PDA

View Full Version : Nhạc cổ điển từ góc nhìn của Mme Ngô



Apomethe
03-11-2006, 02:42
Sonata form
___



Khái niệm.
Tiêu chuẩn hoá một khúc nhạc nghĩa là dựng sườn, tạo form, rồi ‘treo’ nốt lòng dzòng xung quanh (y chang kiểu ta treo lên cây các lồng đèn trung thu vào dịp tháng tám). Trên nguyên tắc, sườn giữ cho nốt hổng ‘rớt’ và form giúp người nghe dễ nhận diện dòng nhạc.

Thực tế hổng dễ dàng vậy. Form trong nhạc cổ điển y chang như huyền thoại đời thường, chánh xác được bao nhiêu phần trăm thiệt khó định. Form nhạc trồi sụt (như kinh nguyệt đờn bà) thành lãng đãng mơ hồ, lắm khi mờ mịt hết biết luôn. Xin thành khẩn khai báo, rằng dân xìu ển cỡ tui có ngó hoa mắt lắm khi cũng nhìn hổng ra nếu không được hướng dẫn trước !

Form nhạc quan trọng thấy thường nhứt là Sonata Form (SF) viết tắt từ Sonata Allegro Form.
SF, nói chung chung, dùng trong những khúc nhạc ngắn, hoặc trong một ‘chương’ riêng (dịch từ chữ movement) của tấu khúc 3-5 chương độc lập. SF có xuất xứ từ Binary Form của dòng nhạc thời Baroque trước đó, được hoàn chỉnh hoá sau này trong thời Cổ Điển - Binary form vì có hai ‘ý’ nhạc A và B biến thể, trở đi trở lợi nhiều lần, tạo thành hai sections hay hai ‘đoạn nhạc’ riêng rẽ AA’ BB’... Mơi mốt có dịp sẽ bàn sau -

SF hổng phải chỉ thấy trong các sonata, nó còn thấy tùm lum trong symphony, concerto, string quartet vv ... và thường bao giờ cũng ở 1st movement, do đó còn có tên là 1st Movement Form.

Cấu trúc SF.
Tưởng tượng thế này nha : Bạn đi chơi vườn bách thảo, rồi được hướng dẫn thăm viếng vườn Nhựt (tiếng thời thượng kêu bằng ... tham quan !) Cô Geisha đón bạn từ cổng ra vào :

1. Introduction
Kính chào qúi khách tới thăm vườn Nhựt.
(gập người xuống thiếu điều mém đụng đất)

2. Exposition
- Đây là cổng chánh dzô vườn, qúi khách phải đi qua hai lần cửa.
- Cửa thứ nhứt bằng sắt trạm (fer forgé)
- Nhịp cầu nhỏ ni là chốn chuyển đổi (transition) sẽ đưa qúi khách tới cửa thứ hai.
- Cửa thứ hai bằng gỗ.

3.Development
(vẫn tiếp tục tiá lia)
- Dà, bằng sắt nên cửa thứ nhứt dòm oai vệ sừng sững vì chắc lắm lận (tránh trộm đạo lỉnh dzô bẻ bông, bắt cá). Sắt vốn cứng và bền, tốn tiền chút xíu nhưng yên cái bụng.
- Cửa gỗ bằng cẩm lai, ngó thiệt mềm mại so với thép ha. Gỗ uýnh bóng nổi vân dòm đẹp hết biết, quí khách thấy hông ?
- Dà, sơn màu trắng cho cửa sắt bời vì màu trắng thanh thoát (giống hướng dẫn viên) và giữ cho cửa khỏi han rỉ theo thời gian (thời gian vốn là yếu tố hủy hoại tàn bạo nhứt, thì cứ dòm bà Ngô là thấy liền, có ai quen bả hông ?)
- Gỗ cẩm lai đẹp ở vân và màu gỗ, ai lại đi sơn cẩm lai bao giờ, trời !
- Thì dzậy, cái này bằng sắt cái kia bằng gỗ, thay đổi cho tương phản chút xíu vậy mà.
- Sau hai cánh cửa ni là khuôn viên vườn, toàn kỳ hoa dị thảo đó nha.
- Đây là bông ... (hái trộm từ nhà Ngô-Đồng) của Phố Rùm mang dìa.
- Đây là cá ..... (cá Koi của ngài Con-Ong)
- Đây là lầu cò, cò vàng bỏ lầu vào sống trong phố thị đã từ lâu dzồi.
- vv...vv

4. Recapitulation.
- Dà, đi chút xíu vậy mà hết vườn rồi, hiện chúng ta đang đứng ở hai lần cửa tại cổng chánh.
- Cửa sắt nè ... rồi cửa gôôô. ỗ.. nè. (chữ gỗ dài giọng ra nghe cho khác chút xíu)

5. Coda
- Dà, kính chào tạm biệt qúi khách và...
- xin hẹn gặp lại.
(gập người sát đất lần nữa)


* * *

Săm soi dưới kiếng lúp, SF cũng y chang màn tiếp đón của cô Geisha trong vườn nhựt vậy. Có ba sections chánh :

. Exposition.
Section đầu tiên, là phần nhập đề một bài luận văn, bày hàng giới thiêu các ‘themes’ (tức ý nhạc). Bao giờ cũng có hai themes với âm điệu khác biệt. Tên gọi thì vô chừng tùy gu tùy taste
- chánh và phụ
- 1 và 2
- trời và trăng.
- Dương và âm
- chàng và nàng (ác thú & giai nhơn)
- vv và vv.
Khổ cái ...
Có ông (Haydn) chỉ viết ý nhạc cho theme thứ nhứt rồi thay đổi nó chút xíu để làm theme thứ nhì. Có ông (Beethoven và những tác giả khác sau này) làm một hơi 3-4 themes luôn cho thập phần xôm tụ !

Dĩ nhiên đúng bài bản thì Exposition chỉ có 2 ý nhạc, với 2 âm điệu riêng, nằm trong hai sections khác biệt. Theme 1 hầu như đối chọi với theme 2 để tạo tương phản. Chúng được viết với hai khoá nhạc hoàn toàn khác, rồi được nối với nhau bằng một đoạn chuyển ngắn gọi là transition hay bridge (tức cầu khỉ hay cầu cá ... koi). Thinh không thấy khang khác nghĩa là ta đang ... đi (trên) cầu. Điều này có nghĩa : theme chánh đã hết, theme phụ sẽ bắt đầu ngay sau đó.

Nguyên tắc nằm lòng :
- Theme chánh dùng khoá chánh tonic key (hay home key) và theme phụ dùng khoá tương đương related key.
- Nếu tonic là major thì related sẽ là dominant (quãng 5 của tonic). Thí dụ related của C major sẽ là G major.
- Nếu tonic là minor thì related sẽ là relative major (quãng 3 của tonic). Thí dụ related của C minor sẽ là Eь major.

Tương phản hổng phải chỉ thuần ở hình thức (key nhạc) mà còn ở nội dung chuyên chở trong 2 themes nhạc.
. 1 vui vẻ (dance-like), 2 du dương (song-like).
. 1 vững vàng, 2 quờ quạng.
. 1 hùng tráng, 2 mơ màng.
. 1 khoẻ mạnh, 2 yếu xìu
. vv và vv.
Thỉnh thoảng có tác giả còn viết thêm môt theme nữa như ‘hồi chuông báo tử’ để loan tin cho thính giả biết phần exposition tới đây là kết thúc, và nó được đặt tên là closing theme.

. Development.
Tương đương như thân bài luận, tha hồ mà phóng bút kể lể chi tiết, cắt nghĩa lòng dzòng, hỏi-đáp, trấn-áp, ve-vuốt, ưu-tư, an-ủi lung tung. Tùy hỉ, tùy hứng và tuỳ tài, tác giả sẽ diễn đạt sao đó để thính giả hiểu và rung động rồi bị mê hoặc, hí hửng, hồi hộp, rầu rĩ, mơ màng theo dòng nhạc ... vv...

Cuối development, dòng nhạc thường chuyển hướng quày trở lợi tonic key, dẫn thính giả đi vào phần recapitulation kế tiếp. Để chuyển hướng, tác giả thích om xòm làm giông bão ồn ào trước cái đã, rồi thì mới sóng yên bỉển lặng từ từ, điềm báo trước rằng trời sẽ sáng lại sau cơn mưa.

. Recapitulation.
Yên bình trở về. Trật tự tái lập và duy trì. Dòng nhạc đi vào recapitulation với ý nhạc cũ nhưng có thay đổi chút xíu :Theme 2 sẽ viết bằng tonic key (cửa gôôô...ỗ nè) thay vì related key (cửa gỗ nè) . Đoạn chuyển, 2nd bridge, do đó cũng thay đổi theo, mục đích để tạo luồng gió mới uyển chuyển nhẹ nhàng đưa dòng nhạc về tonic đầu tiên, vì rằng chương nhạc bao giờ cũng phải kết thúc ở key này.

Ngoài 3 section chánh, thỉnh thoảng có tác giả còn hoa lá cành xôm tụ bằng cách viết thêm 2 sections phụ : introduction mở đầu và coda kết thúc.

Đầu thời Cổ Điển, người ta ưa cẩn thận nên sanh tánh rề rà, chơi Exposition hai lần cho ăn chắc, sang tới thời Lãng mạn người ta ngắn gọn, một lần rồi thôi. Ngay cả recapitulation cũng được chơi luôn hai lần trong thời Mozart trở về trước, thành ra thời đó, do chuyện bis tới của expositon và bis lui của recapitulation, 1st movement thường dài thoòng mệt xỉu !



* * *


Nói lung tung vậy dám táo bón khó tiêu, tui xin phép ngắn gọn lợi bằng tiếng anh cho dễ hiểu và dễ nhớ :

Introduction (optional).

Exposition.
1st tonal group (home key).
1st Bridge
2nd tonal group (related key)
Closing theme (optional)
... Repeated ...

Development
Variety of keys
Thematic variations
Sense of instability.

Recapitulation
1st tonal group
2nd bridge
original 2nd tonal group but now in tonic key.
Everything relatively stable.
Big final cadence or ...

Coda (optional)
Strong confirmation of the home key.

Dà, bài bản ngó dễ ăn vậy chớ thiệt ra hổng dễ. Nghe hoài mà vẫn cứ bí lù là thường tình thôi. Thành ra rồi người ta khuyên nên nghe thiệt thong thả chậm rãi 1st movement. Nghe từng đoạn và nghe tới nghe lui cho kỹ hầu nhận diện ý nhạc (nhứt là trong Exposition) Khi đã ‘nhìn’ ra được các themes rồi, thì sau đó mọi việc sẽ trơn tuột dễ dàng, như ăn hủ tíu mì hay đớp đậu đỏ bánh lọt của ... cô hàng xóm dzậy. Hào hứng là cái cẳng và hả hê hết biết luôn !
________________________________

Bài viết của Mme Ngo

Apomethe
03-11-2006, 02:52
Hoàng-Hạc.


Classical Music : Chọn và mua CD.



Khi bước vào vườn hoa nhạc cổ điển, người ta thường chóa mắt rồi sanh lòng hỗn loạn, riết một hồi dám tẩu hỏa nhập ma và lặng lẽ tìm ... lối ra ! Tui nghĩ nếu có vậy cũng vì người ta thích đốt giai đoạn, phi thiệt lẹ để tới đích sớm, và phi nước đại như thế thành té ngựa lọi ba sườn bể bàn tọa cũng là phải quá. Dà, ta nên đủng đỉnh rì rì, chậm nhưng ăn chắc.

Dòng nhạc cổ điển được chia ra hai loại : Ca khúc và Tấu khúc, tiếng thời thượng là thanh nhạc và khí nhạc.
Thông thường, một nhạc phẩm bao giờ cũng có hai phần : Phần melody tức leading music và phần accompaniment tức nhạc đệm.

Ca khúc là nhạc có lời và nhạc cụ ở đây là ... giọng hát.
Ca khúc thường ngắn như các Lied, nhưng cũng có khi dài thoòng cái kiểu Opera. Dà, đây là nói theo thuyết Tương-Đối của Albert Einstein nha, người thích nghe thì thấy Opera ngắn xủn chưa đã, người hổng thích thì trời ơi sao mà dài bất tận, ngủ đã đời thức dậy mà nhỏ đào thương vẫn chưa chịu chết (vì lao) !
Tấu khúc thì lỉnh kỉnh, ngắn dài khác nhau và chia ra rất nhiều form tức thể loại, kể ra hổng hết và thiệt cũng tối hù khó phân biệt.

Để giản lược, tui chỉ xin kể những thể loại thường thấy và dựa vào nhạc cụ mà chia ra cho dễ nhớ :
Sonata : tức nhạc viết cho 1 nhạc cụ độc tấu. Độc tấu là chơi 1 mình nếu nhạc cụ có khả năng chơi cả phần đệm. Thí dụ như piano, guitar, harpe ... Những nhạc cụ không thể độc tấu đúng nghĩa thì phần nhạc đệm sẽ do một nhạc cụ khác đi kèm, thường là piano, guitar và harpe ...
Concerto : Tấu khúc viết cho nhạc cụ solo nhưng phần nhạc đệm viết cho cả dàn nhạc. Concerto cho piano, violin, cello, trompet vv và vv ...
Symphony : Một tấu khúc bề thế viết cho toàn dàn nhạc, trong đó phần leading music được thay đổi tuần tự bằng các nhạc khí khác nhau tùy theo khả năng của sáng tác gia.
Chamber music : Nhạc viết cho chamber orchestra, tức dàn nhạc với số lượng nhạc công và nhạc cụ giới hạn, thường độ 5-10 người, cùng lắm là 2-3 chục. Duet, trio, quartet, quinter ... được xếp trong chamber music.
Cham ber music thoạt đầu là để các nhạc sĩ chơi với mục đích họp mặt với nhau chớ hổng phải để trình diễn như bây giờ.

Phần còn lại của nhạc cổ điển thường là những tác phẩm kém đồ sộ. Đồ sộ ở đây chỉ tính theo lượng và theo thời gian mà không kể phẩm. Phẩm là một chuyện hoàn toàn khác.

* * *

Khi bắt đầu bước vào dòng nhạc cổ điển, các tay nghe nhạc tài tử thường được khuyên hai điều sau :
- Nghe những bản nhạc nhỏ và giản dị. Nếu là nhạc ‘lớn’ thì chỉ nên nghe những trích đoạn nổi tiếng, đã góp phần tạo tên tuổi nhà soạn nhạc. Những trích đoạn này được nhà phát hành gom lại trong những CD thường có cái tên rất gợi cảm là The best, The best of Mozart, of Schubert vv và vv.. Thường những cái the best này chúng được chơi bằng các dàn nhạc và các nhạc sĩ của nhóm ... the future, tức những mầm non chưa lú (có thể sẽ lú hoặc không bao giờ lú) của vườn hoa âm nhạc. Các CD này rất rẻ thường dưới 10 đô. Lắm khi gặp promotion hay on sale 10 đồng được 3-5 cái lận !
- Không nên tốn tiền mua CD nếu chưa nghe trước, trừ phi ta rủng rỉnh hổng biết tiền dư để làm gì ! Nếu có mua, cũng nên mua 1 cái nghe thử, nhứt là khi tác giả với ta hoàn toàn là người ... xa lạ, vì người khác thích nhưng chưa chắc mình đã ưng !

Nếu mua CD có lẽ nên mua thẳng từ tiệm, trừ phi bất khả kháng. Ở tiệm ta có quyền xin nghe thử trước, coi có hạp khẩu vị hông. Mua CD bằng đường Bưu điện giá cả rẻ hơn nhưng ... khó trả lợi, vì có trả được cũng hộc máu mồm dồn máu mũi như chơi, mệt lắm lận ! Có lần mới mua một cái CD của Oistrakh 28 đô (dĩ nhiên đáng đồng tiền bát gạo) tuần sau ở tiệm on sale còn 10 đô, tức hơn bò đá, nhưng khỏi có màn trả lợi vì đã hết hạn mất rồi !

Vậy rồi muốn nghe mà hổng chịu tốn thì làm sao ta ơi ?
Dà, dễ lắm, ta đi mượn.
Mượn của người quen (Nó giới thiệu là Nó đã phải nghe rồi. Mượn như vậy thì ... giữ nghe hoài nếu thích, cho tới khi Nó sực nhớ ra và đòi lợi) nghe thấy đã thì chạy ù ra tiệm tậu một cái.
Tui có kinh nghiệm vụ này : Cho mượn thường là ... mất luôn, mất cái CD và còn tình bạn, hoặc ngược lại mất bạn và còn cái CD.

