PDA

View Full Version : Luciano Berio, nhà soạn nhạc hiện đại đầy cá tính



Apomethe
28-08-2006, 03:22
Ivan Hewett
Luciano Berio, nhà soạn nhạc mà tính hiện đại đầy cá tính bao trùm cả sân khấu, ngôn ngữ và những âm thức mới.
Vũ Ngọc Thăng dịch


Với cái chết của Luciano Berio, ở tuổi 77, âm nhạc không chỉ mất đi một nhà soạn nhạc tuyệt vời, người đã viết một số trong những nhạc bản gây xúc động nhất và hay nhất ở thời kì hậu chiến, mà còn mất đi một trong những trí tuệ đầu đàn của thời kì này, trong số nắm được trong lòng bàn tay, những nhà soạn nhạc cải cách triệt để đã vẽ lại cảnh quang âm nhạc. Cùng với Stockhausen và Boulez, ông là người tiên phong trong việc khai phá những nguồn kĩ thuật mới, và trong việc mở rộng những nguyên tắc chuỗi (serial) của Schönberg.

Tuy nhiên, điều thực sự làm nên tên tuổi Berio chính là những tác phẩm ở những năm 60 và 70, soạn khi ông sống ở Mỹ; từ 1965 trở đi, ông là giáo sư môn sáng tác tại Juilliard School, New York. Ở những tác phẩm như Laborinthus II (1965) và Sinfonia (1968-69) - giờ đây giữ vị trí của những tác phẩm hiện đại cổ điển - âm nhạc, sân khấu, và ngôn ngữ được hòa quyện thành một kinh nghiệm toàn bộ. Trong những năm 80, các sáng tác của ông mang một phong thái trang nghiêm, suy lắng hơn, và những hồi thanh của âm nhạc quá khứ càng trở nên công khai - những cái mà nhiều nhà phê bình, vì bỏ sót tính cách phức tạp dồi dào/bồng bột trong những tác phẩm sơ thời của ông, đã có ý phê phán.

Berio sinh ra ở Oneglia, một tỉnh lị hẻo lánh vùng Liguria của Italia, và ở tuổi dậy thì, đã nối gót ông nội và bố là Adolfo và Ernesto Berio, cả hai đều là những nhân vật chủ chốt trong đời sống âm nhạc của tỉnh lị, vùng đất mà Berio nhắc nhớ như chẳng thay đổi gì nhiều suốt từ thời Giuseppe Verdi.

Thế chiến thứ hai hầu như bỏ qua Oneglia; chỉ trong những ngày cuối của cuộc chiến, Berio mới bị bắt vào đội quân của nước Cộng Hòa SaLò ngắn ngủi của Mussolini ở miền bắc Italia. Sau một thương tích tình cờ, ông trốn khỏi nhà thương và gia nhập kháng chiến quân, khi chiến tranh chấm dứt, ông được nhận học tại Nhạc viện Milano.

Năm 1953, lúc việc học của ông kết thúc, cũng là lúc đang xảy ra một cuộc cách mạng trí thức: trào lưu tân-hiện thực hậu chiến đã bị đẩy ra lề bởi trào lưu tân-tiền phong, trào lưu này mang lập trường cánh tả nhưng thay thế những nhận định can trường về mặt xã hội bằng sự mỉa mai, thường có tính cách vui đùa, một kiểu thử nghiệm về hình thái / kết cấu.

Hai thành viên trong trào lưu này, mà sau đó, trở thành những người hợp tác chủ yếu và những đồng chí-chiến hữu về mặt trí thức; nhà thơ Eduardo Sanguinetti và triết gia Umberto Eco. Rồi trong những năm 70 và 80, nhà văn đương thời nổi tiếng nhất của Italia, Italo Calvino, đã hợp tác với Berio trong các vở ôpera La Vera Storia (Câu chuyện thật, 1977-81) và Un Re In Ascolto (Vị vua lắng nghe, 1979-84).

