sẽ không tồn tại. Nếu một người tin là Chúa tồn tại và một người khác không tin Chúa tồn tại thì có lẽ cả hai người đều nghĩ cùng những suy nghĩ mà thậm chí không nghi ngờ về nó. Chúng ta không được hỏi liệu Chúa có tồn tại hay không trừ phi chúng ta có thể tưởng tượng được điều gì đó xác định khi nói như vậy. Thay vào đó, chúng ta phải hỏi rằng, bằng những ý tưởng nào để chúng ta có thể đến gần hơn tới cái khái niệm cao nhất mà có thể bao quát mọi thứ."


Cái chết
http://ttdungquantum.googlepages.com/Boltzmann2.jpg/Boltzmann2-large.jpg (http://ttdungquantum.googlepages.com/Boltzmann2.jpg/Boltzmann2-full.jpg)

Trong những năm cuối đời, sức khỏe của Boltzmann suy sụp nghiêm trọng. Ông đã thường xuyên tham gia vào những cuộc tranh cãi đầy mệt mỏi của mình. Thị lực của ông suy giảm đến mức ông phải thuê một người đọc các bài báo khoa học cho ông. Vợ ông cũng phải viết các tác phẩm ra giấy giúp ông. Ngoài căn bệnh hen suyễn vẫn dày vò hàng đêm, ông còn bị đau đầu nặng do làm việc quá nhiều. Tuy vậy, Boltzmann đã không bao giờ chú trọng đến sức khoẻ, ông đã hy sinh nó cho những nghiên cứu miệt mài của mình.
Luwig Boltzmann, một trong những tư duy vĩ đại nhất của mọi dân tộc và mọi thời đại đã tự vẫn vào ngày 5/9/1906. Rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng thời đó đã đến dự đám tang của ông với niềm kính trọng và thương tiếc. Cái chết của Boltzmann còn buồn hơn bởi vì lúc sinh thời chính ông đã từng nói rằng, ông không muốn chết bởi vì cái chết sẽ ngăn cản ông muốn được chứng kiến sự phát triển vượt bậc của khoa học. Boltzmann được chôn cất ở nghĩa trang trung tâm của thành Vienna. Trên ngôi mộ bằng đá của ông có khắc phương trình entropy S = k log W. Phương trình này là thành tựu khoa học vĩ đại nhất của Boltzmann. Nó đã và sẽ còn in sâu trên đá qua bụi thời gian hàng thế kỷ cũng như trở thành một trong những phương trình kinh điển và có giá trị nhất trong lịch sử khoa học.



Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/news?id=1176

ttdungquantum
09-01-2007, 16:28
Nietzsche và Âm nhạc


http://ttdungquantum.googlepages.com/Nietzsche.jpg/Nietzsche-medium.jpg (http://ttdungquantum.googlepages.com/Nietzsche.jpg/Nietzsche-full.jpg)

Không phải tự nhiên mà nhà nghiên cứu văn học người Đan Mạch G.M. Cohen Brandes đã gọi Friedrich Nietzsche là “một nhà triết học văn hóa”. Những tác phẩm và tư tưởng của Nietzsche không chỉ có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học mà còn bao quát cả những xu hướng tư duy văn hóa, đặc biệt là nền âm nhạc đầu thế kỷ 20.

“Không có Âm nhạc, cuộc sống sẽ là một sai lầm”
Khi còn trẻ, Nietzsche đã học chơi piano và chơi rất giỏi. Bản thân Nietzsche cũng đã từng viết nhạc cho các bài thơ và những tác phẩm dành cho piano, trong đó có tác phẩm "Hymnus an die Freundschaft" (Ngợi ca Tình bạn), lấy cảm ứng từ chủ đề ouverture "Manfred" của Robert Schumann.
Nietzsche rất thân và có mối quan hệ mật thiết với gia đình Wagner.Ông đã quen biết và chơi thân với Richard Wagner từ khi còn là một sinh viên ở Leipzig. Mùa Giáng sinh năm 1871, Nietzsche đã gửi tặng một món quà sinh nhật đặc biệt đến Cosima Wagner (vốn là con gái của Franz Liszt), khi ấy đã là vợ của Richard Wagner. Đó là tác phẩm "Nachklang einer Sylvesternacht" (Hồi tưởng về đêm trước năm mới) viết cho piano bốn tay. Ngày 30 tháng 12 năm 1871, Cosima đã rất tế nhị viết thư cho Nietzsche: "Trong đêm cuối năm, chúng tôi đón năm mới với giai điệu của bạn, nó làm thức dậy hồi ức của tôi về tình bạn của chúng ta, nó giống như những tiếng chuông đêm trong ngày sinh nhật của tôi. Tôi gửi những lời cảm ơn thực sự chân thành đến bạn của tôi, một con người quá đam mê âm nhạc!"
Tuy gắn bó thân tình với Richard Wagner nhưng Nietzsche lại rất công bằng khi ông chống lại những xu hướng cực đoan và mê muội của Wagner. Sự thực là, Nietszche đã rất nhiều lần cố gắng làm lay chuyển những tư tưởng của bạn mình. Wagner hoàn toàn không thích Johannes Brahms và đã không muốn nghe bất cứ tác phẩm nào của nhà soạn nhạc vĩ đại này. Nietzsche tìm cách buộc Wagner phải nhận ra sự tuyệt vời của Brahms khi ông mang đến cho Wagner phiên bản piano tác phẩm "Triumphlied" của Brahms. Nhưng Wagner khi ấy đã giận điên lên, và phải nhờ vào sự can thiệp của Cosima thì tình bạn của hai người mới không đổ vỡ.
Với tất cả tình yêu âm nhạc của mình, Nietzsche đã thẳng thắn chống lại Wagner - một người vốn tin một cách cuồng tín vào sự lý giải âm nhạc của Schopenhauer. Năm 1888, Nietzsche cho xuất bản cuốn sách "Sự kiện Wagner" nhằm phơi bày những xu hướng lầm lạc của Wagner. Trong tự thuật của mình, Nietzsche đã nói về cuốn sách: "Nếu giả như có thể cảm thụ được những đau khổ tột cùng từ trong diễn biến số phận của âm nhạc thì đối với tôi thứ âm nhạc đó là gì?. Đó là thứ âm nhạc đã mất đi sự cải tạo thế giới và trở thành một thứ âm nhạc suy đồi, không còn mang những đặc tính tích cực của nó nữa. Nếu một người nhận thức được nguyên nhân sinh ra âm nhạc, cũng tức là nguyên nhân tồn tại của anh ta là sự bộc lộ sự cảm thụ đau khổ của bản thân anh ta thì anh ta sẽ thấy rằng bài luận của tôi là rất ôn hoà. Khí ấy ai có thể nghĩ rằng, quả đạn đại bác của một người pháo binh già như tôi lại dùng để bắn vào Wagner?"
Nietzsche đã dành nhiều tâm sức của mình để nghiên cứu về âm nhạc và ảnh hưởng của nó đến con người. Nhưng có lẽ tất cả những luận thuyết triết học đều là không đủ để nói về âm nhạc, bởi vì đối với ông, “Không có Âm nhạc, cuộc sống sẽ là một sai lầm.”


Nietzsche, Strauss và Schoenberg
Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá đã khẳng định rằng, chính tác giả của những cuốn sách "Sự kiện Wagner" và "Bi kịch từ Linh hồn của Âm nhạc" đã tạo ra ảnh hưởng lớn đến Schoenberg và Strauss, cũng như Stravinsky và Mahler. Những mẫu thuẫn cố hữu trong triết học của Nietzsche lại tạo ra khả năng hình thành các quan niệm thẩm mỹ âm nhạc trái ngược nhau.
Thực ra, những tư tưởng của Nietzsche đã không tiếp cận thế giới âm nhạc theo con đường giống như những người khác. Những nguyên tắc thẩm mỹ của Schiller thường được nhắc đến trong những bàn luận về Beethoven. Wagner thì vẫn thường bám vào quan điểm của Schopenhauer về bản chất siêu hình của âm nhạc. Còn đối với Nietzsche, ông vẫn thường tránh né những khái niệm được diễn đạt quá đơn giản.
Trên thực tế, Nietzsche đã đóng vai trò như một nhà phê bình của chủ nghĩa hiện đại và các tác phẩm của ông đã thu hút được sự chú ý lớn của những nhà soạn nhạc thế kỷ 20. Nhiều tác phẩm âm nhạc đã mang dấu ấn ảnh hưởng từ Nietzsche. Chính các nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc cũng đã mô tả chúng dựa trên tác phẩm của Nietzsche. Đó là sự đam mê trong văn chương của ông, cũng như những đặc tính siêu hình và hư vô trong triết học của ông.
"Also Sprach Zarathustra" của Richard Strauss, "Giao hưởng số 3" của Gustav Mahler và "Mass to Life" của Delius đều là những tác phẩm như vậy. Những sáng tác này đã lấy cảm hứng từ thơ ca và phong cách văn học độc đáo của Nietzsche chứ không liên hệ trực tiếp với triết học của ông. "Also Sprach Zarathustra" có lẽ là liên hệ gần gũi nhất với Nietzsche. Richard Strauss đã viết bản nhạc này vào năm 1896 dựa trên tác phẩm cùng tên của Nietzsche. Vào hôm trình diễn đầu tiên, Strauss đã viết: "Tôi không dự định viết một thứ âm nhạc triết học để mô tả tác phẩm vĩ đại của Nietzsche bằng âm nhạc. Tôi chỉ muốn dùng âm nhạc làm phương tiện để truyền đạt sự phát triển của loài người qua những giai đoạn khác nhau, từ nguồn gốc nguyên thuỷ của nó, đến tôn giáo và khoa học và đến tư tưởng của Nietzsche về siêu nhân. Toàn bộ bản giao hưởng thơ này được dự định là một sự tưởng nhớ về thiên tài của Nietzsche."
Sau một năm học triết ở Đại học Munich, Strauss đã quyết định theo học âm nhạc ở Berlin và ngay sau đó trở thành học trò của Hans von Bulow (Bulow vốn là học trò cuả Liszt và cũng là chồng trước của Cosima). Ngay từ đầu, Strauss đã luôn tránh né sự kết hợp các tư tưởng triết học và âm nhạc, đi ngược lại trào lưu hàn lâm hoá âm nhạc ở châu Âu vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ. Tuy nhiên, Strauss cũng đã đọc cả các tác phẩm của Wagner về mỹ học và về "âm nhạc của tương lai". Thậm chí trong những năm 1880, Strauss đã ngày càng tỏ ra nao núng trước chủ nghĩa Wagnerian.
Thực tế là, về sau, chính Strauss cũng đã từng có những thử nghiệm với tư tưởng "âm nhạc triết học", đặc biệt là kể từ khi ông bắt đầu cộng tác với nhà thơ kiêm triết gia Hugo von Hofmannsthal vào năm 1909. Các tác phẩm ra đời sau đó là các vở opera "Elektra", "Ariadne auf Naxos" và "Giao hưởng thơ Alpine," đều mang ảnh hưởng của Nietzsche ở một mức độ sâu sắc hơn.