Một cách mượn khác tốt gấp mấy lần hơn : Ở thư viện.
Lý do xin kể như sau :
. CD của thư viện cho mượn thời gian giới hạn, thường là 2-3 tuần. Vì giới hạn nên phải ráng mà tìm ra thời giờ để nghe. Mượn của người quen thì có thói ngâm tôm, thủng thẳng đi đâu mà vội, thủng thẳng cho tới khi nó đòi nên rồi nghe hổng kịp, còn không thì (vô tình) quên luôn và ... mất bạn !
. CD của thư viện trả trễ phải đóng tiền phạt vạ, mất mát hư hao phải bồi thường. Sòng phẳng vậy nên ... không phải mang ơn và trả nghĩa !
. Thư viện có rất nhiều versions của một tác phẩm. Nếu thích ta có quyền nghe hết để phân biệt cách chơi của từng nhạc sĩ, dàn nhạc và nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc.
. Sau khi đã kết một tác phẩm, thích nhạc sĩ và dàn nhạc trình diễn rồi, thì ta mới đi mua cho khỏi ... hố. Nhạc kiểu này là nhạc chọn lọc hợp thị hiếu nên nghe hoài hổng chán, thành ra bỏ 2-3 chục, lắm khi hơn mà thấy vẫn ... lời (một bộ CD 10 bản violin sonatas của Beethoven do Stern kéo giá sơ sơ có 140 đô hà !)
. Vào thư viện còn có cái lợi nữa là ta có thể đọc được tài liệu liên quan đến tác giả và tác phẩm, nhạc sĩ. dàn nhạc, nhạc trưởng ..vv... trước khi nghe nó, mà hổng tốn đồng xu cắc bạc nào.


Dà, đại khái chuyện nghe nhạc cổ điển nó dễ òm và rẻ rề. Khi nghe khá khá rồi thì ta có quyền dốc hầu bao ra mua môt cái vé concert 5-7 chục để thưởng thức nhạc sống rất đáng đồng tiền bát gạo, còn bằng như vào đó để ngủ thì ngủ ở nhà sướng hơn, gối êm mền ấm hoàn toàn miễn phí, chưa kể sau đó dám còn được uống sữa hột gà !
___________________________-

Bài viết của Mme Ngo

Apomethe
03-11-2006, 02:56
Cấu trúc nhạc cổ điển.
------

Các nhà sử học chia âm nhạc làm 5 thời kỳ :
- Từ khởi thủy tới Phục hưng (thế kỷ thứ 16) : Âm nhạc thời này chỉ dùng để phục vụ tế tự. Đại diện là Palestrina.
- Thời Baroque : tiếp theo Phục hưng và chấm dứt năm 1759. Đại diện với Bach và Handel. Âm nhạc thoát khỏi khuôn viên tu viện và chạy vào cung đình cho đám vua chúa quí tộc phong kiến thong thả ăn chơi.
- Thời cổ điển : Tiếp theo Baroque và chấm dứt ở cuối thế kỷ 18 đầu 19. Với Mozart và Haydn. Beethoven sống cuối cổ điển, là cầu nối giữa hai thời cổ điển và lãng mạn. Âm nhạc thời cổ điển rời khỏi cung đình, tà tà len vào đám trưởng giả học làm sang. Nhạc của Baroque và cổ điển vẫn còn nặng nề khuôn phép, đây là nhạc của pure music, tình cảm bị chế ngự buộc ràng (cho mãi tới khi Beethoven xuất hiện)
- Thời Lãng mạn : chấm dứt vào đầu thế kỷ 20. Nhạc trở thành đại chúng, chui thẳng vào nhà quần chúng nhơn dân. Tình cảm được biểu lộ thong thả tự do, không câu nệ gò bó gì ráo nữa, program music xuất hiện. Phẩm và lượng thời này thiệt dồi dào. Brahms, Schubert, Wagner, Tchaikovsky ... và rất nhiều tên tuổi khác.
- Thế kỷ 20 về sau : đây là giai đoạn của ‘âm thanh và cuồng nộ’, rất nhức cái đầu và đau cái màng nhĩ, rồi thì ... (theo thiển ý) nó tụt cấp luôn tới cái củ tỉ với loại nhạc RAP hiện hành, than ôi !



* * *


Cấu trúc nhạc cổ điển dựa vào sáu yếu tố chánh. Sáu yếu tố này trên nguyên tắc quan trọng ngang nhau. Thực tế thì do sở thích hay do khả năng của từng nhà soạn nhạc mà yếu tố này sẽ quan trọng hơn yếu tố kia. Kết quả là nhạc mỗi thời đại mang sắc thái riêng đã đành, ngay cả trong cùng một thời đại, nét nhạc của mỗi nhạc sĩ cũng mỗi khác.

1. Rythm.
Gồm nhịp điệu và tiết tấu
- Nhịp điệu (meter) làm ta có thể dậm chân hay vỗ tay theo. Nó có thể là 2/4, 3/4, 4/4, ..vv...
- Tiết tấu (tempo) cho biết nhạc phải được chơi nhanh hay chậm. Tiết tấu được phân ra từ Largo (chậm nhứt) tới Prestissimo (nhanh nhứt). Chen giữa hai cực điểm này là một loạt những tiết tấu khác với độ nhanh tăng dần (Grave, Lento, Adagio, Andante, Andantino, Moderato, Allegro, Allegro molto, Vivace, Presto).

Chọn tempo cho bài nhạc là thẩm quyền của ngài nhạc trưởng. Cùng một bản nhạc thu âm nhưng thời gian dài ngắn xê xích chút đỉnh tùy tempo. Bản Bolero của Ravel là một khúc crescendo, trung bình dài độ 15 phút. Daniel Baremboin múa đũa dài nhứt, hơn 17 phút. Nhanh nhứt là Toscanini.
Sách vở kể rằng, Toscanini đã điều khiển dàn nhạc New-York Philharmonic Orchestra chơi Bolero tại Carnegie Hall với sự hiện diện của Maurice Ravel. Tấu khúc kéo dài vỏn vẹn chỉ hơn 12 phút. Sau buổi trình diễn, Ravel đã rượt theo Toscanini đặng... khiếu nại ‘Maestro ! Maestro ! Ngài chơi nhanh vậy hư nhạc của tui hết trọi, trời ơi là trời !’ (bứt râu bứt tóc ...). Toscanini xưa rày hổng ngán ai ráo (ngay cả Mussolini) mà cũng hổng hề (thích) bị chỉ trích bao giờ, bèn điên tiết sủa lợi ‘Mèn ơi, chơi vậy mà còn la làng gì nữa ông ! Than thở vậy là vì ông đã hổng hiểu nhạc của chính mình ! (tỉnh bơ tháo nơ bướm và khuy tay áo đặng còn kịp theo dzợ dzìa nhà). Sau vụ ni thì Arturo Toscanini thề hổng thèm đụng vô nhạc cũa Maurice Ravel nữa !

2. Melody – Âm điệu.
Melody hay tune là một chuỗi những nốt nhạc tiếp nối. Âm điệu một bài nhạc là cái nền làm bản nhạc du dương do đó dễ nghe và dễ nhớ. Âm điệu là yếu tố ngó chừng quan trọng nhứt của dòng nhạc thời Lãng mạn. Thính giả chẳng cần hiểu biết tối thiểu về nhạc cũng vẫn có thể nghe và thích các bản nhạc trầm bổng réo rắt của những tác giả sở trường về âm điệu như Schubert, Tchaikovski, Mendelssohn vv...

3. Texture - Kết cấu.
Đặt nốt nhạc tiếp nối nhau theo hàng ngang là viết melody.
Đặt nốt theo hàng dọc là viết harmony tức hoà âm.

Để tạo ‘bề sâu’ cho một nốt nhạc chánh người ta đặt kèm dọc theo, ngay trên và dưới nốt nhạc này, một loạt những nốt nhạc hổ trợ tương ứng thích hợp khác. Khi những nốt nhạc dọc này được chơi cùng lúc, chúng sẽ tạo ‘chiều sâu’ cho nốt nhạc chánh. Serie này có tên gọi là chords hay âm giai.

Homophonic : nhạc chỉ có một melody với những hoà âm chords đi kèm. Phần lớn nhạc thời Cổ điển và thời Lãng mạn là homophonic.
Polyphonic : nhạc với hai hay nhiều melodies một lần nhưng không có chords. Mỗi bè nhạc giữ một melody riêng. Các melodies đi riêng biệt và cùng lúc với nhau theo phương pháp đối âm counterpoint, còn gọi là counter-note.

Để dễ tưởng tượng vụ counterpoint của polyphonic, tui xin nói về Kim Dung. Dà, Kim Dung. Trong thiên Anh Hùng Xạ Điêu, Quách Tĩnh được nghĩa huynh Châu Bá Thông truyền cho ngón 'Song Thủ Hổ Bác'. Song Thủ vì hai tay xuất hai chiêu hoàn toàn khác nhau, nó tương đương như hai cao thủ xuất chiêu riêng, nhưng hai chiêu ni lại hổ trợ rất mật thiết nhịp nhàng để đường quyền trở nên thập phần uy dũng. Đối phương hoa mắt rồi xây xẩm mặt mày là cái cẳng. Polyphonic chính là ngón song thủ hổ bác này (hay tam tứ thủ hổ bác, tùy theo) không hơn không kém.
Bach của thời Baroque sở trường số một về kỹ thuật polyphonic-counterpoint. Bạn cứ tìm những bản viết theo thể điệu fugue của Bach sẽ nhận ra bản nhạc có hai (hay nhiều) melodies chạy song song, cantata Herz and Mund với Jesu, Joy of Man’s Desiring chẳng hạn. Một bản nhạc khác thường nghe trong mùa Giáng sanh, ‘Gloria’. Phần đầu ‘Canh khuya nghe tiếng hát các thiên thần ...’ là homophonic, phần điệp khúc ‘Glo ...ria in el celsis deo ...’ chính là polyphonic không khác.

Nghe nhiều melodies một lần cũng như nghe nhiều đứa ngứa miệng, a-lát xô lên tiếng một lượt, bởi vậy nên lộn xộn thấy bà (nếu từng đứa nói riêng thì nghe lại yếu xìu hổng đã, khổ vậy đó chớ) Nhưng nghe và để ý kỹ một nhóm nhạc cụ riêng bạn sẽ nhìn ra được melody nhóm này đang chơi, rồi từ đó bạn sẽ nhìn ra cái (hay những) melody còn lại do các nhạc cụ khác đảm trách (dà, mỗi lần để ý một nhóm thôi và phải nghe tới lui nhiều lần nha) Thoạt tiên thì khó khăn lắm lận nhưng xin đừng nản chí, ráng kiên nhẫn kháng chiến trường kỳ thì nhứt định sẽ đạt thắng lợi, từ từ rồi bạn nhận ra dễ dàng từng âm điệu một, và tui xin bảo đảm rằng, bạn sẽ thấy trước và sau này, chưa có ai qua mặt được ông Bach vĩ đại này hết trọi !

Monophonic : phần lớn nhạc nhạc thời trung cổ thuộc loại này. Nhạc chỉ có một melody do một hay nhiều người hát đồng ca. Không chords cũng không counterpoint gì ráo nên nghe chán phèo hà (Chorus trong opera cũng hát đồng ca nhưng là đồng ca 4 bè nghĩa là hát với chords, xin đừng lẫn lộn)

Gây chiều sâu cho nhạc bằng cách đan nốt. Harmony là đan dọc và counterpoint là đan ngang. Đan dọc đan ngang như thế giống như ta dệt vải vậy, nghĩa là ta tạo texture cho âm nhạc. Sau Bach và ngay cả nhạc thời nay kỹ thuật counterpoint vẫn còn được xử dụng nhưng nó không chiếm vị trí quan trọng như thời Baroque của Bach nữa.

4. Tone color – Âm sắc.
Mỗi nhạc cụ có tone color (hay timbre) riêng. ‘Sắc’ của flute khác ‘sắc’ của tuba, ngay cả khi chúng chơi cùng một nốt nhạc. Thậm chí với vĩ cầm, có người còn quả quyết rằng, âm sắc một nốt nhạc sẽ thay đổi nếu bowing khác cách (lên và xuống chẳng hạn).
Trong một dàn đại hoà tấu có chừng 20 loại nhạc khí khác nhau thì cũng có chừng ấy âm sắc. Nhà soạn nhạc giống như họa sĩ trước giá vẽ, phải biết chọn ‘màu’ nhạc thích hợp với từng nhạc cụ để diển tả những cảm xúc khác biệt.

Nhà nhạc học Arthur Elson cho rằng âm thanh phát từ mỗi nhạc khí mỗi khác, nên mỗi nhạc cụ có khả năng bộc lộ tình cảm riêng :
- Violin : diễn tả được mọi tình cảm.
- Viola : buồn da diết.
- Cello : mọi tình cảm (nhưng tiếng của cello gần với giọng nói con người hơn violin).
- Piccolo : nỗi vui hoan lạc, điên rồ
- Oboe : nỗi vui đắm thắm, dịu dàng
- Trumpet : hào hùng.
- Tuba : sức mạnh, thô bạo.
- English horn : buồn bã mơ màng.
- Clarinet : êm ái thuyết phục.
.......
(Vậy chớ English horn là gì ? French horn thuộc dàn kèn đồng và có nguồn gốc từ Pháp. English horn thì chẳng những hổng horn mà cũng hổng English gì ráo. Đây là tên gọi hoàn toàn sai, nó chỉ là cái oboe quá khổ, lớn gấp rưỡi cái oboe bình thường và âm sắc của nó thì hoàn toàn trái ngược với oboe - Xin xem ở trên)

Tone colors được chú trọng nhiều trong thời Lãng mạn. Lúc trước nhạc chỉ là nhạc thuần túy pure music (hay absolute music) nhạc viết khơi khơi, nhạc viết vì nhạc. Tới thời Lãng mạn nhạc viết ra với mục đích diễn tả một tình huống hay kể một câu chuyện, loại nhạc này gọi là program music (hay tone poem, symphonic poem) Wagner hổng thích gọi các vở nhạc kịch của mình là Opera, ổng ngon lành kêu chúng là ‘music drama’ cho tăng màu sắc !

Nếu một nhạc sĩ lãng mạn muốn người nghe nhạc nhận ra tiếng sóng bể kêu gào, tiếng chim hót véo von, tiếng thì thầm của tình nhân, hay lời tung hô chiến thắng vv.. thì chả phải tùy theo trường hợp mà viết nhạc và chọn những nhạc cụ với âm sắc thích hợp. Haydn Mozart thời cổ điển viết pure music, Berlioz Lizt thời Lãng mạn nghiêng về program music. Thông thường program music mới cần, nên mới chú trọng đến tone color nhiều hơn. Nhưng cũng có những nhạc sĩ do năng khiếu, đã xử dụng tài tình tone color vào ngay cả pure music làm dòng nhạc thêm lóng lánh sắc màu.

5. Form- Thể loại.
Nhà soạn nhạc xây dựng tác phẩm theo mô hình kiến trúc, gọi là form. Âm điệu hổng phải là mang nốt nhạc thả nổi khơi khơi vào đó, thả vậy nó rớt hết ra nha ! Nốt nhạc như những viên gạch được ‘gắn chặt’ vào khuôn (đã được nhạc sĩ chọn trước) để tạo thành tác phẩm. Mô hình có thể chặt chẽ, nhưng cũng có thể lỏng lẻo nên rồi méo mó chút đỉnh làm nghe khờ người mà cũng hổng biết nó là form gì ! Tác phẩm theo đúng khuôn dĩ nhiên giúp người nghe dể dàng nhận ra form của nó hơn.

Các forms gồm có :
- Thời Phục Hưng : Motets và Madrigals. Cả hai đều là nhạc hát vocal music.
- Thời Baroque : Passacaglia (dance form) và Fugue.
- Thời Cổ điển : Sonata, Symphony, String quartet, Concerto.
- Thời Lãng mạn : Symphonic poem và tấu khúc cho piano (prelude, polonaise...)
Forms thì còn rất nhiều, tui xin thủng thẳng nói sau khi có dịp.

Trong âm nhạc, nhiều nốt thành phrase, nhiều phrase thành section, nhiều section thành mouvement và các mouvements hợp thành bản nhạc. Mouvements có cấu trúc với các luật lệ riêng mà các nhà soạn nhạc phải tuân theo. Thường các sections trong mouvement có khuynh hướng lập lại, hoặc lập lại y chang hoặc biến dạng hay thêm thắt mở rộng ra chút đỉnh
Tác phẩm được cấu tạo chặt chẽ, bài bản đúng nghĩa tức đúng fondamental forms, là những đứa con hợp pháp. Nghe chúng người ta nhận ra huyết thống của chúng liền tù tì (symphony, sonata, concerto ...). Một số tác giả lấy vài câu vài đoạn của một tác phẩm đã nổi tiếng rồi thêm thắt hoa lá cành vào thành một bài nhạc mới, hình thức này thường thấy và có tên gọi là Theme and variations ...
Nhạc viết không theo form nữa gọi là free form, thấy trong các symphonic poem hay prelude vv..