Nhưng, trước hết, Berio phải đối chiếu với những ý tưởng đang tung ra từ Khóa học nhạc mùa hè ở Darmstadt, sôi sục với những cái tiên-phong. Nơi mà sự khai phá những nguồn âm thức mới, đặc biệt là các âm thanh điện tử, hơn lúc nào hết đang cất bước cùng với việc tìm ra những hệ thống sáng tác nghiêm túc và thuyết phục. Hứng khởi trước những gì nghe được ở đây, trong chuyến đi thăm Mỹ đầu tiên năm 1952, ông bắt đầu thử nghiệm với nhạc điện tử. Cùng với một Bruno Maderna hậu kì, ông điều khiển phòng thu thanh điện tử mới tại đài phát thanh nhà nước Italia từ 1953 đến 1960, và năm 1958, ông soạn ra tác phẩm nhạc điện tử nổi tiếng Omaggio A Joyce.

Cùng lúc ấy, trong những tác phẩm thuần khí nhạc, Berio dò dẫm hướng về một hình thái nhạc chuỗi (serialism) của riêng mình, cái mang tính nghiêm ngặt của phương pháp chuỗi toàn bộ (total serialism) của Darmstadt nhưng không mang sự cứng rắn nghẹt thở của nó. Qua một loạt tác phẩm ở những năm cuối của thập kỉ 50 và đầu 60, gồm cả những Sequenzas cho các nhạc khí đơn tấu (từ 1958 trở đi), Tempi Concertati cho tập hợp các nhạc khí (1959-61, soạn lại sau đó), ông đã triển khai những kĩ thuật tài tình để đưa ý niệm quá trình phát triển vào trong cái nguyên tắc chuỗi ngay đơ, bất động.

Sự thay đổi này có thể được tóm tắt như một khởi động từ "cái luôn luôn là một, nhìn từ các góc cạnh khác nhau" đến "cái ló dạng dần dà gì đó, mà sau đó lại tan vào một cái khác". Cái gì đó này không tự phát sinh, như một chuỗi; mà có thể là cái đã từng hiện hữu, như một bài ca dân gian hoặc một mẩu nhạc của Schubert.

Thật vậy, ranh giới giữa cái mới soạn và cái vay mượn có thể càng nhạt nhòa, kết quả cho ra là nhạc Berio càng trở nên rộng mở trước những sự xâm lấn từ bên ngoài. "Tôi quan tâm đến thứ âm nhạc vốn sản sinh và khai triển những mối liên hệ giữa những điểm rất cách xa nhau, và đeo đuổi một quĩ đạo biến thể rất rộng (như những Biến tấu Diabelli của Beethoven, chẳng hạn)."

Những thứ ấy có thể đã hiện diện trong chính âm nhạc, vừa của ông và của cả những nhà soạn nhạc khác. Nhưng, vào những năm 60, chúng nhảy vọt qua âm nhạc mà vào những khu vực rất xa. Chúng là, thứ nhất, những âm thức mới vén mở từ các phương tiện điện tử; thứ hai, ngôn ngữ, đặc biệt là những thử nghiệm trên tính đa tầng về ý nghĩa thấy trong trào lưu tân-tiền phong; và thứ ba, sân khấu.

Sự nhạt nhòa biên giới giữa các hình nghệ thuật khác nhau và những chiến lược lắng nghe liên tưởng qua chúng là một đặc tính đều đặn trong âm nhạc Berio từ những năm 60, đến mức là việc định nghĩa một cách chính xác những tác phẩm ấy thường rất khó. Thử lấy tác phẩm Visage (1961), soạn cho radio, nơi những dữ liệu được tập hợp và cắt ráp-chồng chéo trên băng nhựa lại chính là giọng hát của người vợ đầu của ông, ca sĩ Cathy Barberian. Có phải đây là một tác phẩm thanh nhạc, một vở kịch soạn cho radio, một bài thơ thử nghiệm, hay là một khảo sát thuần âm thanh? Cũng thế, Circles, viết cho giọng người, bộ gõ và đàn harp (1960), là một tiểu luận bằng âm thanh hiếm lạ, một trò chơi trên các ý nghĩa phát biểu, một tác phẩm sân khấu-nguyên sinh (proto-theatre).