Những sáng tác của Arnold Schoenberg lại mang tính chất ẩn dấu và hoàn toàn tương phản với tính tường minh của Strauss. Mặc dù gần như sống và sáng tác cùng thời nhưng hai nhà soạn nhạc này lại có những quan điểm về âm nhạc khác khác nhau tận gốc rễ. Strauss về cơ bản có thể coi như người mở rộng trường phái lãng mạn. Còn Schoenberg, cùng với hai học trò Anton Webern và Alban Berg đã xây dựng nên cái được gọi là "Trường phái Vienna thứ hai" - một trường phái đã phá vỡ giới hạn của hệ thống thang âm. Tuy nhiên, đằng sau sự phá cách này là một sự thống nhất xuất sắc của nhân cách và chủ đích, nó nằm trong tính nhạy cảm tổng quát mà theo đó Schoenberg có thể được mô tả như một người theo chủ nghĩa Nietzschean.
Có lẽ mối liên hệ rõ ràng nhất giữa Schoenberg và Nietzsche có thể được tìm thấy trong tác phẩm "Doctor Faustus" của Thomas Mann. Nhân vật chính trong truyện này là Leverkühn, được xây dựng dựa trên Nitzsche, nổi tiếng vì việc phát minh ra âm nhạc mười hai âm. Như vậy, Mann rõ ràng là đã nhìn thấy những tương tự về phong cách giữa Nietzsche và Schoenberg.
Sự tương phản giữa Strauss và Schoenberg có thể coi như hai kiểu chịu ảnh hưởng Nietzsche theo những chiều hướng hoàn toàn trái ngược nhau. Strauss rõ ràng đã tìm thấy những ý tưởng quan trọng trong các tác phẩm của Nietzsche, và sau này ông đã đưa chúng vào trong sáng tác của mình. Schoenberg cũng đọc Nietzsche, nhưng ông không bao giờ thừa nhận trực tiếp rằng mình chịu ảnh hưởng Nietzsche. Có lẽ sự ảnh hưởng Nietzsche của Schoenberg cũng ngấm ngầm và kín đáo như chính âm nhạc của ông.


Tài liệu tham khảo
http://www.nietzschecircle.com
http://www.virtusens.de/walther/musik_eng.htm
http://www.musicem.ch/images/CEM-en.pdf
http://www.siue.edu/MUSIC/ACTPAPERS/v2/Lines03.pdf
http://www.nietzsches.com/PDFs/poster.pdf
Lưu Căn Báo - Phridrich Nitsơ, NXB Thuận Hoá, Trung tâm Văn hoá Đông Tây


Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/news?id=1214

ttdungquantum
24-02-2007, 22:09
Nếu Einstein chơi vĩ cầm tốt hơn
(Câu chuyện của Gregory Mone)


"Không có lý thuyết tương đối của Einstein, thế giới sẽ chẳng có gì khác đi cả, cũng giống như thế giới sẽ chẳng có gì khác đi nếu không có Cây sáo thần của Mozart và những bức họa của Monet".
http://www.tiasang.com.vn/images/upload/temp_image/2007/2/2/501e27034f.bmp


Đi bộ hàng ngày đến phòng cấp phát pa-tăng, mệt mỏi vì nghĩ ngợi quá nhiều, ông luôn muốn tìm những con đường khác, để tránh phải nhìn thấy tháp đồng hồ và ga tàu, những thứ ấy chỉ cuốn ông vào các suy nghĩ vụn vặt về thời gian và chuyển động. Ông đã tự nói với mình, thôi, tôi sẽ từ bỏ, cứ để cho các nhà vật lý tìm hiểu về vũ trụ, tôi sẽ làm một thư ký, một người cha, một gã bình thường. Hay ho hơn thì tôi sẽ làm một nghệ sỹ vĩ cầm...
...Một trăm năm sau đó, Brad, một nhạc công dở ẹc, một hậu duệ của Einstein, dậy muộn. Brad cố căng mắt ra để nhìn giờ trên đồng hồ, bởi vì không có diode phát quang thì những cái đồng hồ thường không có đèn chiếu sáng. Brad không xem e-mail và cũng không xem thời tiết, vì Internet vẫn còn tậm tịt lắm. Brad quyết định đến nhà chị gái ăn sáng. Giao thông tệ quá, Brad đi đường tắt nhưng lại bị lạc đường, chả biết mình đang chui vào đâu cả. Giá mà có Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) thì tốt quá. Nhưng lấy đâu ra GPS trong một thế giới mà Albert Einstein chuyển sang nghề kéo đàn vĩ cầm?
Ở nhà chị gái, cô cháu gái bất ngờ hỏi Brad: "Mặt trời làm bằng gì hả chú?". Brad cũng chả rõ lắm, anh trả lời cho qua chuyện: "Bằng sắt, cháu ạ!". Nhưng thực ra điều đó đã được cả thế giới công nhận là đúng, bởi vì không có công thức E = mc2, nhà thiên văn Anh Cecilia Payne đã không thể kiểm tra lại vào năm 1925 quan niệm cho rằng, mặt trời chủ yếu là sắt chứ không phải hydro.
Trong bếp, chị gái của Brad than vãn về việc để lỡ mất một khoản hời lớn trong buôn bán cổ phiếu. Trong thế giới của chúng ta, thế giới mà Einstein là một nhà vật lý, thì cô ấy có lẽ sẽ có được những quyết sách hợp lý hơn trong việc buôn cổ phiếu. Bởi vì, các phương trình mà ngân hàng sử dụng để tính toán các giải pháp đầu tư tối ưu được lấy từ công trình năm 1905 của Einstein về chuyển động Brown.
Thôi đủ rồi, những thứ đó chỉ là dựa trên một giả thiết thiếu thuyết phục rằng, nếu Einstein không làm vật lý thì sẽ chẳng có ai thay ông đem lại những tiến bộ cách mạng trong khoa học như vậy cả. Các nhà lịch sử khoa học vẫn đồng ý rằng, nếu không có Einstein, những bộ óc khác vẫn có thể làm ra các đồng hồ báo thức kỹ thuật số, Internet băng thông rộng, và GPS, DVD lẫn các cảm biến cho máy ảnh kỹ thuật số. Nhưng đừng vội gỡ chân dung Einstein xuống, cái nhìn của chúng ta về thế giới sẽ không được như bây giờ nếu Einstein chuyển sang kéo vĩ cầm. Ấy chính là chuyện về thuyết tương đối tổng quát, công bố năm 1916. Về đại để, thuyết tương đối tổng quát mô tả cách mà trường hấp dẫn làm méo mó hình dạng của không gian. Các lý thuyết về big bang, lỗ đen, sóng hấp dẫn...đều chui ra từ nó. Nó "siêu phàm" đến mức mà có nhà vật lý đã bảo là, "nó không thể được nghĩ ra bởi bất kỳ ai khác." Khi Einstein xuất thần nhận ra sự tương đương giữa gia tốc và hấp dẫn, ông đã tìm ra đầu mối cho một chuỗi những ý tưởng để hình thành nên lý thuyết của mình. Nhưng, những bước tiếp theo không phải là dễ dàng, Einstein đã phải học cả một hệ thống toán học hoàn toàn mới - hình học Riemann. Việc phát triển lý thuyết tương đối đã "làm Einstein khổ sở suốt tám năm và tí nữa thì giết chết ông," nhà vật lý thiên văn Clifford Will ở Đại họcWashington nói.
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá đã từng cố gắng lần theo những ảnh hưởng của Einstein đối với các lĩnh vực thơ ca và âm nhạc, nhưng họ đã không thu được kết quả. Bản thân nghiên cứu của Einstein đã là một hình thức nghệ thuật. Khi nói về các công trình của ông, các nhà vật lý vẫn thường dùng các từ ngữ như "thanh lịch" và "tao nhã". John Rigden ở Đại học Washington cho rằng: "Không có lý thuyết tương đối của Einstein, thế giới sẽ chẳng có gì khác đi cả, cũng giống như thế giới sẽ chẳng có gì khác đi nếu không có Cây sáo thần của Mozart và những bức họa của Monet."



Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/news?id=1300 (http://www.tiasang.com.vn/news?id=1300)

na9
04-07-2008, 16:45
Cả thế giới đang ồn ào hơn ?


http://www.tiasang.com.vn/images/upload/files/jpg/2008/7/16/3e39027121.jpg


Các nhạc công dàn nhạc giao hưởng đài phát thanh Bavaria chỉ diễn tập tác phẩm một lần nhưng họ đã gặp vấn đề về sức khỏe. Tai họ ong ong và đầu họ nhói đau. Những thử nghiệm đã chỉ ra rằng độ ồn trung bình trong dàn nhạc suốt tác phẩm State of Siege (Tình trạng vây hãm) của nhà soạn nhạc Dror Feiler là 97.4 decibel, chỉ dưới độ ồn của một máy khoan bằng khí nén và mức quy định về giới hạn tiếng ồn nơi làm việc mới ban hành ở châu Âu. Phương án chơi nhạc êm ái hơn hay đeo tai nghe ngăn tiếng ồn đều bị bác bỏ vì không khả thi.