6. Tonality – Âm chuẩn.
Âm chuẩn là dịch đại, ngó chừng dám sai !
Phần này tùm lum quá. Xin thú thiệt là tui cũng mơ huyền nên xin tóm lại thiệt đơn giản và thiệt gọn (theo khả năng) cho bớt rắc rối.

Nói tới tonality người ta nghĩ tới cung bậc. Mỗi cung có một nốt chủ âm (tông hay tone) và âm giai tức chord của chủ âm này. Tác giả chọn tông rồi viết melody và harmony xoay chung quanh nó.
Consonance là khi các nốt đi theo đúng tông, nhạc khi trình tấu lên nó êm ái mượt mà và nó ... thuận nhĩ. Dissonance là khi các nốt không đúng tông, nhạc cất lên thiệt gồ nghề trúc trắc và ... nghịch nhĩ.

Chuyện consonance ngó chừng được ưa thích nên nếu muốn du dương tình tứ truyền cảm thì chắc chắn nhạc phải đặt đúng tông. Nhưng nếu muốn diễn tả những tình cảm khó chịu hoang mang hoặc muốn nhấn mạnh để làm nổi một âm điệu trong dòng nhạc thì các nhà soạn nhạc phải chọn phương cách dissonance để gây ấn tượng. Dissonance không nhất thiết phải đảo lộn tùng phèo cả âm giai (nghĩa là dùng hẳn một âm giai khác) mà lắm khi chỉ cần đổi một nốt và đổi thiệt nhẹ (tăng cao hay hạ thấp hơn nửa tông) chừng như cũng đã đủ để làm ... đất bằng dậy sóng !
Ngay cả khi cùng một tông, chỉ cần đổi từ trưởng major ra thứ minor là dòng nhạc cũng đã khác. Major thì hùng tráng vui tươi trong khi minor lại buồn bã mơ màng.

Nhưng rồi thuận và nghịch lại còn tùy, do tánh tương đối của nó. Người ta nói rằng : nghe nghịch mãi riết quen, rồi sẽ biến thành thuận liền hà (bởi vậy đờn ông lấy vợ ít lâu y hình ai cũng sanh lòng hiếu thảo ráo trọi !) Thành ra nghịch nhĩ của Palestrina (Phục hưng) hổng thấm tháp chi với nghịch nhĩ của Schubert (Lãng mạn), và một ngày đẹp trời Schubert (thế kỷ 19) vặn CD nghe Stravinsky (thế kỷ 20) dám sẽ lăn đùng ra chết giấc, cho dù ổng cũng ngầu vụ dissonance hết ý !!!

Tác phẩm nổi tiếng ‘Erlkoring - The Elf King’ đã được Schubert viết với kỹ thuật nghịch nhĩ này. Đây là một music program ở dạng lied (ca khúc), lấy ý từ thơ của von Goethe. Erlkoring kể chuyện một người cha trên lưng ngựa, với đứa con nhỏ trong tay, ráng băng qua cánh rừng già để cố gắng thoát khỏi nanh vuốt của tử thần Elf chạy phía sau. Trong bài nhạc, Schubert đã để người cha hát giọng thấp và đứa bé hát giọng cao hơn. Nhạc chính của hai cha con được viết trên cùng một tông. Thế nhưng ... Tử Thần cất tiếng êm ái như tơ và hát ở một tông khác. Nhạc liên tục đổi tông lia chia rất ... suspense. Rồi ba lần thằng nhỏ kêu lên ‘Tiá ơi tía ơi’ vì nó quá sợ hãi. Để tạo cảm giác khủng khiếp này, Schubert đã cho giọng đứa bé lạc đi, bằng cách cho nó hát cao hơn nhạc (piano) đệm nửa nốt. Thiệt là dissonant lỗ tai người nghe, tạo cảm giác khó chịu hồi hộp muốn chết !!

Schubert đã dùng hai tones để tạo chuyện nghịch nhĩ, nhưng hai tone này cũng chỉ tuần tự thay phiên nhau, xong cái này mới qua cái kia chớ chúng không hề được hát lên cùng một lần. Tới thế kỷ 20 để đổi mới cho âm nhạc, người ta tà tà làm màn sáng tạo. Một trong những phẩu thuật lift-face này là nhạc được chơi trên 2-3 tông và (má ơi) ... chơi cùng lúc. Tên gọi của nó là polytonality (hay bitonality, tritonality ... tùy theo). Tiền phong trong phong trào polytonality này phải kể tới Prokofiev, Bartók, Stravinsky...

Một hình thức tonality mới nữa là ... atonality, nhạc không có tông, viết với ‘12 tone serial system’.
Đại khái thế này : tonality viết nhạc với 7 nốt chính, chúng cách nhau 1 tông hay ½ tông, rồi dùng diese và bemol để thay đổi khoảng cách các nốt nhạc cho hợp theo âm chuẩn. Atonality không có âm chuẩn nên không cần diese hay bemol để làm chuyện thăng giáng nữa, 7 nốt nhạc biến thành 12 nốt với khoảng cách đồng đều đúng ½ tông, 12 tone serial system là vì thế.

Cả polytonality lẫn atonality là những tiếng động cuồng nộ và man rợ nên cho tới nay y hình chúng đã cứ vẫn là những âm thanh lạc lõng và cô độc !
________________

Bài viết của Mme Ngo

Apomethe
03-11-2006, 02:57
Tonality & atonality.
----------

Tonal và atonal có lẽ là 2 terms ta nghe nhiều nhứt khi bàn về nhạc. Vậy rồi nghĩa thực sự của chúng là chi ?
Nhạc gọi là tonal khi nó được viết với hợp âm chánh dựa trên tone chánh và tone nhạc chánh này còn kêu là tonal center.
Những nốt nhạc của một âm giai (scale) có trình tự, giá trị khoảng cách nhứt định giữa chúng và chúng được tiếp tục lập lại. Thí dụ bài hát trong phim 'The sound of music', khúc cô tập sinh Maria dẫn đám trẻ ra đồng picnic và dạy chúng hát những nốt nhạc đầu tiên (... do a female deer ...) Những nốt ni có tên do re, mi fa sol la si. Rồi vòng trở lợi nốt do. Nghĩa là tonal center của scale là do, và do cũng chính là key của scale luôn.

Có nhiều tên gọi khác nhau : tonic, do (giả dụ là key do) tonal center, key note. Hợp âm 3 nốt do-mi-sol tạo thành từ nốt do có tên là tonic triad, và triad ni là hợp âm chánh của key nhạc. Thí dụ trong key C major thì tonic triad là C major; trong C minor, tonic triad là C minor
Bảy nốt nhạc chánh và 5 nốt phụ (do thăng giáng) sẽ tạo ra 12 scales và 12 keys. Ta còn phân biệt major và minor để rồi ra con số tổng cộng sau cùng là 24 keys (12 major và 12 minor). Trong scale, các nốt nhạc có chức năng riêng, hổ tương riêng giữa chúng với nhau và nhứt là với key note.

Tonal system do đó đi theo hệ thống vương quyền quân cách nghiêm chỉnh, tuy rắc rối đó nhưng rõ ràng. Thí dụ với âm giai C major kể ở trên :
. Quan trọng đầu bảng là key note, the tonic và main chord (tức nốt do)
. Thứ nhì kế đó là the dominant (nốt sol, cách do một quãng 5)
. Thứ ba, the subdominant (nốt fa, quãng 4)
. Thứ tư the leading tone (nốt si) sẽ đưa ta về lại do hay tonic note.
Âm giai ni khi lọt vô tay một nhạc sĩ có tài, nó sẽ biến hoá khôn lường để tạo ra những sắc màu lóng lánh trong dòng nhạc. Điều tuyệt diệu của tonal system là chuyện xoay vần các nốt nhạc chung quanh một trục chánh (tonic tone) để chúng đan quyện gắn bó lấy nhau làm âm điệu dòng nhạc tuôn chảy mãi.

Nhạc tuôn chảy như thế, nên rồi có lúc người ta phải cho nhạc ‘trôi’ qua một giòng thác, có tên là cadence, để kéo nó ... dzìa nhà. Cadence là lúc dòng nhạc tuôn xuống, rớt xuống tonic note ! Khi tuôn rớt như thế nó tạo cảm giác thoải mái an bình, khỏe khoắn lỗ tai và yên ổn cái bụng !
Dòng nhạc tây phương (với tonic tone) ta nghe hầu như mỗi bữa thành quen thuộc, nên rồi có nhận diện cadence cũng dễ dàng hổng ngờ (ngay cả với những người thiệt sự ... mù nốt !) Tỉ dụ như trong key F minor, khi dòng nhạc rớt trên thác và trôi tuột về ‘nhà’ tạo cảm giác thiệt ... khỏe re. Bảo đảm đây chính là lúc ta nghe được nốt F hay F minor triad của home key (tức F minor).

Dĩ nhiên nhạc ở đây là nhạc tây phương. Ta nghe riết quen rồi tưởng tự nhiên, chớ thiệt ra vì lỗ tai đã học tập rồi ghi dzô bộ nhớ (y chang như phản xạ Pavlov vậy) mà ta vô tình hổng biết. Người chỉ biết cổ nhạc và hệ thống ngũ cung, chưa từng nghe tân nhạc bao giờ, thì bảo đảm chắc chắn sẽ nhận hổng ra cadence là cái cẳng !

Tấu khúc thường được gọi tên theo home key (hay tonic key). Thí dụ Concerto in D major, Symphony in B flat major ... Vậy rồi cả tấu khúc viết hoàn toàn bằng key này chăng ? Làm gì có vậy người ơi ! Ở những tấu khúc dài, chỉ có chương đầu và chương cuối (dịch từ chữ movement) là viết theo tonic key. Ngay trong cả các chương này, lắm khi key nhạc cũng được modulate (modulate tức là để nhạc chạy từ key này sang key khác).

Modulation là thay đổi, biến hoá dòng nhạc, với mục đích tránh nhàm chán, hay hơn thế nữa, là để diễn tã những trạng thái tình cảm khác nhau. Nhưng ... modulate tùm lum cách nào đi nữa thì, sau cùng, dòng nhạc bao giờ cũng trở về lại original tonic key ở cuối mỗi movements, và còn ở phần nhạc kết thúc trong movement cuối cùng hay trong coda nữa.

* * *

Dài dòng về tonality như vậy rồi thì sang tới atonality có ngắn gọn cũng vẫn hiểu được.
Atonality là hổng có trục trung điểm (tonal center, tonic key).

Scale nhạc thay vì chia thành 12 nốt với giá trị khoảng cách khác biệt (1 tone và ½ tone) nó lại được chia thành 12 nốt đều nhau, với giá trị ngang nhau (tương đương với ½ tone). Do đó hổng còn tonic, dominant, leading gì ráo nữa. Vương quyền bị phá xập, các nốt nhạc vùng lên làm cách mạng đòi giải phóng. Dân chủ thành hình, 12 nốt nhạc đứng hàng ngang giống hệt như nhau, và được kêu bằng chromatic scale.
Atonality chỉ có nghĩa là thiếu tonality. Gọi như thế kể ra hổng đúng, Schoenberg, người khai sáng ra ‘atonality’ đã cực lực phản đối cách gọi này. Ông đặt cho nó cái tên đàng hoàng và chánh xác The 12-tone- system.


Tonal hổng đồng nghĩa với êm tai consonant, lại càng hổng có nghĩa là hay đẹp. Do đó atonal hổng đồng nghĩa với chói tai dissonant, lại càng hổng có nghĩa là xấu xí. Nghệ thuật và thực tế y chang hai mặt khác biệt của cùng một vấn đề, tùy thuộc góc nhìn mà có thay đổi, thành ra rồi chuyện tuyệt đối giữa tonal và atonal dĩ nhiên là hổng có rồi.

Phần lớn nhạc của Bartók có vẻ như atonal, không major minor chi ráo, nhưng nghe kỹ thì thấy chúng dám tonal hổng chừng. Rồi người ta ghép chữ, gọi cái màn tranh tối tranh sáng ni là Chromatic Tonality. Vẫn có trục trung tâm đó chớ, nhưng cái trục ni nó lềnh lệch hổng binh thường !

Charles Ives, Igor Stravinsky và những nhà soạn nhạc khác, đã mạo hiểm với polytonality, nghĩa là dùng nhiều trục trung tâm cùng một lúc. Nhạc xoay tứ phương tám hướng bất kể vì thiếu trục, hay nhạc xoay tùm lum chung quanh nhiều trục, theo ý kiến ruồi bu của tui, cả hai đều vất vả khó nhá, nhức đầu đau tai thốn củ tỉ y chang nhau (hổng có vợ khổ đã đành, mà nhiều vợ còn khỗ dữ hơn nữa lận !)

Tonal và atonal có giá trị riêng trong từng trường hợp riêng. Tonality tạo an bình, ta biết ta đang làm gì và có thể đoán trước được chuyện gì sẽ xảy ra (rằng dòng nhạc có thể sắp đi tới kết thúc). Atonality trái lại thường gây cảm giác bất an, hốt hoảng nữa hổng chừng (dòng nhạc của Schoenberg, Webern và Berg vì thế chứa đầy những sợ hãi bối rối lẫn những bí mật hoang mang)
Thế nhưng...

Thi văn và âm nhạc đều là nghệ thuật của cuộc sống, nhằm diễn đạt những tình cảm thiệt sự của tâm hồn, mà tâm hồn của con người thì đâu phải lúc nào cũng êm ru và phẳng lặng ! Lắm khi nó phức tạp rắc rối quá xá, mưa gió bão bùng, sám chớp rền vang, chẳng biết đâu rờ nữa ! Thành ra rồi các chuyên gia tâm lý mới có việc để mần (và có lương để sống). Vì rằng ... tonality, polytonality hay atonality đều là chuyện đời thường, là trạng thái nội tâm ngó chừng ai cũng có ráo trọi !
___________________________-

Bài viết của Mme Ngo

Apomethe
03-11-2006, 03:00
Nhạc cổ điển



Âm nhạc là kết hợp của âm thanh. Một bà vợ đang ‘hát hò’ cho chồng nghe mệt nghỉ hay con chó đang tru, cả hai cùng mần chuyện kết hợp âm thanh, nhưng ta không gọi là âm nhạc vì chuyện thẩm mỹ không hề có. Thành ra chuyện kết hợp ở đây là chuyện hay đẹp, êm ái du dương, tạo rung động và gây xúc cảm nơi người nghe nhạc. Nếu bản nhạc dễ nhớ nữa thì a lê hấp người ta sẽ hào hứng ngân nga nó với cả trái tim thổn thức mơ màng.

Ca khúc có lời khác với tấu khúc chỉ viết cho nhạc cụ. Ca khúc diễn tả rõ ràng cái ‘ý đồ’ của người soạn nhạc. Vì diễn tả thế nên ca khúc mang tính ‘áp đặt’, nhạc sĩ viết lời ra sao thì thính giả phải hiểu y chang vậy. Nếu muốn tưởng tượng, cứ mắm muối hoa lá cành chút đỉnh, nhưng cũng phải có giới hạn, ca khúc do đó là một hình thức ‘tự do trong khuôn khổ’. Nghe bài hát ‘Xuân này con hổng dzìa’ thì một đứa dù cà chớn cách mấy cũng có thể sẽ nhớ mẹ vàn trời mây nếu thực sự nó đang xa mẹ. Chẳng may mẹ nó đứng chình ình kế bên thì vì cảm xúc, nó có thể chuyển vụ nhớ mẹ thành nhớ bà nội bà ngoại, nhớ cô nhớ dì. Nhớ ai cũng đặng nhưng nó không thể nhớ người yêu được, nhớ vậy là trục trặc hết ý, cần phải có ý kiến của BS tâm trí liền tù tì !

Tấu khúc không có lời, và vì không có lời nên tạo cảm nhận và cảm xúc khác nhau tùy trạng thái tâm hồn của người nghe nhạc lúc đó. Theo cách ấy, nhạc không lời kích thích giác quan và tăng trí tưởng tượng, làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần.