Các tác phẩm sau đó truyền đạt cái tính cách không xác định đầy thành quả này vào trong những bức tranh ngày càng lớn hơn và dồi dào hơn. Sinfonia, tác phẩm nổi tiếng nhất và có lẽ đặc thù nhất của Berio, là một công trình cắt dán phong phú, phức tạp, dài cả tiếng, trong đó một số văn bản nói và hát bằng nhiều ngôn ngữ được phối hợp với một nhạc bản cực kì tinh tế viết cho dàn nhạc. Chương hai, O King, là một khúc tưởng nhớ Martin Luther King Jr, trong đó ngữ âm của cái tên vị liệt sĩ là cái cung cấp cho văn bản. Chương trung tâm là một cơn xoáy lốc của những kí ức nhạc Phương Tây, chồng đặt lên chương Scherzo của Giao hưởng số 2 của Mahler. Cơn lốc này xuất hiện lù lù trong mạng kết cấu rồi biến mất, để rồi chỉ xuất hiện lại sau đó như một giòng sông ngầm dâng trào lên bề mặt.

Trong khi sự cắt dán ca từ quăng vào mạng kết cấu có tác động khuếch đại, hoặc chia/giải trí, thì sự mạch lạc của tác phẩm về mặt âm nhạc lại là điểm có thể tranh luận. Tính phức tạp đôi khi có thể tự gây thất bại, như chắc chắn đã xảy ra trong tác phẩm Opera của Berio (1970), một bình phẩm châm biếm nhiều tầng trên chính thể opera. Thành công hơn là vở La Vera Storia, mà hồi hai là một câu chuyện kể lại, trong một hình thái mà Berio diễn tả là "oneiric" (mộng tưởng), của câu chuyện đã kể ở hồi một, nơi nó xảy ra"thực và cụ thể".

Nhiều trong số những nhà văn mà Berio ưa thích - Auden, Shakespeare, Barthes - tái hiện trong vở opera tới, Un Re In Ascolto, vở hát là một sự diễn giải lại lần nữa cái thủ pháp sân khấu-trong-một-sân khấu. Tính cách thụ động của nhân vật trung tâm - người không ngừng bình phẩm và hồi tưởng, nhưng không bao giờ diễn xuất - là mang tính biểu trưng của âm nhạc hậu kì của nhà soạn nhạc, vốn suy tư một cách yên lắng trên những kí ức của chính nó.

Tháng 7/1997, vở ô-pe-ra Outis (1995-96) của ông được ra mắt tại nhà hát La Scala tại Milan. Outis là một Ulysses của một ngày sau, người mà trong 5 chuyện kể riêng rẽ, bị giết chết và sống lại để trải qua những chuyến mạo hiểm có tính ngụ ngôn trong một khung cảnh càng ngày càng kì dị - một tàu khách đại dương, một nhà băng, một siêu thị. Phần âm nhạc, như một nhà điểm opera phát biểu, là "một loại đại dương trong đó một người thường bị thất lạc rồi lại tìm lại được chính mình lần nữa" - một kết quả được tăng thêm sức thuyết phục qua việc xử lí các âm thanh điện tử một cách tinh xảo trong dàn nhạc.

Ở những năm cuối, mức sản xuất của Berio, từng được kiêng nể dưới tiêu chuẩn đương đại, thực ra lại gia tăng. Năm 1999, vở opera Cronaca Del Luogo (Biên niên của Nơi chốn), một sự chiêm nghiệm trên những chủ đề kinh thánh, ra mắt tại Liên Hoan Salzburg.

Giữa nhiều tác phẩm ra mắt gần đây, Sequenza XIV cho cello đơn tấu (2001-02) là nổi bật, như thể đây là tác phẩm cuối cùng của loạt tác phẩm viết cho những nhạc khí cá biệt, khởi đầu với Sequenza I, cho sáo, hơn 40 năm trước. Như tất cả các Sequenzas, tác phẩm này không cố sức thử thách với những giới hạn của nhạc khí, nhưng lấy những ý niệm trừu tượng về các trường bồi âm đang phát triển đọ trí với những tính chất vật lí và những ngón chơi đặc thù kế thừa từ lịch sử của nhạc khí.

Những tác phẩm ấy là một chúc thư cho cái mà Berio diễn tả như một sự tiến hóa chậm rãi, trang trọng của các nhạc khí ngang qua các thời đại, một sự tiến hóa mà ông mang niềm kính trọng sâu sắc nhất. Và như thể chưa đủ, ông đắm mình, ở tuổi 75, vào việc trẻ trung hóa cái cơ chế từng ghi dấu một thời, nhưng đang ngắc ngoải ở Roma, một khối liên kết độc đáo: dàn nhạc giao hưởng, trung tâm khởi xướng, nơi gặp gỡ, thư viện và trường đào tạo, được biết đến với cái tên Accademia Nazionale di Santa Cecilia mà ông trở thành chủ tịch và giám đốc nghệ thuật năm 2000.