Vậy là thay vì có buổi công diễn ra thế giới lần đầu tiên vào ngày 4/4/2008, tác phẩm đã bị đình lại. Trygve Nordwall, người quản lý của dàn nhạc giao hưởng đài phát thanh Bavaria, tuyên bố : “Tôi không có lựa chọn nào khác. Quyết định này không mang tính nghệ thuật mà để bảo vệ các nhạc công.”

Việc hủy bỏ buổi diễn này tính đến nay có thể là hậu quả nghiêm trọng nhất của quy định mới trong đó đòi hỏi người sử dụng lao động ở châu Âu hạn chế để người lao động làm việc trong môi trường tiếng ồn có khả năng gây hại và có hiệu lực đối với nền công nghiệp giải trí từ tháng 4/2008.

Nhưng khắp châu Âu, các nhạc công đang được yêu cầu mang những dụng cụ đo tiếng ồn và ngồi đằng sau màn chống tiếng ồn có thể nhìn xuyên qua được. Các đoàn diễn đã phải thay đổi danh mục biểu diễn và các nhạc trưởng đang xem xét lại định nghĩa fortissimo (thuật ngữ chỉ dẫn cách chơi một đoạn nhạc thật lớn tiếng).

Alan Garner, một nhạc công chơi oboe và English horn (kèn co Anh) đồng thời là chủ tịch ủy ban các nhạc công tại Nhà hát opera Hoàng gia, nói rằng ông và các đồng nghiệp đã được yêu cầu đeo nút tai trong suốt các buổi diễn tập và biểu diễn dài 3 tiếng. Ông phàn nàn “ “Cứ như là bảo người ta đeo băng bịt mắt khi lái xe đua vậy.”

Đã có những dấu hiệu cho thấy quy định mới làm thay đổi không chỉ mối quan hệ giữa nhạc công cổ điển và người tuyển dụng mà cả mối quan hệ giữa các nhạc công và tác phẩm họ trình diễn.

Mark Pemberton, giám đốc hiệp hội dàn nhạc Anh cho rằng : “Những quy định về tiếng ồn được soạn ra dành cho những công nhân nhà máy hay công nhân xây dựng, nơi tiếng ồn xuất phát từ nguồn bên ngoài và nhằm hạn chế việc để người lao động làm việc với tiếng ồn tương đối trực diện. Nhưng vấn đề là ở chỗ các nhạc công đã tự tạo ra tiếng ồn.”

Nhiều năm nay các nghệ sĩ nhạc rock đã thảo luận thẳng thắn về âm nhạc gây ồn và mang dụng cụ bảo vệ tai. Vấn đề này nhạy cảm hơn đối với các nghệ sĩ nhạc cổ điển, những người đã bất đắc dĩ chấp nhận nghề nghiệp của mình có thể dẫn tới việc thính giác bị ảnh hưởng, thậm chí các nghiên cứu đã chỉ ra những trường hợp như vậy. Cùng lúc đó, việc tuân thủ luật - vốn chỉ liên quan đến các nhạc công chứ không phải thính giả - là rất phức tạp.

Một vấn đề nữa là các nhạc công khác nhau chịu mức độ tiếng ồn khác nhau tùy thuộc vào nhạc cụ họ chơi, phòng hòa nhạc, vị trí họ ngồi trong một dàn nhạc và sự dao động âm lượng tác phẩm họ đang chơi. Ở Anh, các dàn nhạc lớn giờ đây đều đặn đo mức decibel của những vị trí khác nhau để xem nhạc công nào là đối tượng bị tiếng ồn ảnh hưởng nhất và vào thời điểm nào của tác phẩm.

Các dàn nhạc cũng đang lắp đặt những tấm bảng hấp thu tiếng ồn và đặt những màn chống ồn tại các vị trí chủ chốt, như ở phía trước các nhạc công bộ đồng, để buộc tiếng ồn vượt qua đầu những nhạc công khác. Philip Turbett, người quản lý dàn nhạc của Nhà hát opera quốc gia Anh, cho rằng : “Cần phải che họ đi theo cách như vậy để tiếng ồn không dội lại và tác động thẳng lên mặt bởi vì điều đó có thể gây ra nhiều nguy hại.”

Họ cũng cố gắng thu xếp nhiều không gian giữa các nhạc công và luân chuyển nhạc công ra vào những vị trí huyên náo nhất. Tại Nhà hát opera Hoàng gia, việc quản lý được một chương trình máy tính sắp đặt. Chương trình này tính toán tiếng ồn phải chịu cho từng tuần bằng cách liên hệ qua lại giữa các yếu tố như lịch chương trình của các thành viên và các tác phẩm được chơi.

Ông Peter Harrap, giám đốc dàn nhạc và hợp xướng, tiết lộ : “Các nhạc công đang được sắp xếp cách quãng các buổi tập và chơi nhẹ nhàng hơn lúc có thể như Nhà hát opera quốc gia Welsh đã chuẩn bị cho buổi công diễn lần đầu vở opera ầm ĩ The Sacrifice của James MacMillan hồi năm ngoái. Trong buổi diễn tập, các nhạc công bộ đồng và bộ gõ đôi khi được đề nghị nghỉ ngơi để bảo vệ đôi tai của chính họ và các đồng nghiệp.”

Chris Clark, người quản lý hoạt động của dàn nhạc tại Nhà hát opera Hoàng gia nói : “Các nhạc trưởng cũng đang được yêu cầu cân nhắc thói quen “tăng âm lượng phối âm dàn nhạc” của họ. Các nhà soạn nhạc cũng vậy, họ được yêu cầu luôn ý thức về vấn đề tiếng ồn.” Ông Nordwall, người quản lý của dàn nhạc Bavaria nói : “Các nhà soạn nhạc nên ý thức rằng họ đang cư xử với những người sống chứ không phải máy móc.”

Còn các đoàn diễn đang xem xét danh mục biểu diễn nhằm sắp xếp xen kẽ các tác phẩm có âm lượng lớn (chẳng hạn như các bản giao hưởng của Mahler) với các tác phẩm yên ả hơn. Họ cũng mua nhiều nút bịt tai kỹ thuật cao được đúc theo tai nhạc công và trị giá khoảng 300$ một đôi. Nhiều dàn nhạc giờ đây yêu cầu nhạc công đeo nút bịt tai trong suốt những phần ồn ã của buổi biểu diễn.

Tuy nhiên những biện pháp đó có thể làm nảy sinh vấn đề. Một số nhạc công bộ đồng và bộ gõ được bố trí màn chắn với các đồng nghiệp cứ như thể họ đang bị tẩy chay. Ngay cả khi chấp nhận sự cần thiết của việc đeo nút tai, các nhạc công cũng có xu hướng ghét phải đeo chúng. Ông Garner, nhạc công oboe Nhà hát opera Hoàng gia nói : “Tôi đã trải qua gần 30 năm trong nghề và tôi biết tất cả về tiếng ồn, đôi khi vẫn có tiếng ồn phát ra ngay cạnh tôi dù tôi đang không chơi, tôi có thể dùng ngón tay bịt tai trong một vài ô nhịp. Nhưng tôi chưa thấy một nhạc công nào nói rằng họ có thể đeo nút bịt tai và vẫn chơi nhạc với cùng một chất lượng.”

Dĩ nhiên, dàn nhạc hiện đại ý thức được về mức độ tiếng ồn cũng bị lệ thuộc vào ý muốn của nhạc trưởng. Việc những quyết định trong một dàn nhạc chỉ tùy thuộc vào chuyện tuân thủ luật tiếng ồn có thể gây khó chịu đối với kiểu nhạc trưởng thích chỉ đạo mà hầu hết họ đều như vậy.

Mặc dù Thụy Sĩ ở ngoài Liên minh châu Âu, cuộc tranh cãi bất thường về tiếng ồn giữa nhạc trưởng và Dàn nhạc giao hưởng Bern đã làm hỏng đêm diễn mở màn vở opera “Wozzeck” của Alban Berg hồi tháng 3. Marianne Käch, giám đốc hành chính của dàn nhạc tiết lộ : “Tác phẩm cần tới 30 nhạc công đàn dây cùng 30 nhạc công bộ hơi và bộ gõ, tất cả bị nhồi vào một hố dành cho dàn nhạc quá nhỏ. Khi giám đốc sân khấu phàn nàn trong các buổi diễn tập rằng âm nhạc quá ồn ào, nhạc trưởng đã không yêu cầu dàn nhạc chơi nhỏ hơn mà thay vào đó lại yêu cầu có một màn che hố dành cho dàn nhạc để chặn tiếng ồn.”

Ông Käch cho biết thêm : “Điều đó có nghĩa là tiếng ồn sẽ dội lại phía các nhạc công, khiến độ ồn tăng tới 120 decibel nơi bộ đồng, tương đương với độ ồn ở phía trước diễn giả trong một buổi hòa nhạc rock. Các nhạc công phàn nàn. Nhạc trưởng vẫn kiên quyết. Nhưng khi tác phẩm bắt đầu, dàn nhạc quyết định cứ chơi nhẹ nhàng hơn để tự bảo vệ mình. Điều này khiến nhạc trưởng tức giận đến nỗi ông bỏ ra ngoài chừng 10 phút.” Được thông báo rằng có “sự khác biệt về âm nhạc” giữa nhạc trưởng và dàn nhạc, khán thính giả đã phải đợi cho đến khi hai bên làm rối tinh tác phẩm. Rốt cuộc dàn nhạc đồng ý trở lại và hoàn thành buổi biểu diễn ở mức âm lượng lớn. Với những buổi diễn sau, một màn chắn hấp thu thay vì màn chắn dội tiếng được đặt trên hố nhạc và nhạc trưởng đồng ý làm dịu giọng xuống. Vấn đề này có thể thấy ở nhiều nơi khi mà nhạc trưởng chỉ huy ngày càng ầm ĩ hơn. Tôi biết các nhạc trưởng có hàng trăm sắc thái fortissimo nhưng không có nhiều ở mức độ thấp hơn. Có thể cả thể giới đang trở nên ồn ào hơn.”


na9 (dịch)

Nguồn : http://www.nytimes.com/2008/04/20/arts/music/20noise.html?pagewanted=2&_r=1&sq&st=nyt&scp=130 (http://www.nytimes.com/2008/04/20/arts/music/20noise.html?pagewanted=2&_r=1&sq&st=nyt&scp=130)

ta duy
18-11-2010, 08:55
CÂU CHUYỆN VỀ LESLIE LEMKE ( Phần 1 )



Trích từ cuốn sách Những con người lạ thường (Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome)
Tác giả: tiến sĩ Darold A. Treffert
Người dịch: Nguyễn Bích Lan (landichgia, thành viên mới của Bút nhóm nhaccodien.info)





Chiếc hòm thư có gắn dải băng đỏ đúng như Joe đã mô tả cho tôi. Tối hôm trước tôi đã gọi điện cho ông thông báo rằng ngày hôm sau tôi sẽ lái xe từ Fond Du Lac tới nhà ông bởi tôi muốn gặp con trai nuôi của ông, Leslie. Ông có thể chỉ đường cho tôi không? Ông đã cho tôi những chỉ dẫn và nói rằng tôi không thể nhầm nhà được bởi ông sẽ buộc một dải băng đỏ vào hòm thư nhà ông. Giờ, thì tôi chắc nơi tôi cần tìm đây rồi. Tôi nghĩ tôi không thể nhầm nhà được bởi kia, May Lemke đang đi từ ngoài đường vào nhà. Leslie đi sau bà.