Nhạc cổ điển phần lớn không có lời, trừ operas, cantatas, lieder vv.. Vì không lời nên thường khi khó nghe, đòi hỏi nhiều kiên nhẫn tìm hiểu lúc đầu. Dĩ nhiên tìm thì sẽ hiểu, và hiểu thì sẽ dễ dàng hơn. Thiệt ra cũng chẳng cần hiểu, chỉ cần thích là đã đủ để thưởng thức nhạc cổ điển. Thích rồi thả hồn bay bổng theo dòng nhạc. Trờiiii, phê hết biết nha !!!
Vậy rồi nhạc cổ điển là gì ? Nhạc cổ điển là một hình thức âm nhạc chưa hề biến dạng fantaisy như những loại nhạc sau này. Nhạc cổ điển viết làm sao phải được chơi y chang làm vậy. Leonard Berstein giải thích cho con nít như thế này về nhạc cổ điển : Classical music is the ... exact music !

Thế thì nó khác những loại nhạc còn lại ra sao ?
Xã hội tiến triển. Hồi xưa cái chi cũng thủ công nghệ, tỉ mỉ tẩn mẩn tốn thì giờ. Rồi công nghiệp tiến hoá biến sản xuất thành hệ thống dây chuyền, sản phẩm hoàn thành do đó nhanh, đồng loạt và chính xác. Lượng sẽ ê hề và giá thành sẽ hạ. Việc tiêu thụ sản phẩm do đó cũng đại chúng hơn.

Âm nhạc không thoát khỏi cách thức tiến hoá này, nhưng ... than ôi, âm nhạc là công việc của trí tuệ. Nhanh lẹ, ê hề, đồng loạt mà áp dụng cho trí tuệ thì trí tuệ sẽ máy móc hay đông đặc lại hổng chừng. Âm nhạc dám có nguy cơ ... thụt cấp !

Nhạc hiện đại ngó chừng giản dị và dễ dàng so với nhạc cổ điển (sách vở biểu vậy nha, chớ một đứa ấm ớ như tui thì nhạc hiện đại cũng khó lắm lận). Cầm một bản nhạc lên, lời có sẵn khỏi mất công suy nghĩ. Thể điệu cũng sẵn luôn (bolero tango..) Nếu cần sẽ có người hoà âm. Có khi hoà âm viết luôn trong bản nhạc, dân a-ma-tơ cứ tà tà theo đó mà đệm. Nhạc hiện đại là một hình thức fast food, mì gói nấu ăn liền, nên không cầu kỳ đòi hỏi nhiều công sức của cả người nghe lẫn người viết và người chơi nhạc. Ở đây âm nhạc thiệt sự mang tánh cách ... giúp vui.
Nhạc cổ điển thì không vậy được. Trình độ hiểu biết sâu rộng phải có ở cả người viết nhạc lẫn người chơi nhạc (người nghe nhạc thì có thể được miễn). Một bản nhạc cổ điển giống như một chiếc Rolls-Royce, nghĩa là được sản xuất từng cái riêng biệt. Giá thành dĩ nhiên sẽ đắt. Vì đắt nên chuyện đại chúng sẽ giảm. Thiếu đại chúng nên rồi lắm khi cái Rolls xuất hiện ngoài đường, nhơn loại có tò mò ghé mắt dòm chơi, dòm xong rồi lỉnh mất, vì có khoái cũng với hổng tới !

Ví âm nhạc với xe thì trần tục quá thể ! Rolls với hổng tới nhưng nhạc cổ điển thì với dư sức và tới cái ào. Nhà soạn nhạc cổ điển là nghệ nhân tỉ mỉ, nặn tim nặn óc làm từng bộ phận rồi ráp chúng lại thành cái Rolls. Nhạc sĩ trình diễn là tài xế được huấn luyện thuần thục để lái chiếc xe đó. Và cha nội nghe nhạc là khách quá giang. Có ngồi trên xe chả mới thấy được hết cái đẹp bên trong, thưởng thức hết những tiện nghi tối tân do chiếc Rolls mang lại. Rồi chả có quyền thiu thiu mơ màng với bao mộng đẹp !

Nói vậy không quá lời nha. Khi nghe dàn nhạc trình tấu, bạn phải hiểu rằng nhà soạn nhạc đã một tay viết tất cả các phần, từ A đến Z cho toàn bộ dàn nhạc. Phối âm cũng chàng mà phối khí cũng chàng luôn. Khơi khơi vậy sợ chưa đúng ý, chàng còn cẩn thận dặn dò luôn cả cách diễn tả dòng nhạc và cả cách chơi từng nhạc khí nếu cần. Thời xưa việc in ấn chưa hoàn chỉnh, dám chàng còn chạy lăng xăng lòng vòng ở nhà xuất bản, coi sóc cực kỳ cẩn trọng đặng khỏi hồi hộp vụ thiếu chữ hay sai nốt (tai nạn chẳng may xảy ra rồi, có sửa được cũng ứ hơi !)
Vậy rồi nhạc cổ điển là nhạc xưa chăng ? E hổng vậy. Một nhạc sĩ thời nay nếu viết một tấu khúc cho toàn dàn nhạc (thính phòng hay giao hưởng) cũng từ A tới Z thì chả hổng viết nhạc mô-đẹc nha. Chả đang viết The Exact Music tức nhạc cổ điển đó vậy. Nhạc của chả mới toanh cáo chỉ, nhưng do cách sáng tác và trình bày, nó vẫn thuộc vào dòng nhạc cổ điển như thường, cho dù tuổi đời của nó hổng cổ gì ráo !

So sánh phẩm và lượng thì thời nay cái chi cũng nhanh chóng gọn lẹ, nhạc ‘fast food’ y hình hợp khẩu vị của giới thưởng ngoạn hơn. Thấy vậy mà hổng phải vậy. Nhạc cổ điển như cô gái diễm lệ đức hạnh đoan trang đứng sau cái cổng thiệt kín và cái tường thiệt cao. Nàng đứng đó chờ người quân tử. Nếu gõ bạn sẽ được mời vào, rồi chịu khó kiên nhẫn trò chuyện một hồi, tui dám cá chắc, rằng nàng sẽ thò tay ra cho bạn nắm đỡ.


* * *

Lòng vòng vậy rồi nhạc cổ điển thực sự là gì ?
Cùng với Opera và Ballet, nhạc cổ điển trước đây vẫn được coi như dành riêng cho giới thượng lưu trưởng giả. Từ khi radio và truyền-hình xuất hiện, chuyện thưởng ngoạn nghệ thuật đã lan rộng và từ từ trở thành đại chúng.
Đúng ra phải gọi là nhạc cổ điển tây phương để phân biệt với cổ nhạc – cổ nhạc của Việt nam mình thôi, còn mấy nước khác tui mù tịt – Nhạc cổ điển tây phương xuất hiện đã lâu lắm rồi, còn cổ nhạc của mình e rằng chưa cổ gì mấy, và trong khuôn khổ bài viết này tui làm bộ lơ nó đi.

Đôi dòng khái niệm.
Âm nhạc không phải là công việc của trí tuệ mà là của cảm nhận vì nó thành đạt và diễn tả cảm xúc. Đọc sách nhưng nghe nhạc. Nghe mới thưởng thức được cái hay của nhạc. Nghe nhạc là cả một nghệ thuật và ngó bộ hổng ngon ơ như người ta hằng tưởng, rằng chỉ việc mở lên rồi nghe khơi khơi. Mỗi ngày chúng ta nghe biết bao là nhạc phát từ la-dô TV và từ những dàn máy tối tân, nhưng e rằng chúng ta hổng thưởng thức nhạc. Cái sự nghe ni nó phiến diện, bởi nó chạy vào tai phải và ra bằng tai trái liền tù tì. Khi nó vào xong rồi ù lì đóng trụ và tạo cảm xúc thì mới đích thị là chuyện thưởng thức. Theo cách ấy thì thưởng thức nhạc là cả một nghệ thuật cần phải học hỏi và luyện tập lâu dài.

Vì nhạc cổ điển không có lời nên rồi chuyện nghe và cảm nhận có khó khăn lắm chăng ? Để kích thích và phát triển nghệ thuật thưởng thức nhạc cổ điển, một số nguyên tắc căn bản đã được đề ra :
- Nghe bài nhạc càng lâu càng tốt để nó thấm vào linh hồn và vào cả trí khôn.
- Lắng nghe cái âm điệu của bài nhạc, khúc nào thích thì đoán coi nó được chơi bằng nhạc cụ gì ?
- Tưởng tượng trong đầu những hình ảnh do bản nhạc tạo nên.
- Tưởng tượng tác giả đang nghĩ chi lúc viết ra nó.
- Để ý khi nào thì tiết điệu thay đổi, và tại sao ?
- Tìm hiểu, nếu được, khung cảnh, thời gian và lý do bài nhạc đã được sáng tác.
- Nên cố gắng tìm thời gian để nghe nhạc thêm lên mỗi ngày.

Những nguyên tắc ni thực ra không đáp ứng được hết mọi khía cạnh của nghệ thuật thưởng thức, nhưng chúng giúp bạn nghe được nhạc lâu hơn mà không bị chán hay bồn chồn – chờ bài nhạc hết lẹ để coi như ... xong nợ !
Thưởng thức nhạc là ‘đi’ cùng với nhạc, chớ hổng phải hì hục ‘chạy’ theo nó – chạy như thế mệt chết bà ! Các nguyên tắc trên làm bạn tưởng như muốn nghe được nhạc thì phải tốn sức lao động lắm lận, thành tội chi mà cực khổ dzậy trời !
Kể ra chuyện cực khổ (nếu quả thiệt có thì) nó đáng đồng tiền bát gạo lắm nha. Vì rằng âm nhạc là một trong những điều thiết yếu căn bản, tạo những đáp ứng cảm tính, kích thích giác quan, và do đó như đã nói, làm cuộc sống con người trở nên phong phú gấp bội.

Âm nhạc là ngôn ngữ chung của nhơn loại. Người chơi nhạc và người viết nhạc không cần có cùng quốc tịch mà vẫn cứ hiểu nhau như thường. Ngay cả giữa các thính giả, họ cũng cùng hiểu như đang nghe chung một thứ tiếng mà hổng cần phải ra dấu hay lớn lời !
Nhạc loại nào, ra sao thì còn tùy. Tùy gu và tùy cái duyên của bài nhạc với người nghe nhạc. Bạn nghe Bach Handel Mozart Beethoven, nhưng cùng lúc bạn vẫn khoái bài ‘Bao giờ biết tương tư ’ vì nó làm bạn nhớ tới tình yêu thuở đầu đời (Ôi con nhỏ ngộ thiệt nhưng cà chớn thấy bà. Mèn, hồi đó mình còn ngây thơ lắm lận !)

Muốn nghe nhạc cho đúng nghĩa thưởng thức thì phải chọn nhạc, nếu thấy phê thấy thấm là đã chọn đúng. Phải ý thức chuyện chọn lọc nhạc mà nghe, vì nếu để người khác chọn dùm thì hỏng bét !
Nhưng rồi cái vụ chọn dùm cứ xảy ra hoài hà, thành mới có chuyện để nói. Chẳng hạn trên đường tới sở, mở la-dô bỗng nghe bài Viennese Waltz do dàn Mantovani ấm ớ chơi, thay vì dàn đại hoà tấu Vienna Philharmonic Orchestra. Nghe thế tấm tức chết mồ. Đó là bản nhạc quen thuộc nổi tiếng mà ta vì có duyên nên đã rành rọt. Nếu chưa có duyên quen trước thì lắm khi ơ hờ lơ là, dám còn ghét luôn cả bài nhạc hổng chừng. Với người viết nhạc (và viết hay) hổng có mợ chợ vẫn đông như thường. Với người nghe, ghét như vậy quả là thiệt thòi, vì đã để lỡ mất một dịp quen với người chưa hân hạnh được quen, mà lại rất có thể là người lý tưởng hổng chừng, vì nàng vừa đẹp vừa ngoan và dám lại vừa giàu có nữa là khác ! (nàng có thiệt hông, ai biết nàng ở đâu làm ơn chỉ dùm, tui sẽ xin hậu tạ xứng đáng)

Các tay chọn nhạc trong la-dô thường chia nhạc thành ba nhóm : Nhạc cổ điển, nhạc giải trí và nhạc pop. Chia như thế hổng ổn, vì với người này là nhạc giải trí nhưng với người kia lại không. Ngay cả chữ cổ điển cũng đã là sai bét. Cổ điển là một giai đoạn thời gian kéo dài khoảng 80 năm ở cuối thế kỷ 18, đây là thời khắc Haydn và Mozart nổi tiếng nổi tăm. Nhạc lúc này được viết theo đúng bài bản luật lệ. Nhạc cổ điển tiếp tục được gọi là cổ điển sau này vì nó không fantaisy, nó chỉ có nghĩa là nhạc thuần túy chưa biến dạng (như những loại nhạc có tên gọi là jazz, blue, pop ... )

Một câu hỏi hay được đặt ra : Lúc nào thì bạn bắt đầu biết nghe và biết thưởng thức nhạc ? Trả lời được câu hỏi ni hổng dễ ăn. Trước hết phải nhìn nhận rằng người mù tịt về âm nhạc khó có thể thưởng thức nhạc cho tới nơi tới chốn. Thành ra rồi muốn nghe nhạc đúng bài bản thì phải học là dzậy. Học ở đây có thể chỉ là lý thuyết (nhạc lý) có thể là cả lý thuyết lẫn thực hành (chơi nhạc cụ), học nhiều học ít tùy theo điều kiện và khả năng, miễn sao dùng nó để thưởng thức âm nhạc đúng cách và tường tận.

Dĩ nhiên có học thì tốt nhưng rồi hổng có cơ hội học thì sao đây ta ơi ? Thì cũng thưởng thức được nhạc vậy và lắm khi còn thưởng thức một cách thông minh ngon lành nữa là khác. Vì phải tự biên tự diễn nên đường đi ngó bộ lồi lõm gian truân hơn, nhưng lễ tốt nghiệp chắc chắn sẽ có khúc khải hoàn ca, chơi tutti với toàn dàn nhạc !
Để biết âm nhạc ta cũng nên biết chút ít về lịch sử của nó. Lịch sử âm nhạc là cửa ngõ mở đường để ta đi vào và hiểu rõ hơn thế giới kỳ diệu này. Sững sờ và thích thú biết bao khi biết rằng các tác phẩm vĩ đại của Beethoven đã được viết ra khi ông bắt đầu bị điếc, rồi lại biết rằng Bach và Beethoven sống cách nhau độ nửa thế kỷ – tác phẩm cuối của Bach cách tác phẩm đầu của Beethoven đúng 50 năm – có nhiều nhặn chi cho cam, vậy mà nhạc của họ đã khác xa nhau lắm lận !

Ngoài lịch sử về âm nhạc, người nghe nhạc cũng nên biết chút ít về cấu -trúc thể-loại, về tiết-tấu âm-điệu của bài nhạc vv.. Thông thường tiết tấu cùng âm điệu đi song song và quan trọng ngang nhau. Nhưng ( ôi, những cái nhưng làm rối rắm cuộc đời !) đôi khi tiết tấu đã làm thăng hoa âm điệu. Thí dụ điển hình nhứt về việc thăng hoa này nằm trong bản Bolero của Maurice Ravel.


* * *

Bolero, bạn đã nghe nó chưa vậy hè ? Dám nghe hoài rồi mà hổng biết nha. Năm 1976, Uỷ ban thể thao thế vận Olympic comity đã cho thêm vào lịch trình tranh tài của bộ môn Figure Skating một môn thi nữa là Dance on ice. Dance on ice đúng như tên gọi chỉ là một hình thức Ballroom trên băng không hơn không kém. Bộ môn này trước nay vẫn luôn luôn bị Liên bang Sô viết khống chế. Mãi tới năm 1984 thì gió đổi chiều, huy chương vàng thế vận và thế giới cùng năm lọt vào tay Torvill & Dean của Anh-quốc. Họ chọn bản nhạc Bolero làm nhạc nền và đã đoạt điểm tối đa 6.0 của toàn hội đồng giám khảo quốc tế.

Maurice Ravel (1875-1937) là dân Phú lang xa chánh thống nhưng có tin đồn, sai đúng hổng rõ, rằng ông có máu do thái chút đỉnh. Ravel là học trò của Fauré. Ngộ cái St-Saens, thày của Fauré, lại coi Ravel như pha, lý do hổng rõ !
Thời gian cuối của cuộc đời, do bịnh tật, Ravel về sống ẩn dật tại một vùng quê hẻo lánh ở ngoại thành Paris. Hồ sơ bịnh lý của Ravel không rõ ràng, người ta không tìm ra lý do giảm trí nhớ và triệu chứng run tay chơn ( parkinsonism chăng ?). Sau một cuộc giải phẫu não bộ thất bại, ông hôn mê và qua đời năm 62 tuổi. Một vài chuyên gia y tế sau này võ đoán, rằng có thể đây là dấu chứng của Alzheimer không chừng. Mãi tới lúc chết Ravel vẫn cứ độc thân ! Sau này người ta nghi ngờ rằng Ravel có thể là dân ‘vòng kiềng’ (tức hổng ... thẳng !)