Những vở opera của Berio từng là nguồn xung động cho giới phê bình Anh, có nhà phê bình hỏi: "Tại sao Berio chẳng bao giờ khẳng định điều gì cả?" Nhưng cái khó của một lời tuyên bố thẳng thừng, và cái chiều hướng rời rạc/đoạn thức của cái tự thân, trước hết, vốn là hội chứng của những nặng nợ chính yếu của chủ nghĩa hiện đại. Và cái hiện đại chính là cái mà Berio luôn thực sự duy trì.

Ông lập gia đình với Cathy Barberian năm 1950, họ có một gái. Li dị năm 1964, và Barberian mất năm 1983. Lần lập gia đình thứ hai, với Susan Oyama năm 1964, cũng tiến đến li dị năm 1971; họ có một trai và một gái. Người vợ thứ ba sống vượt ông, Talia Pecker, cưới năm 1977; họ có hai người con.

Luciano Berio, nhà soạn nhạc, sinh 24/10/1925; mất 27/05/2003.


© 2003 talawas

Nguồn: The Guardian, 28/05/2003

ốc_con(^^)
21-01-2008, 23:59
ơ, sao không có link mp3 mấy bài của ông nè để cho bài vit thêm sống động nhoà

yes_Iam_here
26-01-2008, 19:34
Tớ có 1 đĩa Berio, dân ca các nước nghe vui lắm. :D, mạng đang lởm khổng để hôm nào up lên cả nhà nghe thử.

yes_Iam_here
26-01-2008, 22:17
Chùm ca khúc dân ca - Luciano Berio
Cho mezzo-soprano, flute, viola, cello, harp và percussion.
Sáng tác năm 1964
Chỉ huy: Luciano Berio
Solists: Alda Caiello, Ana Hasler, Ines Zikou
Thu âm live tháng 12/2001 - Madrid
Download: Folksongs - Luciano Berio (http://www.box.net/shared/12rxkqcn4s)

Mạng MegaVNN ở Linh Đàm siêu lởm, cứ phải refresh thường xuyên, up được chừng này, nghe tạm, (nếu chỉ vì tò mò thì đừng nghe, hehe)
Vì toàn là dân ca, nhạc nhẹ nên giai điệu đáng yêu, hòa âm cũng không đến mức xủng xoẻng lắm, đại loại là dễ gần, hehe. Solist toàn những chị em lạ hoắc, nhưng nghe cũng tương đối ổn.
Booklet toàn tiếng Ý, đếch hiểu phân tích mô tê gì cả, :(

chauduyphanvu
27-01-2008, 07:45
Berio: Sequenzas (Complete)


http://image.listen.com/img/170x170/9/1/5/1/831519_170x170.jpg

Disc 1
1. Sequenza I For Flute (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239029&variant=play)
2. Sequenza Ii For Harp (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239030&variant=play)
3. Sequenza Iii For Female Voice: Sequenza Iii For Woman'S Voice (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239031&variant=play)
4. Sequenza Iv For Piano (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239032&variant=play)
5. Sequenza V For Trombone (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239033&variant=play)
6. Sequenza Vi For Viola (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239034&variant=play)
7. Sequenza Viii For Violin (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239035&variant=play)

Disc 2
1. Sequenza X For Trumpet In C: Sequenza Viii For Trumpet In Cd And Piano Resonance (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239036&variant=play)
2. Sequenza Xi For Guitar (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239037&variant=play)
3. Sequenza Xiii For Accordion (Chanson): Sequenza For Accordion (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239038&variant=play)
4. Sequenza Xi For Guitar (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239039&variant=play)

Disc 3
1. Sequenza Xii For Bassoon (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239040&variant=play)
2. Sequenza Xiii For Accordion (Chanson) (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239041&variant=play)
3. Sequenza Xiv For Cello (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239042&variant=play)
4. Sequenza Viib For Soprano Saxophone (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239043&variant=play)
5. Sequenza Ixb For Alto Saxophone (http://www.rhapsody.com/goto?rcid=tra.10239044&variant=play)