Nhà họ ở Lake Pewaukee nhỏ hẹp và đơn sơ nhưng rất ấm cúng; nó có vẻ rất hợp với May, người phụ nữ nhỏ bé. Joe tự hào về khu vườn của gia đình, về cảnh đẹp và hồ nước gần nhà. Leslie đang ngồi trên ghế trong một căn phòng trước kia là cổng vòm còn bây giờ là phòng nghe nhạc. Anh ngồi bất động và im lặng nhưng trông anh có vẻ hài lòng và thoải mái. Anh nhắc lại tên tôi một cách chính xác, khi May giới thiệu tôi với anh. Rồi anh lại ngồi xuống, im lặng như trước. May dường như sốt ruột muốn cho tôi thấy anh chơi đàn. Bà đầy vẻ tự hào. Mặc dầu Leslie bị mù, nhờ nhạy cảm về đường đi, anh vẫn tự đi từ chỗ anh ngồi tới chỗ cây đàn dương cầm.

Và anh chơi đàn. Tôi không nhớ rõ bài anh chơi là bài gì nhưng tôi nhớ những gì tôi cảm thấy lúc ấy-kinh ngạc, tràn đầy cảm hứng và say mê. Đã nhiều năm trôi qua cho đến giờ những cảm xúc ấy vẫn sống trong tôi mỗi khi tôi có dịp nghe Leslie chơi đàn. Đây, một Leslie với ba khuyết tật –mù, chậm phát triển và liệt não-chơi đàn, chơi cho ba người nghe thứ âm nhạc đáng được cả ngàn thính giả thưởng thức. Nhạc tuôn như suối chảy hết bản này đến bản khác: các khúc thánh ca, các bản công-xét-tô, các khúc aria, các bản nhạc pop nổi tiếng. Có bản Leslie vừa đàn vừa hát; có bản anh chỉ đàn. Có bài hát được anh hát bằng tiếng Anh, một số bài được hát bằng tiếng Đức, lại có bài được hát bằng tiếng Hy Lạp. May nhảy theo điệu nhạc. Những cuốn băng ghi hình Leslie mà tôi đã xem chuyển tải thành công âm thanh và cảnh anh chơi đàn, nhưng chúng không thể chuyển tải được diện mạo và tinh thần của anh và niềm xúc động của người được có mặt ở đó chứng kiến sự cùng tồn tại đầy mâu thuẫn đến không thể tin nổi giữa khuyết tật và tài năng ở một con người.

Lúc không đàn, Leslie ngồi đó, im lặng, chậm chạp và lờ đờ; khi chơi đàn anh tỉnh táo và đầy sinh khí. Biểu hiện liệt co cứng rất dễ thấy lúc anh ngồi không, biến mất khi anh chơi đàn. Anh nhấn pedal[1] (http://www.nhaccodien.info/forum/#_ftn1) khi bắt đầu chơi và thả ra khi kết thúc. Anh hát không chuyển giọng, ít luyến láy, nhưng hát với sự nhiệt tình. Anh chơi đàn rất nhàn, và trong khi phần hát của anh thể hiện rất ít cảm xúc, phần đàn lại chứa đựng cả cảm xúc lẫn niềm vui. Rõ ràng Leslie rất thích chơi đàn.

May cho tôi biết đó là cây đàn thứ tư họ sắm cho Leslie. Anh chơi quá dữ dội và chơi lâu, thường nhấn phím đàn quá mạnh nên dễ hỏng đàn. Các bản nhạc thường kết thúc đột ngột như khi chúng bắt đầu. Chơi xong một bản nhạc, Leslie lại chìm vào im lặng, chờ May cho biết tên một bản nhạc khác để chơi tiếp. Dù có thể ngồi đàn hàng giờ liền, anh không tự chuyển từ bản nhạc này sang bản nhạc khác. Anh là nô lệ của những chỉ dẫn từ ngoài bản thân anh, và May là người cung cấp những chỉ dẫn ấy.

Khi ngừng chơi đàn, anh lại chìm vào im lặng. Ngôi nhà, hồ nước, và cảnh vật xung quanh là thính giả của thứ âm nhạc tuyệt vời anh chơi. Gần như chiều nào và tối nào thứ âm nhạc ấy cũng phục vụ các thính giả biết thưởng thức nó-May, Joe và chính Leslie. Thỉnh thoảng nó cũng dành cho những vị khách thăm như tôi, hoặc cho cả một phòng chật kín người nghe. Với Leslie, dù có một hay nhiều người nghe cũng không có gì khác. Bao giờ anh cũng đàn tuyệt vời như thế. Leslie chẳng bao giờ phải luyện tập một bản nhạc. Anh không phải luyện bởi vì anh luôn chơi một cách hoàn hảo ngay từ lần đầu tiên. Mỗi lần anh đàn là một lần biểu diễn chính thức-của một hiện tượng âm nhạc.

Leslie là người mang hội chứng bác học đáng chú ý nhất mà tôi từng gặp, từng nghiên cứu, và từng biết qua các tài liệu. Anh sinh ngày 31 tháng Một năm 1952 tại Milwaukee và là trẻ sinh thiếu tháng. Ngay sau khi chào đời, anh bị mẹ bỏ rơi. Những tháng đầu đời anh phải ở trong nhà từ thiện dành cho trẻ em ở Milwaukee. Khi đó người ta thấy giác mạc của anh mờ đục, mắt anh sưng và khó mở. Bác sĩ chẩn đoán anh bị chứng viêm giác mạc ở trẻ sinh non (lúc lọt lòng mẹ Leslie chỉ nặng có 2,3 kg) theo đó sự tăng sản võng mạc quá mức đã ngăn cản sự dẫn lưu, gây ra bệnh tăng nhãn áp hay còn gọi là ‘bệnh mắt trâu”. Lúc Leslie bốn tháng tuổi, mắt trái của anh bị cắt bỏ. Sáu tuần sau trước nguy cơ anh bị nổ mắt các bác sĩ buộc phải cắt nốt mắt phải của anh. Và thế là Leslie bị mù.

Sáu tháng tuổi, đứa trẻ tật nguyền yếu ớt và đáng thương được một người phụ nữ tốt bụng tên là May Lemke nhận nuôi. Lúc ấy May Lemke năm mươi hai tuổi. Bà nguyên là cô nuôi trẻ có tiếng là giỏi chăm sóc trẻ và giàu lòng yêu trẻ, cả trẻ bình thường lẫn trẻ khuyết tật. Trung tâm bảo trợ xã hội Milwaukee đã gọi điện cho bà, và không chút ngần ngại bà đã nhận làm mẹ, người giáo dưỡng, người trị liệu, tấm gương, người dẫn dắt tinh thần cho bé trai mù lòa, bị liệt và khuyết tật trí tuệ đó. May Lemke đối với Leslie Lemke như Anne Mansfied Sullivan đối với Helen Keller. Người ta đã từng định nghĩa tình yêu là “sự quan tâm tích cực vô điều kiện”. May, với Leslie của bà, là một ví dụ minh chứng cho định nghĩa đó. ( Còn tiếp )



[1] (http://www.nhaccodien.info/forum/#_ftnref1) Pedal hay còn gọi là bàn đạp của đàn piano, là một hệ thống cho người chơi ngân dài hoặc tắt âm thanh theo ý muốn.

ta duy
18-11-2010, 08:58
CÂU CHUYỆN VỀ LESLIE LEMKE ( Phần 2 )

Trích từ cuốn sách Những con người lạ thường (Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome)
Tác giả: tiến sĩ Darold A. Treffert
Người dịch: Nguyễn Bích Lan (landichgia, thành viên mới của Bút nhóm nhaccodien.info)


Hai tuổi rưỡi Leslie biết ngồi và biết bò. Vào thời điểm đó bác sĩ đến khám cho Leslie nhận thấy rằng anh có thể hát và nói rõ ràng nhưng có vẻ bị ám ảnh và cách biệt. Vẻ chậm chạp của Leslie làm nảy sinh một số câu hỏi; “chưa dám khẳng định”, bác sĩ lưu ý.

Năm Leslie ba tuổi, một chuyên gia thần kinh phát hiện ra một số điểm đáng quan tâm ở anh, trong đó có chứng co cứng và biểu hiện đi lại khó khăn. Căn cứ vào một số phản xạ bất bình thường ở anh, bác sĩ chẩn đoán anh bị “liệt co cứng chân” được cho là do tổn thương trong quá trình lọt lòng mẹ. Anh cũng cho thấy xu hướng nhắc lại lời nói, hay còn gọi là “chứng lặp lại máy móc lời người khác”. Một năm rưỡi sau bác sĩ nhận thấy Leslie nói sõi nhưng luôn nhắc lại những lời thoại. Tuy nhiên, anh có thể gọi tên một số vật.