Bản Bolero được viết cho vũ công Ida Rubenstein trình diễn tại Hí viện Paris Opera ngày 20 November 1928. Đây là một điệu nhảy, dĩ nhiên, và thoạt tiên được Ravel đặt tên là ‘ Vũ điệu gọi mời ’(dance lascive, lewd dance). Khán giả chưng hửng ngạc nhiên cũng có, mà say mê thôi miên cũng có luôn, vì tính cách ‘gọi mời’ trong các động tác được coi là quá táo bạo của các vũ công thời đó.

Bolero thực ra chỉ là một đoạn nhạc ngắn được lập đi lập lại tổng cộng cả thảy 18 lần, càng lúc càng to và nhanh. Nó là một khúc crescendo liên tục trong khoảng 15 phút. Đến gần cuối bài xuất hiện vài đoạn chuyển ngắn chơi bằng giàn kèn mang âm hưởng Jazz (Ravel bị ảnh hưởng trong thời gian lưu diễn tại Mỹ chăng ?) rồi nó bỗng ngưng ngang đột ngột và chấm dứt cái rụp.
Kết thúc lạ lùng vậy nên khán thính giả hết hồn ngẩn tò te, chẳng hiểu ất giáp chi, có người còn la làng rằng nhạc viết chi mà kỳ cục quá xá ! Nhưng rồi bài nhạc lại được ca ngợi hổng ngớt, tới độ cha đẻ của nó cũng ngạc nhiên. Để đáp lễ lại những lời khen tặng, Ravel chỉ nhũn nhặn (Ôi ông Ravel xưa rày vẫn nhũn nhặn có tiếng), rằng nó đang à la mode nên om xòm vậy thôi chờ sẽ hổng thọ lâu đâu ! Khi được hỏi trong các tác phẩm của mình Ravel ghét bài nào nhứt, dà, ghét nhứt bản Bolero bất hủ đó nha, kỳ hông ?
Cho tới nay, trong lịch sử âm nhạc, Bolero vẫn là một trong những bản nhạc đứng đầu với số lần thu âm kỷ kục.

Nếu bạn chưa từng nghe và có ý định sẽ nghe nhạc cổ điển, tui nghĩ Bolero là một tấu khúc lý tưởng để bắt đầu. Chơi Bolero hay nhứt có lẽ là dàn Montreal Symphony Orchestra do Charles Dutoit điều khiển. Vụ ni chắc cũng có thiên vị ít nhiều vì Dutoit với tui vốn là chỗ quen biết cũ – Ôi con tim có những lý lẽ riêng của nó vì nó đi nghe Dress Rehearsal của chả hoài hà - Dutoit gốc Thụy sĩ, tuy tài nghệ đầy mình nhưng tánh tình độc đoán nên mất lòng người (tức các nhạc công chơi cho orchestra) rồi bị họ biểu tình làm áp lực tẩy chay, ông bò đi và về với Philadelphia Orchestra một thời gian. Hiện nay Dutoit đang điều khiển Totonto Philharmonic Symphony Orchestra.

Violinist ý-tà-lồ Salvatore Accardo có thâu âm 6 bản violin concertos của Paganini cùng dàn nhạc London Symphony Orchestra do Dutoit điểu khiển. Serie này rất xuất sắc, đáng đồng tiền bát gạo lắm lận, ai chưa nghe nên nghe cho biết. Quảng cáo không công cho chả coi như trả nợ tình xưa.
Amen !
____________________________

Bài viết của Mme Ngo

Apomethe
03-11-2006, 03:04
Thời Baroque

Thời Baroque tiếp nối thời Phục hưng và được coi như thời đại hoàng kim của âm nhạc.
Khởi đầu vào đầu thế kỷ thứ 17 và kết thúc vào năm 1759 với cái chết của G.F. Handel.
Tuy vậy, một số nhà sử nhạc lại cho rằng thời Baroque kết thúc năm 1750 với cái chết của J.S. Bach.

Bach và Handel sanh cách nhau 1 tháng, tuy nhạc mỗi người mỗi vẻ nhưng dòng nhạc của họ điển hình đến độ nếu tách họ riêng ra thì dòng nhạc Baroque thời đó ngó bộ chẳng còn chi nữa hết. Đây là thời của những tác phẩm đồ sộ về phẩm lẫn lượng cho violin và ngay cả cho opera (arias)
J.S. Bach (1685-1750) : người đức. Thuở nhỏ hát ca đoàn, học violin và viola với thân phụ. Mồ côi khi lên 10, về sống chung và học nhạc với chú ruột Johann Christoph. Người vợ đầu là một cô em họ. Vợ mất, kết hôn với Anna Magdalena, A.M là nguồn cảm hứng sáng tác của Bach. Ông có tổng cộng 20 người con, không một ai có khả năng nối nghiệp bố. Bach mù vào năm 1749, ông xui xẻo không mấy được biết tiếng, sống và chết đều im lìm, tài hoa bạc mệnh. Ác liệt là trong giờ phút sau cùng của cuộc đời lúc nằm chờ chết Bach đã vẫn còn đọc nhạc cho con rể ghi chép !
George Frideric Handel (1685-1759) : người anh gốc đức. Năm 12 tuổi khi còn ở Đức, đã được chọn chơi organ cho Vương cung thánh đường. Sau này học luật và sang Anh. Nhờ viết được 1 vở opera cho nữ hoàng Ann trong vỏn vẹn có 14 ngày, ông được nữ hoàng quí trọng và đặc cách phát lương trọn đời. Sau này còn được vua George I làm màn tăng lương. Trước tác của Handel rất đồ sộ : 46 vở operas, 32 oratorios (sẽ cắt nghĩa sau cái vụ này) và rất nhiều tác phẩm khác viết cho dàn nhạc . Sống độc thân, cuối đời ông cũng bị mù, chết và được đặc ân chôn trong Tu viện Wesminster (là nơi chỉ dành riêng cho hoàng gia Anh quốc)


Nói ví von thì vầy nè : Nếu nhạc thời Phục Hưng tài tử (VC kêu bằng không chuyên) thì thời Baroque nhạc đã thành chuyên nghiệp. Các nhà soạn nhạc thời Baroque thừa hưởng di sản tài tử của các ‘nghệ nhân’ thời Renaissance, công nghiệp hóa âm nhạc một cách tinh xảo để nhạc biến thành nghệ thuật thứ thiệt và hàng đầu.
Barocco trong tiếng Portuguese là 1 viên ngọc trai đã được công phu mài dũa. Baroque tiếng pháp dùng để chỉ một kiểu kiến trúc và trang trí theo mode âu châu khi ấy, nhứt là tại Ý vào đầu thế kỷ 18-19. Các nhà sử nhạc đã xài luôn chữ Baroque ni cho âm nhạc cùng thời.

Soạn nhạc gia thời Baroque rất đông. Cũng như Bach và Handel, họ phần lớn là người Đức. Tuy vậy có những tên tuỗi đáng kể của Ý :
Antonio Vivaldi (1675-1741) : với 4 bản concertos lẫy lừng the Four seasons và khoảng 500 tác phẩm tương đương cho đủ loại nhạc cụ như bassoon, picolo, trumpet, oboe, mandolin, violin ...
Arcangeco Corelli (1653-1713) và học trò là Francesco Germiniani (1687-1762) nổi tiếng với các tác phẩm soạn cho vĩ cầm (cả hai đều là violonists)
Giuseppe Tartini (1692-1770) : là tay violonist nổi tiếng lẫy lừng thời ấy. Thoạt tiên ông đi tu, rồi xuất và theo học luật, sau đó thì gia nhập quân đội, ông học nhạc thời gian này rồi nghiêng hẳn về vĩ cầm và giảng dạy. Tuy bị Hồng y Cornaro phản đối, ông cứ ngon lành nhứt định lấy cháu gái của ngài Hồng y (cà chớn). Cornaro giận dữ ký trát tống giam ông, gia đình Tartini xấu hổ về việc này nên cúp trợ cấp tiền bạc. Bí quá Tartini buộc phải vào nương náu trong dòng tu khổ hạnh St François d’Assi. Tại tu viện này Tartini đã thiện nghệ và điêu luyện hoá tiếng đàn của mình - cái ‘bow’ của đàn violin cũng được ông hoàn chỉnh trong thời gian này. Năm 1715 lúc được Cornaro ân xá ra khỏi tu viện thì tên tuổi ông đã vô cùng lừng lẫy.

Thời gian này hai nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh cho clavier (nhạc cụ tiền thân của piano) là François Couperin –Pháp (1668-1733) và Dominico Scarlatti – Ý (1685-1757). Dominico Scarlatti viết tổng cộng 150 oratorios, khoảng 600 cantatas, nhạc thính phòng (chamber music) vv .... Cha của Dominico là Alessandro Scarlatti (1660-1725) đã viết hơn một trăm tác phẩm cho opera là người đã có công rất lớn trong việc phát triển ngành nghệ thuật này.

Vài tên tuổi đáng nhớ khác : Francesco Durante, Baldassare Galuppi, Leonardo Leo và Giovanni Battista Pergolesi. Tất cả đều là người Ý. Một số nhạc của Pegolesi đã được Igor Stravinsky phóng tác và xử dụng sau này.
Jean Philippe Rameau (1683-1764) một nhà soạn nhạc nổi tiếng khác của thời Baroque, người Pháp. Nhạc ông viết rất sống động và phong phú. Cái đáng nói chính ông là người tiền phong trong việc đưa ảnh hưởng Baroque vào âm nhạc Pháp lúc bấy giờ. Thoạt tiên Rameau học nhạc với các nhạc sĩ Ý, nhưng rồi vì không thích nên ông trở lại Pháp dạy nhạc và chơi organ trong nhà thờ d’Avignon và bằng cách ấy sắc thái Baroque đã theo ông vào Pháp.
Cũng thế, ảnh hưởng Baroque đã theo Heinrich Schutz – Đức (1585-1672) và Dietrich Buxtehude – Thụy Điển (1637-1707) mà lan khắp Âu- châu. Handel năm 1706 lúc 21 tuổi đã qua Ý học nhạc trong 3 năm, nên rồi mặc dù nhạc Handel có phong thái riêng, nhưng mọi người không thể phủ nhận rằng trong nhạc Handel hơi hướm Ý ít nhiều có phảng phất.

Nhạc Baroque sống động và có pulse. Bây giờ ngườ ta chế ra nhịp và gọi nó là beat rồi cứ tưởng là đang sáng tạo, thực ra nó chính là pulse trước kia. Nhạc của J.S. Bach viết cũng đầy beat ra đó, bạn nghe thử khắc biết. Chính cái sáng tạo trong nhạc của Bach đã làm nhạc của ông trở thành bất tử. Lúc viết nhạc Bach chỉ viết cho những nhạc cụ thời ấy, nhưng sau này cho dù nó được trình diễn bằng bất cứ nhạc cụ nào piano, ghi-ta điện, hay ngay cả bằng các dụng cụ điện tử thì nó vẫn thích hợp như thường, ác liệt là thế !


* * *


Các hình thức âm nhạc thời Baroque .

Thời Baroque nhạc chẳng những phong phú về phẩm lượng mà còn mang tính đa dạng, viết cho nhiều bè và nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Một số sau này đã biến dạng, một số vẫn giữ y sắc thái ban đầu . Xin kể đại khái như sau :

Oratorio : Thánh nhạc viết cho solo, ca đoàn, dàn nhạc hay đôi khi cho organ. Khác với opera, oratorio không bao giờ đuợc trình diễn trên sân khấu kịch nghệ mà chỉ ở những buổi mục vụ hay hòa nhạc trang trọng trong giáo đường.
Những tác phẩm nổi tiếng tiêu biểu cho oratorio :
Haydn : The Creation, The Seasons .
Handel : Messiah
Mendelssohn : St Paul, Elijah
Berlioz : Enfance du Christ
César Frank : Béatitudes
Elgar : Dream of Gerontitus
Stravinsky : Oedipus Rex (opera-oratorio)

Aria : Aria trong tiếng Ý có nghĩa là air (tức melody) Aria so sánh như một bài diễn văn dài và quan trọng, được hát lên trong nhạc kịch opera hay được solo trong oratorio (nghĩa là trong giáo đường)

Recitative : Từ chữ recitare trong tiếng latin, có nghĩa là kể chuyện. Nó chính là bài hát mào đầu luôn luôn đi trước một Aria hay Opera hay Oratorio.

Concerto : Trong tiếng ý có nghĩa là concert. Concerto viết cho một nhạc cụ solo cùng dàn nhạc. Thoạt tiên lúc phát sanh vào thời Baroque nó có tên là Concerto Grosso (great concerto), khi ấy nó viết cho một nhóm nhạc sĩ chơi cùng một loại nhạc cụ với cả dàn nhạc hòa theo, sau này thì biến thể đi và chỉ còn một nhạc sĩ solo duy nhứt mà thôi . Violin Concerto của Beethoven (Beethoven chỉ viết một bản concerto duy nhứt cho vĩ cầm và là tác phẩm vĩ dại nhứt cho tới nay chưa ai có thể qua mặt được, theo ý riêng tui) The 1st Piano Concerto của Tchaikovsky. Mozart viết 27 bản Piano Concertos bản nào cũng xuất sắc (ông còn đặc biệt viết cả concertos cho piano chơi duo nữa)

Fugue : Thể loại nhạc này đã vẫn giữ nguyên hình thức mãi cho tới nay, nguyên ngữ latin là fuga nghĩa là bay bổng (flight – thiệt chính xác !) Nhạc trong Fugue đã được chắp cánh bay lên bằng nguyên tắc counterpoint (tui đã dịch counterpoint là chõi hay đối trong bài viết trước, nhưng xin thú thiệt là tui không bằng lòng lắm chữ này, ai có ý kiến chi không ?)

Nguyên tắc này là bài nhạc được chơi hay hát với hai hay nhiều giọng khác nhau để làm nổi bật âm điệu chính. Thể loại Fugue thiệr ra không giản dị, nó có thể có tới 5 bè riêng rẽ quyện với nhau mặc dù không nhứt thiết chúng phải bắt đầu và kết thúc cùng một lúc. Mỗi bè có âm điệu riêng và hát theo cách đối đáp. Thí dụ sau đây cho thấy cách thức chính xác của một fugue 4 bè :
Soprano : Giọng chính, hát phần nhạc căn bản, nhạc đề của bản nhạc.
Contralto : Giọng nhì, hát lại (hay hát trả lời) bè chính theo nhạc đề.
Tenor : Giọng ba vào nhạc và xướng lên lại nhạc đề
Bass : Giọng tư hát lại (hay hát trả lời) bè ba ...

Thông thường thì Soprano và Contralto dành cho giọng nữ, còn Tenor và Bass dành cho nam. Cũng còn có những bè phụ khác như Alto (nữ) hay Baryton (nam) làm bài nhạc thêm sắc mầu (và lộn xộn khó nghe, than ôi phải thú thiệt như thế !). Thường khi các bé trai được huấn luyện để hát bè soprano và contralto trong trường hợp thiếu nhân sự (trong các ca đoàn đồng nam chẳng hạn)

Toccata : Tiếng ý toccare nghĩa là touched (tui xin tạm dịch là phê, là cảm). Toccata viết riêng cho một nhạc cụ , mục đích để nhạc sĩ trổ nghề ruột ra cho bàn dân thiên hạ trầm trồ (the skill). J.S Bach đã viết những toccatas tuyệt diệu cho organ và clavier. Gần đây đã có những tocatas viết cho các nhạc cụ khác, nhất là cho dương cầm.


* * *


Cuối thời Baroque, âm nhạc có một giai đoạn thay đổi ngắn ngủi và thời trang, gọi là Rococo. Rococo là chữ vay mượn từ ngành học lịch sử nghệ thuật, trong khoảng thời gian 1710-1775.
Lúc này khiếu thẩm mỹ đã thấy trong nghệ thuật trang trí, sang trọng và đài các hơn. Âm nhạc Baroque trước kia trang trọng đến độ nặng nề thì thời này thanh thoát buông thả hơn, người ta nói nó ga-lăng hết ý. Văn hoá phong tục lúc này là đi tìm niềm hạnh phúc hoan lạc cho đời sống, âm nhạc do đó được viết với mục đích để giải trí giới vương quyền và giới quí tộc. Thể loại Divertimento và Serenade chào đời và phát triển mạnh.

Divertimento trong tiếng ý (lại ý !) có nghĩa là giải trí là giờ ra chơi. Nói theo ngôn ngữ nhạc thì Divertimento là một tác phẩm nhẹ viết cho một nhóm nhạc cụ trình diễn với mục đích giúp vui. Divertimento tiêu biểu nhứt và nổi tiếng nhứt là bài Eine kleine Nachtmusik của W.A. Mozart (1756-1791) thường xuyên được trình tấu .

Serenade theo nghĩa thông thường ngày nay là bài nhạc được chàng hát tặng cho nàng (nghĩa là để cua đào), đúng nghĩa nguyên thủy Serenade là bài nhạc được viết cho nhạc cụ chơi chung chớ không phải để hát.

Vài tác giả tiêu biểu thời Rococo :
François Couperin (1668-1733) : người pháp, cả gia đình ông đều là nhạc sĩ chơi organ cha truyền con nối trong 200 năm tại giáo đường St Gervais. Do ảnh hưởng của Arcangeco Corelli (xin xem ở trên) và J.S.Bach , ông đã viết cả 1 quyển sách dạy chơi harpsichord (tiền thân của đàn harp) và hơn 200 tác phẩm cho nhạc cụ này.
Georg Philip Telemann (1681-1767) : người đức, tự học nhạc và chơi organ, có thời điều khiển dàn nhạc Vương cung thánh đường Hamburg . Trước tác rất đồ sộ, nhạc ông nhẹ nhàng và ... hời hợt. Sau này thì một số tác phẩm được các nhà soạn nhạc viết lại cho flute rất thành công.
Carl Philipp Emanual Bach (1714-1788) : người đức, con của J.S Bach (con thứ hai của bà vợ cả) Học luật trước khi chuyển qua nhạc, chơi và dạy Harsicorp cho hoàng triều của Đại đế Frederick ở Berlin. Có dạo thay thế Telemann làm nhạc trưởng tại thánh dường Hamburg. Tạo ảnh hưởng sâu đậm trên Haydn sau này.
________________

Bài viết của Mme Ngo

Apomethe
03-11-2006, 03:09
Thời Cổ-Điển.


Rococo là giai đoạn chuyển tiếp giữa Baroque và Cổ- điển. Nhạc của thời Cổ điển so với Baroque kém hẳn về số lượng.
Khái quát thì các nhạc sĩ thời cổ điển không sáng tạo, họ chỉ phát triển dòng nhạc thời Baroque mà họ đã kế thừa. Nhạc thời Baroque với âm thanh tương phản to nhỏ đột ngột - điển hình như phần mở đầu trong Four seasons của Vivaldi chẳng hạn – việc tương phản này ít được xử dụng trong thời cổ điển. Các nhà soạn nhạc cổ điển thích để cho các nốt nhạc thay đổi từ từ êm ái hơn và thích dùng nốt lặng để tạo cảm xúc (như trong 1st mouvement symphony 41 của Mozart,).
Chuyện tạo thêm cảm xúc bằng cách dùng nốt lặng hổng phải ai cũng ưa và bị nhiều người chỉ trích. Đại đế Frederic còn hài hước la làng rằng vì nó mà âm nhạc dám ... lặng luôn hổng chừng !

Dòng nhạc cổ điển hài hòa và giản dị, tương phản với nhạc rococo lả lơi buông thả – người ta cho rằng nhạc dưới thời Louis 15 còn lẳng lơ đến độ ... vô luân (nhạc vô luân, kỳ hén !)
Christoph Willibald Gluck (1714-1787) là nhạc sĩ đầu tiên đã mang âm hưởng Đức vào dòng nhạc cổ điển, nhạc và văn chương cổ điển đã phát triển song song trong thời này (điển hình là Johann Wolfgang von Goethe của Đức 1749-1832)
Ông Gluck ni lập dị thấy bà, còn làm màn lần còn lôi piano ra ngoài ruộng đặng sáng tác có thêm mùi vị thiên nhiên. Chuyên về opera, sáng tác tổng cộng hơn 100 vở nhạc kịch, nhưng bị thất lạc phần lớn.
Handel (thời Baroque) đã chê Gluck như sau : Ông bếp nhà tui dám cũng giỏi nhạc y chang hắn ! (Nói quá thấy mà khiếp ha?)

Thời Baroque có Fugue và Concerto thì thời cổ điển có Sonata và Symphony.
Symphony và Sonata là hai thể nhạc phong phú và toàn vẹn nhứt của thời cổ điển.

Tui nói có thiếu sót về Fugue. Fugue viết cho 4-5 bè nhạc hoặc được dàn nhạc trình tấu hoặc được hát lên (xin xem thời Baroque) Tui mới nghe Leonard Bernstein nói về Fugue thế này trong một buổi hoà nhạc cho trẻ con ở New-York năm ... 1959. (Khi ấy ổng còn sống, còn hào hoa đẹp trai và có duyên hết ý. Bây giờ thì ổng hoá kiếp luân hồi rồi và y hình tối tối cứ đòi đắp chung mền với tui thì phải ! Ai làm siêng tò mò ráng chạy vô thư viện quốc gia New-York kéo ra một serie 6 tapes phim thu hình tại đại hí viện Carnegie trong những buổi hoà nhạc của ổng dành riêng cho nhi đồng, hấp dẫn lắm lận!)
... Tưởng tượng vầy nha : Người ta xây một căn nhà có 4 từng, nên có 4 tốp thợ, và dựng sườn nhà là chuyện quan trọng hàng đầu. Tốp thứ nhứt khởi đầu dựng cái sườn của tầng một xong thì họ quay sang làm những cái vặt vãnh khác (làm vách làm sàn chẳng hạn) trong khi đó thì tốp thứ hai dựng sườn của tầng hai, rồi lại qua làm chuyện vặt vãnh khác trong khi tốp thứ ba dựng sườn cho tầng ba vv .. Nghĩa là khi nghe dàn nhạc chơi một bản fugue thì ta phải để ý cái nhạc đề, vì cả 4 hay 5 bè nhạc sẽ tuần tự xoay quanh cái nhạc đề ấy .

Trở lại với Sonata và Symphony.
Sonata : Thể loại Sonata là một món quà quí giá. Sonata nghĩa là âm sounded trong tiếng ý. Sonata thực ra đã có từ thời Baroque nhưng không được để ý, mãi tới khi Mozart và Haydn phát triển và toàn hảo nó thì Sonata mới thực sự được tán tụng. Cho tới bây giờ Sonata đã là thể loại hoàn chỉnh nhứt. Cũng qua Sonata mà Mozart và Haydn đã được coi như hai cột trụ tiêu biểu của dòng nhạc cổ điển (lại nói quá !)

Sonata là một tác phẩm gồm nhiều đoạn, viết cho một hay hai nhạc cụ (piano, violin, cello vv ..) Chữ Sonata có lẽ được dùng từ 1616, nhưng Johann Kuhnau (1660-1722) một nhạc sĩ ít tiếng tăm của thời Baroque mới là người đầu tiên viết những Sonata ngắn – sau này gọi là biblical sonatas - cho nhạc cụ harpsichord. Những bản Sonatas đầu tiên ấy chỉ có một đoạn duy nhứt. Nếu được hát lên thì nó gọi là Cantata vì Cantata trong tiếng ý có nghĩa là hát sung.

Qua Haydn và Mozart (cũng như Beethoven sau này) Sonata nhờ bị cắt ra thành nhiều đoạn gọi là mouvements, nên mouvement có thể chơi như một bài nhạc riêng rẽ, mặc dù chúng được viết dính chung với nhau. Các nhà sáng tác cổ điển quan niệm rằng để tránh nhàm chán, dòng nhạc cần phải có thay đổi. Bằng cách thay đổi tiết tấu, các nhạc sĩ cổ điển đã làm nhạc thêm biến ảo, cứ một đoạn chậm tiếp theo một đoạn nhanh hơn để dòng nhạc thêm khởi sắc.

Symphony : Một hình thức khác của nhạc, cũng chia thành mouvements. Đây là một biến thể của Sonata. Thực vậy, Symphony chỉ là một Sonata viết không phải cho một nhạc cụ mà là cho cả dàn nhạc đại hoà tấu.

Tính vui vẻ phóng khoáng của Haydn đã chạy vào những nốt nhạc của chính mình. Ông đã có công rất lớn với symphony. Người ta cho rằng nhờ Haydn mà symphony đã phát triển toàn vẹn như ngày nay. Haydn viết tổng cộng một trăm lẻ tám bản symphonies (wow !) Mozart thì trái lại chỉ viết có 41 bản (nhưng bản nào cũng xuất sắc)

Franz-Joseph Haydn (1732-1809) : Người Áo, với sức sáng tác kinh hồn. Haynd tự học nhạc lấy (Trái ngược với Mozart và Beethoven có thày bà đàng hoàng) Tuy buồn vì lập gia đình mà không có con. Haydn vẫn luôn luôn vui vẻ khoáng đạt, được mệnh danh là ‘Papa’

Năm lên tám Haydn sanh sống bằng nghề hát lễ cho ca đoàn Vương cung thánh đường St Etienne ở Vienna. Sau đó thì bị ‘bể giọng’ (chào ngài Lê Nguyễn Hiệp) và năm 1949 được mời đi chơi chỗ khác. Haydn bèn đi dạy nhạc, chơi đàn (violon và organ) để kiếm ăn. Mãi tới năm 28 tuổi thì được vời về dưới trướng của ông hoàng Esterhazy, người giàu có nhứt xứ Hung thời ấy. Esterhazy giao cho Haydn trông coi dàn nhạc và ca đoàn tại nhà nguyện của lâu đài – Maitre de chappelle hay Kapellmeister (tức ông Quản). Tại đây Haydn đã nổi tiếng ngay với những bản Symphonies tiêu biểu cho thời cổ điển. Nội trong 30 năm làm việc cho Esterhazy, Haydn đã viết hơn 80 bản Symphonies, hơn 60 bản Quartuors cho đàn dây (quartuors có 4 người), rất nhiều Concertos cùng thánh nhạc (Mariazell‘s mass 1782 đã được coi như một tuyệt phẩm) Haydn cũng viết cả opera và mở đường cho Mozart sau này. Haydn gặp Mozart năm 1784 tại Vienna và họ đã thành bạn vong niên của nhau.

Haydn là người đầu tiên tán dương Mozart là ‘nhà soạn nhạc vĩ đại nhứt của nhân loại’ Trong khi đó thì Mozart chỉ lẳng lặng làm thinh viết sáu quartuors tặng bạn già. Gọi là vong niên vì Mozart trẻ hơn Haydn 24 tuổi lận (ông Anmomad, mạnh giỏi ông?)

Năm 1790 ông hoàng Nicholas Esterhazy qua đời, Haydn bỏ Vienna sang London và được tiếp đón rất nồng nhiệt. Trong một buổi du lịch Haydn gặp ‘cậu’ Beethoven và thu nhận cậu làm học trò. Một số Symphonies khác được viết tại đây. Sau London, Haydn về Vienna làm việc lại với dòng họ Esterhazy, vẫn tiếp tục sáng tác.

Năm 1808, được vinh danh trong lần xuất hiện lần cuối cùng trước công chúng vào dịp trình diễn ra mắt oratorio The Creation. Haydn qua đời ít lâu sau, khi còn đang viết dở dang tác phẩm oratorio thứ ba có cái tên định mệnh 'The last judgement’ .

Một giai thoại lý thú về khả năng giao tế của Haydn : Esterhazy đi nghỉ xả hơi tại cung điện mùa hè mang theo dàn nhạc giúp vui, nhưng cung điện vào mùa thu lạnh quá xá, các nhạc sĩ chỉ mong muốn Esterhazy ‘hồi loan’. Haydn bèn sáng tác một Symphony với phần kết thúc là các nhạc sĩ tuần tự ngưng chơi, tắt ngọn nến của mình (hồi đó chưa có điện ha) rồi nhẹ nhàng rút êm. Khi nốt nhạc cuối cùng của bản nhạc chấm dứt thì dàn nhạc chỉ còn vỏn vẹn có hai người. Esterhazy hiểu ý nên ngay ngày hôm sau cùng đoàn tùy tùng ... rút trại. Bản Symphony này sau đó được gọi là ‘Bản Giao Hưởng Tạ Từ - Symphonie des Adieux !

Hào quang của Mozart và Beethoven có làm lu mờ Haydn chút đỉnh. Brahms của thời Lãng-mạn sau này đã làm hào quang này sáng lại bằng những ‘Variations sur un thème de Haydn’. Ngày giỗ 100 của Haydn đã được tổ chức long trọng với những tên tuổi chói sáng thời đó như Ravel (nhắc cho bạn nhớ Ravel là tác giả của bản Bolero) Debussy, Paul Dukas vv..

Trước đó tại Mannheim Đức quốc, quận công Karl Theodor van Pfalz do lòng yêu chuộng âm nhạc nên đã chi phần lớn gia sản của mình để phát triển nó. Ông giao cho Johann Stamitz (717-1757) trách nhiệm thành lập một giàn nhạc. Stamitz người xứ Boheme, đã qui tụ một số đồng hương của mình và lần lượt huấn luyện từng nhạc sĩ vĩ cầm một, từ người thứ nhứt cho đến người thứ 42, tất cả đều thiện nghệ xuất chúng. Rồi Stamitz nhường chức lại cho Franz Xavier Richter, và lần lượt sau đó là Carl Stamitz, Ignaz Pleyel. Chẳng may ngài quận công 'philharmonic' nói trên phải từ giã Mannheim để về Bavière nên rồi ánh sáng nghệ thuật Mannheim từ đó cũng tắt lịm !

Các nhạc sĩ ngoại hạng của Mannheim đã tạo những ảnh hưởng quan trọng để các nhà soạn nhạc như Haydn và Mozart phát triển và toàn hảo thể loại symphony cho dàn nhạc sau này. Mozart năm 1777 trên đường đi Paris có ghé nghe dàn nhạc Mannheim trình tấu, người ta cho rằng 41 bản symphonies xuất sắc của ông có được là một phần do kinh nghiệm rút tỉa khi này.

Symphony từ Mannheim chỉ là những ấn bản thô sơ, lỏng lẻo và nghèo nàn, nhưng tới Haydn nó đã đạt trình độ : sáng sủa, chặt chẽ và sang trọng. Các tác phẩm symphonies của Haydn là một tổng hợp xuất sắc của thời Baroque và thời Cổ điển.

Cũng chính Haynd đã biến hoá cho quartuors : quartuor là một concerto chơi bằng violin đi kèm bằng 3 cây đàn dây khác và chúng đi độc lập riêng rẽ với nhau. Quartuors của Haydn thành thông dụng trong nhạc thính phòng (chamber music), tạo ảnh hưởng trên các nhà soạn nhạc khác về sau như Beethoven, Mozart, Schbert vv..


Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791) người Áo, thiên tài của âm nhạc. Cha ông là nhạc sĩ vĩ cầm kiêm soạn nhạc gia, có thời giữ chức ông Quản ở Salzburg, nhờ thế ngay từ năm 6 tuổi ông đã đi khắp âu châu và được coi là thần đồng âm nhạc từ khi ấy.
Bắt đầu viết nhạc ngay từ lúc lên 6. Bản symphonie đầu tiên viết năm lên 8, opera đầu tiên năm mới ngoài 10 tuổi (Má ơi !) và không ngừng sáng tác. Sự nghiệp tuy ngắn ngủi, dưới 30 năm, nhưng lẫy lừng.

Sau một hồi đi lòng vòng và được tán thưởng nhiệt liệt. Gia đình Mozart trở về Salzburg và làm việc cho bá tước Colloredo dở hơi và khó tánh. Tuy bị chèn ép Mozart vẫn viết được 6 quartuors, một vở opera và the 1st concerto for piano.

Năm 1777, chịu hết nổi Colloredo, Mozart bèn từ chức cho dù cha ông phản đối. Ông đi Mannheim (nghe dàn nhạc Mannheim trình tấu như đã nói ở trên) sang Paris rồi thất vọng : Chuyện tiếp đón nồng hậu của công chúng trước kia đã không còn. Năm sau mẹ ông mất, ông về lại Salzburg, rồi nhận ra rằng y hình mình hổng còn là thiên tài gì ráo nữa. Đau khổ cực kỳ, ông tuân theo ý muốn của cha trở lại làm việc cho Colloredo.