Mary Larsen, con gái của May, nhớ lại những năm đầu khi Leslie đến sống với May và Joe Lemke. Cô nhớ Leslie khi ấy bé lắm, gần như không thể khóc hay cử động được, thậm chí nuốt cũng khó. May chăm sóc Leslie bằng tình yêu, và niềm tin không gì có thể dập tắt nổi. Người phụ nữ bé nhỏ ấy tin rằng Chúa sẽ phù hộ cho Leslie khỏe mạnh. Mary nhớ rằng hồi Leslie năm tuổi rưỡi, anh biết đi. Mặc dầu anh không tự nhiên nói, anh lại có thể nhắc lại những cuộc chuyện trò trong gia đình trong cả một ngày, không chỉ nhắc lại đầy đủ từng từ mà còn diễn tả chính xác giọng điệu, ngữ điệu của từng lời thoại. Một buổi tối, mọi người phát hiện ra Leslie đang ở dưới gầm giường lảy những chiếc lò xo giường như thể đang chơi một nhạc cụ.

Khi anh năm tuổi rưỡi anh được đưa đi khám bác sĩ và bác sĩ xác nhận khả năng đi lại của anh. Anh cũng biết hát nhiều bài hát, có thể nhắc lại lời tuyên thệ trước quốc kì và biết cầu nguyện. Bác sĩ nói vốn từ vựng của Leslie khá tốt nhưng hoạt động nói của anh mang tính lặp đi lặp lại hơn là mang tính giao tiếp . Bác sĩ hỏi anh nhiều câu, anh hầu như chỉ nhắc lại câu hỏi, thỉnh thoảng mới đưa ra câu trả lời. Trong suốt buổi thăm khám anh hoạt động liên tục “không chịu yên lúc nào”. Theo đánh giá của giới chuyên môn thì “người mẹ nuôi của Leslie đã làm rất tốt, nhưng rồi cũng sẽ đến thời điểm anh cần được đưa vào dưỡng trí viện”. Thời điểm đó đã không bao giờ đến. Đối với Leslie thời điểm đó không bao giờ đến bởi vì sự hy sinh của gia đình dành cho anh là vô bờ và cũng bởi tài năng của anh phát lộ.

Khoảng giữa giai đoạn lên bẩy và lên tám Leslie được cho một cây đàn piano. May chơi đàn và hát cho anh nghe. Bà cầm tay anh, dạy anh các nốt. Mẹ nào, con nấy-cả hai đều biết chơi chỉ qua nghe và chơi rất tốt. Tám tuổi Leslie cũng biết chơi một số nhạc cụ khác, bao gồm trống bongo, đàn ghi ta Ha-oai, đàn côngxetina, mộc cầm, và ac-cooc. Bác sĩ cho biết những lần gặp bác sĩ theo định kì của Leslie mang tính xã giao hơn là nhằm mục đích khám bệnh bởi May thường mang tới những thông tin tích cực về sự tiến bộ và những khả năng của Leslie. May cho biết vào những tuần trăng Leslie dường như dễ bảo hơn. Khám cho Leslie năm anh tám tuổi, bác sĩ nhận thấy anh hay bồn chồn, song ông cũng lưu ý rằng đó có thể là do ảnh hưởng từ May, người cũng có biểu hiện hiếu động thái quá. Mặc dầu bác sĩ cho rằng Leslie vẫn có xu hướng nhắc lại lời nói hơn là trả lời các câu hỏi, May lại tự đưa ra giải thích rằng ở nhà Leslie thể hiện tốt hơn ở phòng khám của bác sĩ. Leslie cũng hát cho bác sĩ nghe một số bài rock and roll nổi tiếng, vừa hát vừa đánh nhịp. Cũng dễ nhận thấy May đã chăm chút cho Leslie cẩn thận như thế nào qua việc hàng ngày bà cho Leslie ăn nhiều bữa ăn nhẹ.

Chín tuổi Leslie biết chơi đàn óoc-gan. Tài liệu y khoa cho biết mười tuổi rưỡi Leslie vẫn không thực sự biết giao tiếp bằng lời, chỉ biết nhắc lại lời người khác nói một cách máy móc. Ở tuổi này anh vẫn chưa thể tự mặc quần áo. Anh không biết cầm thìa rĩa tự ăn.

Mười hai tuổi Leslie đàn và hát hay. Mary nhớ lại chất giọng cao tuyệt vời của Leslie và cô tiếc rằng khi ấy họ không có điều kiện ghi âm tiếng hát của anh. Anh đặc biệt thích nhạc đồng quê và những bài hát phương tây nhưng rõ ràng anh thích nhạc nền của phim Batman (Người Dơi), và anh chơi bản nhạc này rất hay. Anh yêu âm nhạc và thường ngồi nghe nhạc hết giờ này đến giờ khác trong dáng điệu đặc trưng của anh.

Một buổi tối, năm Leslie mười bốn tuổi, anh xem một bộ phim trên vô tuyến mang tên Sincerely Yours Kính chào), do Dorothy Malone và Basil Rathbone thủ vai chính. May và Joe cũng xem phim nhưng xem nửa chừng. Khoảng ba giờ sáng May chợt thức giấc, nghe thấy tiếng nhạc và nghĩ rằng Joe quên không tắt vô tuyến. Bà đến phòng khách để kiểm tra. Bà thấy Leslie ngồi đó. Anh đang chơi bản côngxetô số 1 của Tchaikovsky-nhạc của bài hát chủ đề trong bộ phim Sincerely Yours-một cách mãnh liệt và chính xác. Leslie chỉ nghe bản nhạc đó một lần duy nhất. Thế là đủ. Anh chơi bản nhạc từ đầu đến cuối.

Nếu bạn yêu cầu Leslie chơi lại bản nhạc đó, bạn không chỉ được nghe nó, mà còn được nghe toàn bộ phần giới thiệu phim, chính xác từ từ ngữ cho đến giọng điệu: “Bộ phim dành cho tối nay là phim Sincerely Yours, do Dorothy Malone và Basil Rathbone thủ vai chính. Khi anh phải lòng người phụ nữ tóc đen xinh đẹp đó ….( bạn có thể nghe thấy những âm thanh của bản côngxetô số 1 của Tchaikovsky làm nền cho lời giới thiệu) Và bây giờ, chương trình phim truyện tối Chủ Nhật hân hạnh giới thiệu …” Một khi Leslie đã bắt đầu thì khó mà dừng anh lại. Anh giống như một cái máy hát tự động: bạn tra đĩa vào và đĩa không ngừng quay. Cho đến gần đây phần giới thiệu và cả bản nhạc dài ấy vẫn được Leslie nhắc lại từ đầu đến cuối.( Khi Leslie xuất hiện trong một chương trình truyền hình trực tiếp nói về anh điều đó thực sự trở thành một trở ngại bởi thời lượng của chương trình thì có hạn mà anh thì cứ đàn miết không chịu ngừng). Giờ đây Leslie đã có thể nghe lời thuyết phục mà dừng lại, hoặc ít nhất cũng kết thúc bản nhạc nhanh chóng hơn nhờ một cái vỗ vai của Mary.

Leslie giờ có thể chơi nhiều bản nhạc cổ điển nhưng bản nhạc đó-bản nhạc đánh dấu “điều kì diệu bừng nở” ở anh, như gia đình anh nói-vẫn là bản nhạc ấn tượng và gây xúc động nhất.

Năm 1974, ở tuổi hai mươi hai, Leslie lần đầu biểu diễn âm nhạc trước công chúng tại hội chợ Waukesha. Anh đàn và hát những bài thánh ca và mô phỏng phong cách của Louie Amstrong và Tiny Tim. Anh đạt được thành công bất ngờ. Báo chí gọi anh là hiện tượng“kì lạ”. Trong suốt buổi biểu diễn, khán giả ở hội chợ Waukesha lắc đầu kinh ngạc và lau những giọt nước mắt trào ra khóe mắt họ khi anh hát những bài thánh ca anh yêu thích và kết thúc buổi ra mắt công chúng của mình bằng câu nói “Mọi thứ đều tốt đẹp!”. ( Còn tiếp )

ta duy
18-11-2010, 09:01
CÂU CHUYỆN VỀ LESLIE LEMKE ( Phần 3 )

Trích từ cuốn sách Những con người lạ thường (Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome)
Tác giả: tiến sĩ Darold A. Treffert
Người dịch: Nguyễn Bích Lan (landichgia, thành viên mới của Bút nhóm nhaccodien.info)


Chính sự kiện Leslie đi biểu diễn ở Fond Du Lac năm 1980 trong chương trình tôn vinh những người cha mẹ nuôi đã cho tôi cơ hội gặp anh lần đầu. Như tôi đã kể, buổi biểu diễn đó cũng là lần xuất hiện đầu tiên của anh trên truyền hình và trên báo chí quốc gia, và anh lập tức được cả nước quan tâm.

Mùa Giáng sinh đó, vào ngày 19 tháng Mười hai, chương trình Bản tin buổi sáng với Walter Cronkite của đài CBS đã kết thúc với những lời sau đây về Leslie: “Đây là mùa mừng một điều kì diệu, và câu chuyện này thuộc về mùa Giáng sinh năm nay. Đó là câu chuyện về một chàng trai, một cây đàn piano, và một điều kì diệu”. Trước đó vào tháng Mười một năm 1980 những người làm chương trình That’s Incredible( tạm dịch ‘Không thể tin nổi’)- đã đến Pewaukee và Fond Du Lac để làm phim về Leslie, và chương trình đó được phát sóng vào tháng Một năm sau đó. Leslie được cả nước biết đến còn May thì bận rộn với với những lá thư, những cuộc điện thoại, và các vị khách ghé thăm ngôi nhà bên hồ của họ. Bà sung sướng; bà tự hào.

Ê-kíp làm chương trình Donahue biết Leslie qua chương trình That’s Incredible và thế là tháng Hai năm 1983 Leslie trở thành khách mời của chương trình Donahue. Chương trình này tập trung giới thiệu May cũng như giới thiệu Leslie. Phil Donahue, người phụ trách chương trình, thực sự gặp khó khăn trong việc ngăn không cho May với tất cả nhiệt tình và hưng phấn của bà, chiếm hết thời gian của chương trình để chia sẻ “điều kì diệu” của bà với khán giả, bà bước tới đâu là chiếc micrô của bà được mang theo đến đấy và được sử dụng liên tục. Bà tạo ra ý nghĩa mới cho thuật ngữ “truyền thanh”. Khi chương trình kết thúc Donahue dường như vừa sững sờ vừa nhẹ nhõm. Hầu hết khán giả đều sửng sốt và kinh ngạc trước những kĩ năng của Leslie, cũng giống như tôi, buổi tối trước đó đã sửng sốt và kinh ngạc khi được thấy các kĩ năng ấy sau bữa ăn tối với Leslie và vợ chồng Lemke. Tối đó theo lời đề nghị của May, người bồi bàn gốc Hy Lạp đã hát vài bài hát bằng tiếng mẹ đẻ của anh. Trước đó Leslie chưa từng nghe những bài hát ấy. Trên đường về phòng chúng tôi đi ngang qua một chiếc piano đặt ở tiền sảnh của khách sạn. Leslie ngồi xuống trước cây đàn, không chỉ đàn mà còn hát lại những bài hát đó bằng tiếng Hy Lạp y hệt như anh đã được nghe người bồi bàn hát.

Sau đó anh trở thành khách mời của chương trình 60 Minutes( Sáu Mươi phút) với chủ đề về hội chứng bác học do Morey Safer dẫn chương trình. Chương trình có ba nhân vật chính là George, Alonzo Clemons, Leslie, và được phát sóng lần đầu vào ngày 23 tháng Mười năm 1983, sau đó được phát lại nhiều lần. Safer xếp chương trình này vào tốp mười chương trình thành công nhất trong sự nghiệp của mình. Khi tôi đến New York để tham gia chương trình này, tôi thấy Safer, người biên kịch, và cả ê-kíp làm phim đều lắc đầu biểu lộ nỗi kinh ngạc của họ khi lần đầu tiên tận mắt thấy các kĩ năng của những người mang hội chứng bác học.

Sau chương trình Sáu Mươi Phút, Leslie còn xuất hiện trên các chương trình truyền hình của San Diego, Chicago, New York và nhiều chương trình khác, khi thì xuất hiện một mình, khi thì cùng những người mang hội chứng bác học khác. Tôi nhớ nhất hai chương trình thật ấn tượng về anh. Một ở New York, khi anh xuất hiện cùng Alonzo Clemons, và trong chương trình ấy tôi thực sự xúc động khi Alozo kéo tấm vải phủ bức tượng Bạn thắp sáng đời tôi, bức tượng xuất phát từ cảm hứng khi nghe Leslie hát trong một chương trình truyền hình được thực hiện trước đó. Chương trình khác là chương trình AM Chicago với người dẫn chương trình Ophrah Winfrey. Đạo diễn đã sai lầm khi yêu cầu Leslie chơi bản “Rhapsody in Blue”-một bản nhạc rất dài-để làm bản nhạc mở màn cho chương trình. Leslie đã đàn miết, không dừng lại nhường chỗ cho những giây quảng cáo; anh chơi một mạch trọn bản nhạc, từ đầu đến cuối. Tôi nhớ khi ấy tôi thấy ông đạo diễn đứng ở góc sân khấu, chắp hai tay nhìn lên trời, như thể đang cầu trời can thiệp để họ còn được chút thời gian cho quảng cáo trước khi chương trình kết thúc.

Năm 1984 khi Leslie được yêu cầu biểu diễn phục vụ hoàng tử Horold và công nương Sonja của Na-uy, anh đã gặp nghệ sĩ piano lừng danh Kjell Baekkelund. Baekkelund kinh ngạc khi nhận thấy rằng Leslie chỉ chơi với chín ngón tay, ngón út bàn tay trái của anh không được sử dụng. Để thử tài Leslie, ông đã chơi bản “To the Spring” của Grieg, cố tình tạo ra một lỗi và yêu cầu Leslie chơi lại bản nhạc ấy. Sau chỉ một lần nghe duy nhất Leslie đã chơi lại toàn bộ bản nhạc một cách chính xác như anh đã được nghe, và trong trường hợp này, cả lỗi do Baekkelund cố tình tạo ra cũng được anh lặp lại. ( Còn nữa )

ta duy
18-11-2010, 09:05
CÂU CHUYỆN VỀ LESLIE LEMKE ( Phần 4 )

Trích từ cuốn sách Những con người lạ thường (Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome)
Tác giả: tiến sĩ Darold A. Treffert
Người dịch: Nguyễn Bích Lan (landichgia, thành viên mới của Bút nhóm nhaccodien.info)



Khán giả kinh ngạc trước trí nhớ phi thường của anh. Sau khi nghe duy nhất một lần một đĩa ghi âm một vở nhạc kịch dài bốn mươi lăm phút, anh có thể chơi lại toàn bộ phần nhạc trên đàn piano, và hát các khúc ca bằng tiếng nước ngoài như anh đã được nghe. (Không chỉ nhớ những bản nhạc và những bài hát, Leslie còn có thể nhắc lại vô số các tiết mục quảng cáo trên truyền hình một cách chính xác không chỉ từng từ mà cả cách nhấn giọng, cách ngừng ngắt của diễn viên đóng quảng cáo. Anh còn nhớ được rất nhiều số điện thoại mà anh đã nghe thấy trong đời). Những bài hát Leslie lưu giữ trong đầu nhiều không kể xiết. Năm 1983 tôi có dự một buổi biểu diễn của anh dành cho những học sinh của một trường phổ thông. Cô giáo dạy nhạc của trường mời Leslie cùng cô chơi bản nhạc dành cho bộ đôi mang tên “Canadian Capers”. Cô chơi phần của Leslie cho anh nghe một lần, sau đó chơi phần của cô trong khi Leslie chơi phần anh vừa học được. Rồi họ cùng chơi. Năm 1985 Leslie trở lại trường đó và họ lại cùng nhau chơi bản nhạc đó, bản nhạc mà trong hai năm Leslie không hề chơi lại lần nào. Năm 1986 trong một buổi biểu diễn được tổ chức tại một nhà thờ , chính giáo viên đó lại mời Leslie cùng chơi với cô bản nhạc ấy. Khi cô giáo đó ngồi xuống chơi phần của cô, Leslie cũng ngồi xuống chơi phần của anh không chút do dự, và anh đã chơi một cách hoàn hảo.

Trong một buổi biểu diễn khác anh cho thấy một khả năng phi thường nữa của anh. Một phụ nữ đứng lên hát một bài đơn ca dài mang tên “Tình yêu nơi đâu?” và yêu cầu Leslie chơi lại bản đó trên đàn piano. Dù chỉ nghe nhạc phẩm ấy một lần, Leslie đã đàn lại trọn vẹn cả bản nhạc, không mắc một sai sót nào. Người phụ nữ kia hát bài hát đó một lần nữa và lần này Leslie đệm đàn cho cô một cách chuẩn xác.

Trong phần thử tài Leslie tại các buổi biểu diễn, luôn có những khán giả lên hát, hoặc chơi một bản nhạc nào đó và đố Leslie chơi lại những gì họ vừa hát hoặc đàn. Thường thì các yêu cầu phải được viết ra giấy và gửi lên-nếu họ đưa ra yêu cầu bằng cách nói vọng lên sân khấu, Leslie lưu các yêu cầu đó trong đầu theo thứ tự-, nếu không, thì dù ở trên sân khấu hay ở nhà, anh cũng sẽ chơi không ngừng nghỉ cho đến khi chơi xong tất cả các bản nhạc đã được yêu cầu. Khi các yêu cầu được viết ra giấy Leslie có thể đáp ứng từng yêu cầu một, và chỉ đáp ứng số yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định. Số lượng yêu cầu thường không ít và một buổi biểu diễn của Leslie thường kéo dài tới 2 hoặc 3 giờ sáng.
Danh sách nội dung chương trình trong một buổi biểu diễn điển hình của Leslie sẽ cho bạn thấy vốn tiết mục phong phú cũng như khả năng và tài năng âm nhạc của anh. Ngày 29 tháng Tư, năm 1986, anh đàn và hát các nhạc phẩm sau tại nhà thờ Faith Methodist ở Neenah, Wisconsin:

Phần I-Hòa nhạc

“Rhapsody in Blue”
“How Great thou Art”
“Amazing Grace”
Mô phỏng phong cách của các nghệ sĩ
Louie Amstrong
Jeanette Mc Donald/ Nelson Eddy
“The Old Rugged Cross”
“Jesus, There’s Something About That Name”
“I’ve Never Been So Homesick Before”
“The Lord’s Prayer”

Phần II –Thử tài
“Doe a Deer” (ca khúc trong phim ca nhạc nổi tiếng The Sound of Music )
“Mississippi Hotdog” (phương pháp Suzuki)
“Where is Love” ( bài hát)
“The Clown” (của Kabalevsky, một trong những nhà soạn nhạc dành cho thiếu nhi nổi tiếng nhất)
“ The Entertainer” ( theo yêu cầu)
“Bridge Over Troubled Waters” (yêu cầu)
“The Rose” ( yêu cầu)
“What a Friend We Have in Jesus” ( yêu cầu)
“Everybody Loves Somebody Sometime” (yêu cầu)
“The twenty-Third Psalm” (ghi ta/ hát)

Nhưng kĩ năng hiện nay của Leslie không chỉ dừng lại ở mô phỏng hay chơi lại. Giờ anh biết ứng tác. Khi khán giả thử tài anh, trước hết anh chơi bản nhạc họ yêu cầu, và sau đó anh chơi phần ứng tác-phần biến tấu-khoảng năm, tám, hoặc mười phút. Chẳng hạn, trong một buổi hòa nhạc ở Neenah, Wisconsin, một sinh viên đã chơi mẫu bản “Mississippi Hotdog” và Leslie sau khi chơi lại toàn bộ bản nhạc đó đã tặng khán giả phần ứng tác dài tám phút theo lối mạnh dần và kết thúc ở cao độ, một lối ứng tác mà anh rất ưa thích. Khi người ta thử khả năng của anh bằng cách đưa ra bài kiểm tra mà Sloboda và các đồng sự của ông đã sử dụng khi nghiên cứu những người mang hội chứng bác học với khả năng âm nhạc như đã được miêu tả ở chương 2, Leslie tái tạo lại nhạc phẩm của Grieg tốt hơn nhạc phẩm của Bartok. Vì vậy có thể kết luận rằng kĩ năng âm nhạc của Leslie cũng giống như kĩ năng âm nhạc của những người mang hội chứng bác học mà các nhà khoa học kia đã nghiên cứu ( Còn tiếp )

ta duy
18-11-2010, 16:46
CÂU CHUYỆN VỀ LESLIE LEMKE ( Phần 5 )