Dưới trướng Colloredo, ông giữ chân chơi organ, viết bản concerto for violin & alto và hoàn tất vở opera Thomas the king of Egypt.
Năm 1781 đi Vienna để dựng vở opera Idomenee. Do việc đối xử lạnh nhạt của Collerado, Mozart hát tuyệt tình ca và ở hẳn lại Vienna. Để mưu sanh, ông phải đi dạy nhạc. Rồi trái lệnh cha (lại lệnh cha nữa, chán quá xá !) kết hôn với Constance Weber và viết vở Enlèvement au sérail 1782 để tặng nàng. Cũng thời gian này viết symphonies Haffner và Linz.

Chuỗi ngày hạnh phúc ngó chừng ngắn ngủi, chết đứa con đầu tiên và nợ ngập đầu.
1784 thiên tài biểu lộ trong 5 bản concertos for piano, và viết tặng bạn vong niên Joseph Haydn sáu quartuors (đã nói ở trên).
Sau đó viết opera les noces de Figaro, thành công chỉ tương đối ở Vienna, nhưng năm sau khi mang qua tới Prague thì thành công rực rỡ. Cũng tại Prague viết La Petite Musique de nuit, symphonie de Prague và nhứt là Don Gionanni thành công vượt bực. Năm 1787, giữ chức soạn nhạc gia hoàng triều Áo của Đại đế Joseph 2nd. Có tiếng nhưng hổng có miếng, lương lậu chẳng khấm khá chi nên vẫn nợ như chúa chổm !

Y hình càng khổ bao nhiêu thì nhạc Mozart ngược lại càng vui bấy nhiêu. Dù có tang cha, dù làm bà con với Cả-đọi, dù Constance bịnh rề rề, năm 1789 viết vở hài kịch Cosi fan tuite cho Joseph 2nd . Đại đế băng hà Mozart hết nơi nương tựa, rồi liên tục thất bại. Các buổi hoà nhạc của ông vắng như chùa bà đanh, sức khoẻ của ông suy sụp. Tuy vậy trong thời gian này đã viết hai vỡ nhạc kịch ngoại hạng La flute enchantée và La Clémence de Titus, một Concerto pour clarinette và viết dở dang bản nhạc cầu hồn Requiem.

Kiệt sức vì suy thận, Mozart mất ngày 5 tháng 12 năm 1791, khi ấy mới 35 tuổi. Lệ phí ma chay gia đình không lo nổi, phải nhờ cậy vào chuyện quyên góp. Đám ma ông nghèo nàn buồn tẻ. Ngó chừng trời cũng buồn theo, nên mưa rơi thảm thiết ngày tang lễ, cho tới nỗi bạn bè đưa đám ông có hơn một chục người khi tới cửa nghĩa địa thì sình lầy quá nên họ đành quăng đại quan tài ở đó mà đi dzìa. Mozart có hai con trai nhưng không một ai lập gia đình. Dòng họ tới đó là tuyệt tự.

Xung quanh Mozart đã có biết bao huyền thoại chỉ vì ông là thiên tài. Dĩ nhiên đã là huyền thoại thì có cái đúng cái sai. Hỏi vậy chớ có được mấy người viết ra một sáng tác tuyệt diệu như phần mở đầu của vở Don Giovanni chỉ trong có một đêm (để sáng hôm sau chờ tập dợt ra mắt ngay khi mực còn chưa ráo) ? Có ai trong vỏn vẹn 6 tuần lễ viết những bản symphonies diễm lệ như 3 bản cuối cùng ? Có ai viết nổi từ 84-86 mười hai bản concertos ác liệt, xen giữa là vở Noces de Figaro ngoại hạng ?

Bí mật của thiên tài ha, hổng có chi để mà bật mí hết. Nó gọn bâng hà ! Mozart nghĩ một hơi trong đầu rồi a lát sô viết liền xuống giấy cho nó vừa tươi sáng, vừa sinh động. Gọn bâng kiểu ni ngó chừng hổng phải thiên tài thì mong chi làm đặng, dỡn hoài ! Mà phong cách sáng tác vậy nên nhạc của ông nó mát rượi, nó hồn nhiên, ngó chừng trước và sau ông, chưa ai có thể so sánh được (lại nói quá !)

Rồi người ta mới làm màn hỏi ấm ớ : Vậy chớ bất hạnh tạo thiên tài hay thiên tài tạo bất hạnh ? Chỉ có trời mới biết !
Ước mong các bạn đã vui khi đọc bài viết này.
Trân trọng.
_____________________________

Bài viết của Mme Ngo

classicalChick
07-02-2007, 21:49
Nhà soạn nhạc xây dựng tác phẩm theo mô hình kiến trúc, gọi là form. Âm điệu hổng phải là mang nốt nhạc thả nổi khơi khơi vào đó, thả vậy nó rớt hết ra nha ! Nốt nhạc như những viên gạch được ‘gắn chặt’ vào khuôn (đã được nhạc sĩ chọn trước) để tạo thành tác phẩm. Mô hình có thể chặt chẽ, nhưng cũng có thể lỏng lẻo nên rồi méo mó chút đỉnh làm nghe khờ người mà cũng hổng biết nó là form gì ! Tác phẩm theo đúng khuôn dĩ nhiên giúp người nghe dể dàng nhận ra form của nó hơn.

Các forms gồm có :
- Thời Phục Hưng : Motets và Madrigals. Cả hai đều là nhạc hát vocal music.
- Thời Baroque : Passacaglia (dance form) và Fugue.
- Thời Cổ điển : Sonata, Symphony, String quartet, Concerto.
- Thời Lãng mạn : Symphonic poem và tấu khúc cho piano (prelude, polonaise...)
Forms thì còn rất nhiều, tui xin thủng thẳng nói sau khi có dịp.
Mme Ngo oi!làm ơn cho mình biết rõ thêm về cấu trúc của symphony ,sonata&concerto được ko?

Leetongwook
08-03-2007, 01:46
đây là giai đoạn của ‘âm thanh và cuồng nộ’, rất nhức cái đầu và đau cái màng nhĩ, rồi thì ... (theo thiển ý) nó tụt cấp luôn tới cái củ tỉ với loại nhạc RAP hiện hành, than ôi !...............
Đọc đến đoạn này không đọc nữa.Sao lại đi chê những loại nhạc khác thế chứ.Mỗi loại nhạc có 1 cái hay riêng,mỗi người có 1 cảm nhận về nhạc khác nhau.Không nên coi thường những loại nhạc khác cũng như cảm nhận của người khác như thế.Nhạc rap cũng có những bài hát khiến xúc động lòng người,cảm xúc thăng hoa.Tôi là 1 người thích nhạc rap,và cũng thích nhạc cổ điển(mặc dù hiểu biết về nhạc cổ điển còn rất rất hạn chế).Ngoài ra nhạc rock,R&B,jazz,hiphop,Trung Quốc,Hàn Quốc. v...v.........Mỗi loại nhạc đều có cái hay riêng,và tôi thích tất cả những dòng nhạc đó.Nhờ có những dòng nhạc đó mà tâm hồn tôi trở nên phong phú,trình độ cảm nhận âm nhạc được nâng cao,đến bây giờ thì lại thích nhạc cổ điển.Tôi đảm bảo nếu như không nghe những loại nhạc trên thì bây giờ tôi không thể nào thích được nhạc cổ điển hết.Mà có lẽ đã giống như đa số dân Vn mình bây giờ,suốt ngày Ưng Hoàng Phúc,Đan Trường.Tôi nhớ hình như bạn Apor viết ở đâu đó trong diễn đàn này là bạn Apor cũng có nghe nhạc cổ điển ngay từ đầu đâu,mà cũng đi lên từ nhạc hòa tấu mà,vì thế mà bạn không đồng ý với những ý kiến coi thường những loại nhạc hòa tấu đó.Thế mà bây giờ bạn lại đi coi thường những loại nhạc khác..............

dannguyenus
05-05-2008, 01:36
Góp ý chút xíu.
Form là Hình thức chứ không phải Thể loại (Genre). Hai từ này thường bị lẫn lộn với nhau.
Khi nhắc đến Form, Hình thức, người ta thường muốn diễn đạt một kiểu viết hay cấu trúc âm nhạc cụ thể, ví dụ tác phẩm này được viết theo hình thức 3 đoạn đơn, 3 đoạn phức, hay theo hình thức sonata, vv.
Còn Genre, Thể loại, là muốn nói đến một thể loại nhạc cụ thể nào đó, ví như thể loại nhạc giao hưởng, thể loại nhạc thính phòng hay thể loại nhạc pop, rock, etc.

dannguyenus
05-05-2008, 01:38
"2. Melody – Âm điệu.
Melody hay tune là một chuỗi những nốt nhạc tiếp nối. Âm điệu một bài nhạc là cái nền làm bản nhạc du dương do đó dễ nghe và dễ nhớ. Âm điệu là yếu tố ngó chừng quan trọng nhứt của dòng nhạc thời Lãng mạn. Thính giả chẳng cần hiểu biết tối thiểu về nhạc cũng vẫn có thể nghe và thích các bản nhạc trầm bổng réo rắt của những tác giả sở trường về âm điệu như Schubert, Tchaikovski, Mendelssohn vv... "

Cái này nữa, melody là giai điệu, khác âm điệu đấy nhé!!!

dannguyenus
05-05-2008, 02:12
"Mme Ngo oi!làm ơn cho mình biết rõ thêm về cấu trúc của symphony ,sonata&concerto được ko?"

Sonata là 1 hình thức lớn có công thức hẳn hòi. Theo định nghĩa thì Sonata là 1 bản nhạc nhiều chương (2-3 chương trở lên) và trong đó có 1 chương (thường là chương 1) viết theo Hình thức sonata. Hình thức Sonata thường có 3 phần: Trình bày, Phát triển và Tái hiện. Tuy nhiên có những Sonata lại có cả phần Intro (trước Trình bày) và Coda (sau Tái hiện) và lại có Sonata 1 chương như bản Sonata Bminor của Liszt.
Các phần trong hình thức sonata được cấu trúc dựa trên 2 chủ đề trong phần Trình bày , được lần lượt xuất hiện với sự tương quan về điệu tính và hình tượng âm nhạc, hai chủ đề được gắn kết với nhau bằng các cầu nối. Phần phát triển được xây dựng trên sự phát triển 2 chủ đề qua nhiều thủ pháp viết, tạo sự căng thẳng, xung đột, tranh đấu, mất ổn định, etc. Để rồi quay về với sự ổn định và cân bằng với sự xuất hiện trở lại của 2 chủ đề ban đầu với sự thống nhất về điệu tính và về kết.
Các sonata thời kỳ đầu của Scarlatti, C.P.E. Bach, Cimarosa, etc thường không có cấu trúc thế này, phần phát triển rất ngắn gọn và cũng không có mẫu mực về sự tương quan của 2 chủ đề.
Đến các sonatas của Haydn có sự phát triển rõ hơn về cấu trúc và Mozart, Beethoven đã nâng cao hình thức này và làm nó thành những mẫu mực của thể loại Sonata cho piano. Cho đến hiện nay, hình thức Sonata vẫn giữ nguyên cấu trúc trong các bản sonata hiện đại.

Concerto là tác phẩm viết cho nhạc cụ chơi chung với dàn nhạc giao hưởng. thường các concerto piano cũng có cấu trúc như hình thức sonata và đặc biệt là phần cadenza cuối chương 1 để các solist phô diễn kỹ thuật.

Symphony là thể loại âm nhạc viết cho nguyên dàn nhạc giao hưởng trình diễn. Một symphony cổ điển thường có 4 chương với 1 chương viết theo form sonata. Như vậy có thể hiểu Symphony là bản sonata viết cho nguyên dàn nhạc giao hưởng chơi.

dannguyenus
14-05-2008, 01:08
Bạn có thể hiểu về altonality là bất cứ âm nào trong thang âm cũng có thể là chủ âm. Trong thang âm có 7 bậc thì có chủ âm, át âm, hạ át âm, etc. Nhưng trong altonality thì âm nào cũng được xem như nhau.

nguyen2ahoa
09-01-2009, 23:22
Trường phái âm nhạc cổ điển Vienna (http://dvddoc.wordpress.com/2008/11/24/tr%c6%b0%e1%bb%9dng-phai-am-nh%e1%ba%a1c-c%e1%bb%95-di%e1%bb%83n-vienna/)