Trích từ cuốn sách Những con người lạ thường (Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome)
Tác giả: tiến sĩ Darold A. Treffert
Người dịch: Nguyễn Bích Lan (landichgia, thành viên mới của Bút nhóm nhaccodien.info)

Trớ trêu thay khi trí nhớ của Leslie ngày một phát triển, thì trí nhớ của May lại ngày một kém đi. Giống như những người khác trong gia đình, May bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu không thể nhầm lẫn của bệnh Alzheimer. Cuối cùng, vào năm 1985, May chuyển đến sống với con gái lớn của bà, Pat Smith, ở Winnebago, Wisconsin, còn Leslie thì chuyển đến sống với con gái út của May, Mary Parker Larsen, ở Arpin, Wisconsin. (Joe Lemke qua đời vào mùa thu năm 1987). Việc chuyển nơi sống này với Leslie khá êm thấm. Người ta cứ lo là không có May bên cạnh, anh sẽ không chơi đàn nữa –giống như Tom Blind mất tài năng của mình khi ông chủ của cậu qua đời-nhưng điều đó đã không xảy ra. Mary đối với anh cũng ân cần, đầy hãnh diện như May vậy. Khả năng của Leslie vẫn được duy trì.

Từ khi chuyển đến sống với Mary, Leslie tiếp tục tiến bộ. Giờ trông anh khác nhiều so với lần đầu tiên tôi gặp anh. Anh để tóc trông kiểu cách hơn chứ không phải kiểu húi cua như trước, và râu của anh cũng được tỉa gọn gàng hơn. Vóc người anh nhỏ đi và trong những buổi biểu diễn anh ăn mặc rất bảnh bao. Giờ anh có thể cầm thìa rĩa tự ăn được. Các phần ứng tác của anh ấn tượng, và cảm động, nhưng Mary nói anh không chỉ ứng tác mà còn sáng tác được cả một bài hát, bài “Nông trang ở Arpin”, một bài hát vui nhộn nói về những chú gà, những chú vịt và bài “Mẹ dọn nhà”. Anh không chỉ chơi piano mà còn thường xuyên chơi acmônica, một loại kèn đòi hỏi khả năng điều khiển hơi thở, và cũng chơi đàn organ, loại đàn dành cho những người có những ngón tay khéo léo. Ngôn ngữ của anh giờ đây tự nhiên hơn và anh ít lặp lại lời người khác nói hơn. Không có sự đánh đổi nào giữa trí nhớ và các kĩ năng. Không giống trường hợp của Nadia, ở Leslie, khi kĩ năng âm nhạc và kĩ năng xã hội phát triển, ngôn ngữ cũng phát triển. Điều người ta lo ngại là kĩ năng bác học sẽ bị đánh đổi cho khả năng ngôn ngữ đã không xảy ra.

Leslie thường xuyên có các buổi biểu diễn tại các nhà thờ, các trường học, các nhà an dưỡng và các nhà tù và còn đi biểu diễn ở nước ngoài. May cảm thấy rằng điều kì diệu ở Leslie tồn tại là để được đem chia sẻ, và nhiều buổi biểu diễn của Leslie không bán vé. Nếu trừ chi phí tổ chức biểu diễn đi rồi, còn lại chút tiền nào thì tiền đó được dùng để thanh toán chi phí chăm sóc sức khỏe cho Leslie và để mua piano và trang phục biểu diễn cho anh. Mary đã lập ra một hội mang tên Hội điều kì diệu của tình yêu để thực hiện sứ mệnh chia sẻ tài năng của Leslie. Hội này hoạt động ở Arpin, Wisconsin với một ngân sách khiêm tốn nhưng lại đạt được những kết quả đáng kinh ngạc.

Thỉnh thoảng, khi sức khỏe của May cho phép, Leslie đến thăm bà. Mary và Pat hứa rằng cả mẹ họ và Leslie sẽ không bao giờ phải sống trong dưỡng trí viện hoặc nhà dưỡng lão, và họ giữ lời. Dù với sự tiến triển của căn bệnh May đã quên tất cả những thứ khác, bà vẫn không quên Leslie. Bà vẫn nhận ra tiếng đàn, tiếng hát của anh. Giờ đây nhìn họ bên nhau, bà thì yếu ớt còn anh thì nhỏ bé đi, thật là cảm thương. Khuôn mặt bà vẫn ngời lên những nét rạng rỡ khi bà nhắc tên anh và khi bà nghe anh đàn, hệt như lần đầu tiên tôi đến thăm họ, cái ngày Joe buộc dải băng đỏ quanh hộp thư nhà họ. Niềm tự hào, tình yêu, và niềm vui vẫn toát lên từ con người bà. Leslie vẫn là cậu bé của May-một cậu bé tuyệt vời!

ta duy
18-11-2010, 16:48
CÂU CHUYỆN VỀ LESLIE LEMKE ( Phần 6 )

Trích từ cuốn sách Những con người lạ thường (Extraordinary People: Understanding Savant Syndrome)
Tác giả: tiến sĩ Darold A. Treffert
Người dịch: Nguyễn Bích Lan (landichgia, thành viên mới của Bút nhóm nhaccodien.info)







Tháng Tám năm 1986 Leslie trải qua một cuộc kiểm tra thần kinh và thần kinh bệnh học toàn diện do bác sĩ Louis J. Ptacek và Robert LaPlant thuộc bệnh viện Marshfied ở Marshfied, Wisconsin tiến hành. Qua kiểm tra các bác sĩ nhận thấy, về hình dạng, trán- thái dương, và phần đỉnh sọ của Leslie có phần dẹt và không đối xứng. Mặt anh cũng mất cân xứng nhẹ, cụ thể là nửa mặt bên trái nhỏ hơn nửa mặt bên phải. Cột sống của anh hơi vẹo. Chiều cao của anh là 5,4 phít (khoảng 1,64 m) và cân nặng của anh là 117 pound (khoảng 53 kg). Phần chân dưới bên trái của anh ngắn hơn phần chân dưới bên phải khoảng 4 cm, và đầu gối chân trái bị co cứng. Kiểm tra cơ cho thấy bệnh nhân bị dãn cơ nhẹ, trừ chân phải có biểu hiện của căng cơ gót chân và biểu hiện khó cử động mắt cá chân phải. Anh có biểu hiện run rẩy. Bác sĩ chẩn đoán người này mang hội chứng bác học; liệt não; chậm phát triển trí tuệ; vẹo sương sống; và chân trái bị ngắn đi có thể là do bị trật khớp hông bên trái.

Một đánh giá dưới góc độ thần kinh bệnh học cũng đã được đưa ra. Trường hợp này mắc chứng lặp lại máy móc lời người khác, thể hiện qua việc anh nhắc lại hầu hết những chỉ dẫn đưa ra cho anh, tuy nhiên, anh cũng trả lời được vài câu đơn giản. Anh nhớ được nhiều lời xã giao nhã nhặn và ở một chừng mực nào đó cố tương tác với người kiểm tra. Rõ ràng ở anh có nỗ lực duy trì cuộc chuyện trò dưới hình thức hỏi và trả lời, nhưng phần trả lời của anh thường bị phá hỏng bởi những câu trả lời như máy được khơi mào từ một từ nào đó: chẳng hạn, từ ‘all” –“tất cả” sẽ làm anh nhắc lại câu cuối trong một bộ phim hoạt hình của Bugs Bunny, “eh, eh, that’s all folks”. Thỉnh thoảng người ta nhắc tới một từ nào đó khiến anh tuôn ra tất cả những câu nói trong một đoạn quảng cáo mà anh đã xem. Trong phần kiểm tra khả năng nhớ có lựa chọn sử dụng một danh sách các con vật, anh cho thấy khả năng hiểu biết của anh ngang bằng với một đứa bé bẩy tuổi. Trong bài kiểm tra này người kiểm tra đọc cho anh nghe tên của mười con vật sau đó người ấy yêu cầu anh nhớ lại anh đã được nghe nhắc đến những con vật nào. Thoạt đầu không có gợi ý nào được đưa ra, nhưng sau đó người kiểm tra đặt cho anh những câu hỏi chẳng hạn như, “Anh có nhớ là đã thấy có chó trong danh sách không?” Sau khi lặp đi lặp lại lời người hỏi, anh nhắc lại tên của không ít con vật có trong danh sách và anh tiếp tục nói tên của những con vật khác không có trong danh sách đó.

Áp dụng bài đo chỉ số thông minh Wechsler dành cho người lớn các nhà nghiên cứu xác định anh bị chậm phát triển trí tuệ (IQ cho phần trắc nghiệm sử dụng ngôn ngữ là 58). Phần trắc nghiệm với hình ảnh không được sử dụng vì Leslie mất thị lực. Sáu bài trắc nghiệm phụ được sử dụng-thông tin (29 câu hỏi về nhiều lĩnh vực), khả năng ghi nhớ số (nhớ xuôi 9, nhớ ngược 9 số), từ vựng (40 từ thuộc nhiều lĩnh vực từ từ “giường” đến từ “càn rỡ”), đại số (11 bài toán), khả năng hiểu (gồm 10 mục thuộc “hiểu biết thông thường”, ví dụ, người ta sẽ làm gì nếu trong rạp chiếu bóng có ai đó kêu “cháy”), và bài trắc nghiệm tìm điểm giống nhau (12 cặp đồ vật được đưa ra để người làm trắc nghiệm xác định điểm giống nhau, ví dụ, quả đỗ và quả chuối giống nhau ở điểm nào). Điểm được tính theo thang điểm chuẩn, trong đó điểm 10 được coi là mức điểm trung bình (50% số người được trắc nghiệm theo phương pháp này đạt được từ 7 đến 13 điểm). Có người đạt được tới 17 điểm nhưng có người không ghi được điểm nào. Điểm của Leslie là: thông tin, 1; nhớ số, 7; từ vựng, 1; đại số, 1; khả năng hiểu; 2; bài trắc nghiệm tìm điểm giống nhau, 3.

Các nhà nghiên cứu cố gắng sử dụng một phần phiên bản số 4 của bài trắc nghiệm Stanford-Binet. Ở bài trắc nghiệm khả năng suy luận, anh được đánh giá thuộc loại chậm phát triển trí tuệ. Bài trắc nghiệm trí nhớ ngắn hạn cho thấy anh đạt mức trung bình.

Bài trắc nghiệm sử dụng xúc giác được thực hiện nhằm xác định Leslie có khả năng tư duy trìu tượng hay không, vì người làm bài này bị bịt mắt nên hạn chế về thị giác không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết dạng bài này. Bài trắc nghiệm này gồm một tấm bảng với những chỗ bị cắt khớp với mười mảnh gỗ có các hình dạng khác nhau. Trong khi bị bịt mắt, người làm trắc nghiệm phải sờ các mảnh gỗ và đặt chúng vào những chỗ bị cắt( khuôn) trên bảng sao cho khớp. Leslie không ghép được một mảnh nào. Khi lời chỉ dẫn được đưa ra, anh nhắc lại chúng và cố gắng làm theo nhưng không thể làm nổi. Thậm chí khi tay anh đã đặt lên chỗ bị cắt trên tấm bảng và cũng đã cầm được miếng ghép tương ứng rồi thế mà anh cũng không ghép được. Qúa 15 giây anh vẫn đứng đó sờ sẫm các mảnh gỗ. Rõ ràng ở anh thiếu vắng khả năng tư duy trìu tượng.

Các khả năng thích nghi được đánh giá bằng tiêu chuẩn đo của AAMD (Thước đo hành vi thích nghi xác định khuyết tật trí tuệ) được bổ sung thêm bởi những chi tiết Mary Larsen cung cấp. Trong hầu hết các phần trắc nghiệm, Leslie cho thấy các kĩ năng xã hội hóa ở anh mấp mé mức có thể dạy được. Mức chức năng thấp nhất thuộc về các lĩnh vực chức năng tự lập, phát triển thể chất và tự điều khiển.

Các nhà thần kinh học kết luận rằng Leslie thuộc dạng chậm phát triển trí tuệ ở mức độ vừa phải. Trừ lĩnh vực âm nhạc và trí nhớ liên quan đến âm nhạc, chức năng trí nhớ của anh nói chung dưới mức trung bình. Xét các kĩ năng suy luận có sử dụng ngôn ngữ, anh thuộc dạng chậm phát triển trí tuệ trong khoảng từ mức nhẹ cho đến mức nặng. Về kĩ năng suy luận không sử dụng ngôn ngữ anh ở mức chậm phát triển trí tuệ nặng. Không tính đến khả năng biểu diễn âm nhạc, các khả năng thích nghi khác của anh cho thấy anh thuộc dạng chậm phát triển trí tuệ có thể dạy được.

Kết quả kiểm tra cho thấy điện não của Leslie hơi bất thường; có biểu hiện chậm nhẹ ở tất cả các vùng não nhưng đặc biệt rõ ở vùng não thái dương bên phải. Đáng lưu ý, hoạt động nền gồm hoạt động biên độ khá chậm với sóng alpha cân đối và khá rõ(9-9,5 Hz) ở tất cả các vùng não. Ở vùng não thái dương bên phải hoạt động điện còn chậm hơn, thậm chí thỉnh thoảng ngừng, và điều đó khiến các nhà nghiên cứu quyết định chụp cắt lớp não( CAT) cho anh để xác định sự bất thường của cấu trúc não ở vùng này.

Kết quả chụp CAT tại bệnh viện Theta Clark, ở Neenah, Wisconsin do bác sĩ Timothy T. Flaherty đọc, cho thấy có sự bất bình thường đáng kể ở phần não bên trái, đặc biệt là ở thùy não trán phía bên trái. Dĩ nhiên, phim chụp cho thấy hai mắt của bệnh nhân đã bị cắt bỏ. Các hốc mắt cho thấy sự mất cân xứng và biểu hiện dị dạng của hốc mắt trái làm nảy sinh câu hỏi về một dị dạng nào đó có thể là bẩm sinh ở vùng này. Toàn bộ xương trán cũng cho thấy bằng chứng dị dạng, với vùng xoang bên trái nhỏ hơn rõ rệt so với vùng xoang bên phải. Sự dị dạng này khiến cho toàn bộ vùng trán bên trái nhỏ hơn vùng trán bên phải. Thêm vào đó, mật độ mô ở một vùng bên trán trái này thấp hơn đáng kể so với các vùng xung quanh. Vùng khuyết tật này rộng khoảng 2 cm, sâu 4 cm, và cao 4 cm. Vùng bất bình thường này cho thấy sự teo( đóng sẹo) tướng ứng với tổn thương nào đó ở hệ mạch( cung cấp máu) từng xảy ra hay tổn thương dư tồn từ chứng viêm não xảy ra trước kia. Ở phần trước và phần sau của thùy não đỉnh có các vùng liên đới nhẹ với vùng tổn thương và teo đó, và ở vùng thùy não chẩm trái và phải sự liên đới này nhẹ hơn chút ít. Phát hiện về tổn thương ở phần não trái là rất quan trọng, như các bạn sẽ thấy ở chương 11.

Câu chuyện về Leslie Lemke được chia sẻ qua những cuốn sách, những chương trình truyền hình, qua nhiều tạp chí và báo. Một bộ phim truyền hình mang tên Người phụ nữ quyết tâm làm nên điều kì diệu, trong đó Cloris Leachman đóng vai May Lemke và Leif Green đóng vai Leslie, đã dành được bốn giải Emmy. Tuy nhiên mô tả xác thực nhất của câu chuyện đáng chú ý này lại là bộ phim mang tên Một đảo thiên tài, do hãng phim Weyrhaeuser sản xuất và giới thiệu năm 1987. Bộ phim bắt đầu bằng câu nói nổi tiếng của triết gia lừng danh Jean-Paul Strartre: “mỗi con người đều có một công trình.” Với May công trình đó là không để đứa con nuôi yếu ớt và tàn tật của bà chết. Với Mary công trình đó là “đưa điều kì diệu ở Leslie đến chỗ viên mãn”. Đối với Leslie công trình của anh là trải nghiệm và chia sẻ khả năng phi thường ở mức cao nhất có thể . THE END !

tampham22
17-08-2011, 15:53
Mình là dân toán, xin cho mình góp một bài về âm nhạc và toán học


Âm nhạc được phân loại bằng toán học (http://www.diendantoanhoc.net/vmf/index.php?option=com_content&view=article&id=319:am-nhc-c-phan-loi-bng-toan-hc&catid=82:nhng-iu-ly-thu&Itemid=459)

http://www.diendantoanhoc.net/vmf/images/stories/231.music_notes.jpgMối quan hệ giữa âm nhạc và toán học đã hút hồn kỉ nguyên các nhà thông thái. Pythagore đã khám phá cách đây hơn 2000 năm rằng những khoảng âm nhạc du dương có thể có liên hệ với những phân số đơn giản.
Ngày nay, Clifton Callender của trường đại học bang Florida, Ian Quinn của Yale và Dmitri Tymoczko của Princeton, ba giáo sư âm nhạc đã giới thiệu một phương thức mới để phân tích và phân loại âm nhạc dựa vào toán học. Bộ ba đã đưa ra một phương pháp gọi là “lý thuyết hình học của âm nhạc” và lí thuyết này đã nhóm lại thành từng “họ” các chuỗi nốt nhạc. Họ đã phát triển một phương pháp nối các họ này với các cấu trúc toán học được hình thành từ các điểm trong không gian hình học phức.
Những cách khác nhau để phân loại âm nhạc đã tạo thành những không gian hình học khác nhau và phản ánh những cách thức khác nhau mà các nhà soạn nhạc đã hiểu về âm nhạc xuyên suốt các thế kỉ. Phương pháp này cho phép, họ hi vọng, ở các nhà nghiên cứu một sự phân tích và hiểu biết âm nhạc sâu sắc hơn. Công việc của họ đã mở ra một điểm khởi đầu quan trọng trong sự định lượng âm nhạc, theo Rachel Wells Hall của khoa toán học và khoa học máy tính thuộc trường đại học St Joseph Philadelphie. Bà còn thêm vào rằng sự tiến triển này “là rất đáng được lưu ý bằng một phổ lớn các ứng dụng âm nhạc và tính cả chiều sâu nội dung toán học của nó”. http://www.diendantoanhoc.net/vmf/images/stories/sticef_2006_bresson_0711.jpg

Phương pháp này hứa hẹn cung cấp những công cụ mạnh cho sự nhận thức hoá âm nhạc bằng cách cho phép những dự án mới nổi bật lên.”Chúng ta có thể tạo ra những loại dụng cụ âm nhạc mới, những đồ chơi mới, những phương tiện mới để làm cho thấy rõ hơn âm nhạc, những hoà hợp âm nhạc mới hay những phương tiện học nhạc mới và những hệ quả thiết thực khác có thể theo đuổi”, Tymoczko khẳng định. Sự ưng ý nhất của ông là có thể quan sát cấu trúc chặt chẽ nối các khái niệm âm nhạc khác nhau.

“Phương pháp của chúng tôi không phải là cực đỉnh để nhận biết Aerosmith của Rolling Stones nhưng chúng cho phép nhìn thấy rõ hơn những khác nhau giữa John Lennon và Paul McCartney. Và các bạn có thể thấy cái gì gắn kết nhạc rock cổ điển và cái gì để phân biệt âm nhạc phi giọng điệu”, Tymoczko kết luận.