Vào thế kỷ XVII, Áo là một nước quân chủ phong kiến chuyên chế, bao gồm các lãnh địa của Đức và vùng Đông Nam Âu vừa thoát khỏi ách xâm lược của Đế chế Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ. Dân chúng ở đây vừa là người Đức, Áo vừa người Hung, Slovakia và nhiều dân tộc khác. .. Với tình trạng nhiều dân tộc như thế nên nghệ thuật , nhất là âm nhạc, có môi trường thuận lợi để phát triển phong phú rộng rãi. Từ những con phố, ngoài công viên, quán chợ đến các phòng hòa nhạc… đâu đâu cũng đàn ca, hát hội. Những bản dân ca thành thị, những khúc valse, khúc serenade… là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người dân thành Vienna yêu nhạc. Bên cạnh những hình thức sinh hoạt quần chúng, trong những lâu đài quan trọng, phong cách “hàn lâm” được các nhà soạn nhạc trình bày qua các tác phẩm mới, các nhạc sỹ tài năng biểu diễn tạo thành những hình thức hoạt động trên lĩnh vực âm nhạc muôn hình muôn vẻ.
Những vở nhạc kịch hấp dẫn cùng những sáng tác hài kịch Đức - Áo của Mozart, Muiler đã mang tư tưởng dân tộc, dân chủ, chống hoàng tộc, chống thủ cựu. Qua những vở nhạc kịch Orpheé và Alcesta, những kiệt tác của những năm 60 của thế kỷ 17, tên tuổi nhà cải cách nhạc kịch William Gluck đã đi vào lịch sử, cho đến những bản giao hưởng, sonate của Haydn, Mozart và Beethoven sau này … đã làm cho thủ đô Vienna trở thành trung tâm âm nhạc của châu Âu.
Tất cả những sự kiện đó, các nhạc sỹ lỗi lạc ấy, đã tạo cơ sở cho sự nảy sinh và kết tinh một trào lưu âm nhạc mới, khác với những thế kỷ trước – trào lưu âm nhạc cổ điển – và Vienna chính là quê hương của trường phái âm nhạc đó: Cổ điển Vienna. Tới nửa sau thế kỷ XVIII., nền âm nhạc cổ điển Vienna là sự tổng hợp của thế giới quan và những khuynh hướng thẩm mỹ mới nảy nở trong nghệ thuật âm nhạc. Trường phái nghệ thuật này có quan hệ chặt chẽ với cuộc cách mạng tư sản Pháp với chủ nghĩa duy ký của phái Bách khoa của thế kỷ Ánh sáng. Đó là những ý niệm về lòng nhân đạo, niềm tin vào lý tính, tinh thần lạc quan, tính nhân dân và dân chủ. Những tư tưởng mới đó được phản ánh trong những kiệt tác của các danh nhân tiến bộ của xã hội Áo bấy giờ.
Tại nước Áo, ngoài những ảnh hưởng trên, nền âm nhạc ở đây còn chịu tác động bởi những cuộc nổi dậy của nông dân đấu tranh chống cường quyền và nhà thờ khắc nghiệt. Những cuộc đấu tranh đó có thu được một số thắng lợi. Để bảo vệ cho bọn địa chủ, chính quyền có nới cho họ chút quyền tự do, nhưng đó chỉ là “vỏ ngoài”, thực ra đời sống của nông dân vẫn lầm than cực khổ. Song đối những ai có đầu óc dân chủ tiến bộ ở Áo khi đó, họ cảm thấy có phần nào thoải mái hơn trong việc phản ánh những ước mơ, những suy nghĩ thầm kín về sự công bằng, về một tương lai tươi sáng. Những tâm tư ấy được biểu hiện qua các tác phẩm của các nhạc sỹ cổ điển Vienna. Thời ấy, để có thể làm việc được, các nhạc sỹ tài năng đều phải sống dựa vào các nhà bảo trợ nghệ thuật trong giai cấp quý tộc ( các Mạnh Thường Quân). Họ phải vừa làm gia sư, quản lý và sáng tác theo yêu cầu của “ông chủ”.
Nhưng họ đã biết khai thác từ những tác phẩm âm nhạc quần chúng, sinh hoạt nghệ thuật dân gian để viết lên những bản nhạc sôi nổi, đa sắc, những suy tư về hạnh phúc, nỗi lo âu trong thế giới nội tâm con người. Đó là những “bức tranh ẩn dụ” mô tả sinh hoạt của dân chúng, những phút trầm tư mặc tưởng, đau thương, oán hận… bên cạnh xúc cảm trước các hiện tượng thiên nhiên tươi đẹp.
Niềm tin tư tưởng trong các tác phẩm của các nghệ sỹ cổ điển Vienna là thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng của lý trí và tinh thần lạc quan nhân đạo, tiến lên phía trước. Trong bản giao hưởng của Josept Haydn thời kỳ đầu, trong nhạc kịch của Wolfgang Amadeus Mozart, trong sonate và giao hưởng của Ludwig van Beethoven … đó là những bản anh hùng ca nói về tinh thần lạc quan, niềm tin vào một ngày mai xán lạn. Nhưng bên cạnh đó, họ có không ít những năm tháng đau thương tủi nhục của cuộc đời một nhạc sỹ hầu cận các gia đình quý tộc, đó cũng là nguyên nhân của biết bao âm điệu trầm lắng trong khúc “cầu hồn” - bản Requiem – mà Mozart viết lúc cuối đời, trong bản giao hưởng Tang lễ, bản giao hưởng Vĩnh biệt của Haydn, trong Appasionata của Beethoven…. Nhưng hầu hết các tác phẩm của họ đều toát lên sự sáng sủa, khoẻ khoắn, thu hút mọi người.
Kế thừa các bậc tiền bối, các nhạc sỹ cổ điển Vienna đã hoàn thiện hình thức sonate. Ở thế kỷ trước (XVII), thể sonate đã được sử dụng nhưng kết cấu đơn giản nhưng Haydn, Mozart và nhất là Beethoven đã thế hiện một cách sáng tạo trong nhiều kiệt tác. Sonate là một cơ cấu, trong đó chứa đựng nhiều chủ đề, hình tượng âm nhạc tương phản, được tận dụng tạo kịch tính. Điều này thật phù hợp với những hiện tượng xã hội đang diễn ra dưới dạng đấu tranh khác nhau của thể kỷ 18 mà các nhạc sỹ Viên đang sống. Thông thường hình thức sonate gồm 3 phần: phần trình bày, tiếp đến phần phát triển: đây là trung tâm tính kịch của hình thức sonate, những hình tượng tương phản xung đột, sự xuất hiện của các chủ đề của phần trình bày với một dạng khác. Cuối cùng là phần tái hiện: nhắc lại những chủ đề nguyên dạng, trở về điệu tính chủ.
Song song với hình thức này, liên khúc sonate cũng được sử dụng. Haydn là người đầu tiên đã thành công trong việc áp dụng liên khúc sonate và giao hưởng 4 chương, nên người ta coi ông chính là “cha đẻ” của giao hưởng. Liên khúc sonate ra đời cũng làm cho một số thể loại khác phát triển như song tấu, tam tấu, tứ tấu…. và các concerto cho các loại đàn (nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc giao hưởng viết bằng liên khúc sonate). Liên khúc sonate là hình thức âm nhạc có 3 - 4 chương, mỗi chương thường có một sắc thái riêng để mô tả một khía cạnh của chủ đề tư tưởng. Với sự xuất hiện của liên khúc sonate, từ đây đã đánh dấu một bước vĩ đại trong khí nhạc, nhạc sỹ có thể đề cập đến những vấn đề mà trước đây nhạc không lời chưa biểu hiện được. Ví dụ Beethoven đã để lại cho hậu thế những kiệt tác bất hủ như bản Appasionata, các bản giao hưởng ưu tú cùng nhiều bản thính phòng khác.
Một điều quan trọng làm cho các tác phẩm của những nhạc sỹ cổ điển Viên trở thành bất tử là do ấn tượng mạnh mẽ của các chủ đề. Khác với âm nhạc thế kỷ 17, các chủ đề thường triền miên vô tận đôi khi quá trừu tượng, thì chủ đề của các nhạc sỹ thành Viên rất trong sáng, giản dị, truyền cảm sâu sắc, dễ đọng lại lâu dài trong trí nhớ của khán thính giả. Dân ca cũng là chất liệu phong phú để thể hiện chủ đề. Trong bản giao hưởng Trống rung cung Mi giáng trưởng của mình, Haydn đã đưa dân ca Khrvat (một vùng Nam Tư giáp Áo) để miêu tả tâm trạng âm thầm ai oán. Từ những chủ đề có hình tượng khái quát như chủ đề “định mệnh” trong Giao hưởng số 5 của Beethoven, đến những chủ đề đơn sơ mộc mạc thôn dã, mang tính cá biệt như chương I trong Giao hưởng số 6 của ông rất dễ hiểu, dễ thấm. Trong xây dựng chủ đề, các nhạc sỹ cổ điển Vienna đã cố tránh trừu tượng, tránh mô tả thiên nhiên một cách sống sượng. Với sự xuất hiện của những chủ đề có cá tính, nên từ đây, trong âm nhạc bắt đầu thịnh hành một thủ pháp soạn nhạc là phát triển “môtip”, phát triển chủ đề mà Haydn, Beethoven rất hay áp dụng.
Các nhạc sỹ cổ điển Vienna rất chủ trọng tới tính cân đối và sự khúc chiết của một tác phẩm âm nhạc. Các câu trong các đoạn ổn định thường gồm một số nhịp chẵn (4 hay 8 nhịp). Một đoạn đơn thường gồm hai câu, câu 1 kết ở bậc V và câu 2 kết ở bậc I. Về hoà thanh, giai đoạn này là đỉnh cao của sự tổng kết công năng hòa thanh, chuyển điệu, chuyển giọng và sự kết hợp hài hoà giữa âm thuận và âm nghịch. Thay thế một phần âm nhạc phức điệu thời Bach (gọi là polyphonie) , các nhạc sỹ cổ điển Vienna đã hướng vào phương pháp hòa thanh chủ điệu (homophonie) để soạn nhạc. Sự phổ cập của phương pháp này giúp cho các sáng tác vững vàng có màu sắc giàu hình ảnh độc đáo. Từ đây các nhạc sỹ cũng xác định tính chất của một vài giọng tiêu biểu: theo họ giọng Re trưởng (D major) thuận lợi cho diễn tả những xúc cảm tươi sáng, anh hùng, giọng Do thứ (C minor) buồn thảm đau thương, giọng La trưởng (A major) Fa trưởng (F major) phù hợp chất thôn dã. Lẽ dĩ nhiên các nhạc sỹ ấy cũng hiểu rằng điều quyết định tính chất một tác phẩm không chỉ riêng tính chất giọng mà thôi, nhưng khi chọn lựa một giọng để sáng tác chủ đề, họ làm như vậy.
Kế thừa truyền thống giao hưởng của các nhạc sỹ ở Manhem (nơi khai sinh các dàn nhạc giao hưởng nhỏ), Haydn đã sáng lập thể loại giao hưởng mà từ đó dàn nhạc giao hưởng ngày một hoàn chỉnh, âm lượng cũng vững vàng hơn. Lần đầu tiên, nhạc cụ kèn được để ở vị trí độc tấu (solo) trong giao hưởng. Lần đầu tiên kèn trombone xuất hiện trong bản giao hưởng “London” của Haydn và trong “Khúc cầu hồn” của Mozart. Beethoven còn nâng vị thế kèn để miêu tả hình tượng anh hùng, tính kịch cao. Hơn nữa, Haydn, Mozart, Beethoven đều có những tác phẩm cho đàn phím, tách hẳn khỏi clavecin để chuyên viết cho đàn piano có âm lượng như dàn nhạc lớn mà thời thế kỷ trước (17) không thể có.
Trong lĩnh vực nhạc kịch, các nhạc sỹ cổ điển Vienna đã đạt tới những thành tựu hết sức lớn lao. Đầu tiên là Christopher Williambald Gluck, người Đức, ông đã làm sống lại truyền thống nhạc kịch nghiêm chỉnh sau thời gian khủng hoảng bằng những vở nhạc kịch cải cách như Orpheé và Alcesta. Tiếp đến là Mozart, người đã thành công trong nhiều đề tài đa dạng nhất là hài kịch. Và Beethoven trong vở Phidelio đã kết hợp chặt chẽ giữa những nhân tố cách mạng và anh hùng. Nhưng thanh xướng kịch của Haydn là những tác phẩm liên kết mẫu mực giữa thanh nhạc và khí nhạc.
Những thể loại âm nhạc giao hưởng từ thời trước (Bach - Hendel) đã dần thoát khỏi những nội dung thuần tuý tôn giáo, nhưng đến giai đoạn này, qua các sáng tác của Mozart, Beethoven, những bản lễ ca, khúc tưởng niệm đã có một nội dung triết lý sâu sắc. Haydn đã viết những thế loại đó với chất nhạc khoáng đạt, tươi vui. Những thể loại âm nhạc nhà thờ được đưa ra công diễn rộng rãi. Loại nhạc kèn đồng chiến trận cũng không bị cấm đưa vào nhà thờ như thời trước.
Sau cùng yếu tố điệu thức, các nhà soạn nhạc cổ điển Vienna thấy tầm quan trọng của nó, điệu thức là linh hồn của giai điệu nên họ mạnh dạn thay dần các điệu thức trung cổ bằng điệu trưởng tự nhiên và điệu thứ hòa thanh. Trong quá trình phát triển của lịch sử âm nhạc từ xưa tới nay, sự xuất hiện của Trường phái âm nhạc cổ điển Vienna là một hiện tượng mới mẻ có tính lịch sử. Nó không sinh ra một cách ngẫu nhiên mà kế thừa sự hưng thịnh của nền âm nhạc Ý thế kỷ XVII. Chính những nhà nhạc sỹ vĩ đại thế kỷ 17 như Monteverdi, Scarlatti, Hendel, Bach… đã nhóm lên ngọn lửa và thế hệ sau (1 http://s.wordpress.com/wp-includes/images/smilies/icon_cool.gif với những người con của Bach, cùng Gluck, Haydn, Mozart, Beethoven … đã thổi bùng ngọn lửa ấy lên thành một bó đuốc chiếu sáng con đường mới. Ngọn lửa thần kỳ ấy không bao giờ tắt, nó vẫn rạng ngời cho nền nghệ thuật âm nhạc tiên tiến ngày nay.
(St)

Dung SherLock
10-01-2009, 00:08
Theo em thì việc nghe và cảm nhận nhạc cổ điển (đặc biệt là khí nhạc) phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, mỗi người đưa ra cảm nhận của cá nhân về bản nhạc là sự kết hợp giữa hiểu biết âm nhạc + nội tâm của người nghe. Tâm trạng của mỗi người khi nghe nhạc cổ điển có thể cũng không giống nhau. Vậy nên cũng khó áp đặt một nội dung nhất định mà bản nhạc thể hiện trừ những thể loại như opera thì tác giả đã đưa ra nội dung cho trích đoạn (qua lời thơ, khúc ca) và người nghệ sĩ phải thể hiện điều mà tác giả muốn đưa tới công chúng.

Alchemist
22-08-2009, 21:46
Một chút về Baroque
Baroque = hoa mĩ lộng lẫy, khúc chiết dồi dào tính trang trí.
Nhạc Baroque = âm nhạc được biểu hiện qua những cấu trúc chặt chẽ và những nét hoa mĩ khúc chiết.
Có bốn điều làm cho âm nhạc mang tính Baroque:
1/Những cảm xúc say mê.
2/Sự tương phản.
3/Diễn tấu tự do dưa trên môt cấu trúc nhất định.
4/Hoa mĩ - đấy nốt trang trí.
Nghe nhạc Baroque rất tốt cho sự phát triển của não đấy.

HiLine
23-08-2009, 17:02
Một chút về Baroque
Baroque = hoa mĩ lộng lẫy, khúc chiết dồi dào tính trang trí.
Nhạc Baroque = âm nhạc được biểu hiện qua những cấu trúc chặt chẽ và những nét hoa mĩ khúc chiết.


Thực ra baroque có nghĩa là kì quặc. :)



Có bốn điều làm cho âm nhạc mang tính Baroque:
1/Những cảm xúc say mê.
2/Sự tương phản.
3/Diễn tấu tự do dưa trên môt cấu trúc nhất định.
4/Hoa mĩ - đấy nốt trang trí.
Nghe nhạc Baroque rất tốt cho sự phát triển của não đấy.


1. Cảm xúc say mê là thế nào nhỉ? Tính giàu cảm xúc thì phải đến thời lãng mạn mới có chứ.
2. Tương phản thì các thời kì sau có nhiều hơn.
3. Diễn tấu chỉ khi âm nhạc còn đơn giản; đến thời kì của Bach, Handel thì không còn tự do nữa rồi.

nhocti
04-05-2010, 01:13
tưởng đã hiểu coi cái hình xong càng ko hiểu luôn.




Một tư liệu nhỏ hy vọng bạn dễ hiểu hơn:
- Thời kỳ Tiền Cổ Điển ( Baroque) Bach đã tạo ra hệ thống bình quân luật (được xem là mẫu mực về chia cao độ, được dùng cho đến ngày nay) nghĩa là từ nốt nhạc bất kỳ của 7 nốt căn bản ( Do-Re- Mi- Fa- Sol- La- Si) đầu tiên đến khi nốt đó được lặp lại tiếp theo được chia làm 12 phần bằng nhau, gọi là 12 bán cung (12 nửa cung). Cung là đại lượng để đo khoảng cách cao độ các nốt.
Hệ thống bình quân luật của Bach là chia trên đàn piano nên bạn có thể nhìn trên phím đàn trên piano (có thể xem sách Methode Rose tr 5- bản cũ hoặc tr 11 - bản mới, có vẽ phím đàn và vị trí các nốt nhạc của khóa sol trên phím đàn piano) sẽ thấy rất rõ :
Trên piano có 2 nhóm phím đen: nhóm 2 phím đen và nhóm 3 phím đen.Nốt Do là nốt đầu tiên, phía dưới, bên trái của nhóm 2 phím đen.
Vậy 12 bán cung của Bach nếu ta tính từ nốt Do ( bất cứ nốt Do ở vị trí trên đàn nào mà bạn thích, vì cây đàn piano có 8 nốt Do) đến nốt Do kế tiếp. Bach phân chia như sau:
Do- tiếp theo la phím đen thứ 1( gọi là Do #- Do Thăng )-phím trắng thứ 2 là Ré-tt là phím đen thứ 2 (gọi là Re #)-MI là phím trắng thứ 3-tt là Fa là phím trắng đầu tiên của nhóm 3 phím đen- tt là phím đen thứ 1 của nhóm 3 phím đen ( Fa #)-tiếp theo là Sol phím trắng thứ 2 - phím đen thứ 2 của nhóm 3 phím đen là sol #-tiếp theo là La phím trắng thứ 2 - phím đen tt là La #- phím trắng tt là Si và tiếp theo lại là nốt Do.

{ Thêm một chút về dấu # ( dấu thăng): nâng cao độ nốt nhạc lên nửa cung và dấu b (dấu giáng): hạ cao độ nốt nhạc xuốg nửa cung. Vì vậy khi đàn đi lên thì gọi là Do # nhưng khi đàn đi xuống thì gọi là Re b, mặc dù 2 nốt này cùng vị trí trên đàn piano, chỉ khác cách viết trên giấy)}

Khi viết tác phẩm ( tính từ Baroque), các nhạc sĩ sẽ nghĩ đến giọng ( thang âm, tone) mà mình sẽ viết cho tác phẩm . Thời Baroque người ta quy định rất rõ là giọng gì sẽ có tính chất gì.
vd: giọng Do Trưởng ( kí hiệu: C major- tiếng anh) có tính chất vui tươi, trong sáng.

Giọng Do- TRưởng nghĩa là thang âm bắt đầu bằng nốt Do với tính chất ( màu sắc) là Trưởng
TRong thang âm sẽ gồm các nốt sau thứ tự sau:
Do-re-mi-fa-sol-la-si-do
Nốt Do được quy định là nốt bậc 1 của thang âm. Nó có tầm quan trọng bậc nhất trong thang âm vì nó là nốt bắt đầu thang âm và quyết định tên của thang âm là Do.
Trưởng là tính chất của thang âm do hợp âm 3 xây dựng trên nốt bậc 1 của thang âm quyết định.
HỢp âm 3 gồm 3 nốt chồng lên nhau theo quãng 3.
Hợp âm 3 của bậc 1 là Do- Mi- Sol
Từ nốt Do- Mi là quãng 3 trưởng (từ do lên Mi cách nhau 3 nốt nên gọi là quãng 3) 2 cung nên gọi là hợp âm 3 Trưởng.

Bảng số cung của các quãng :
Quãng 1 đúng ( 2 nốt trùng nhau): 0 cung
Quãng 2 thứ: nửa cung
Quãng 2 trưởng: 1 cung
Quãng 3 thứ: 1,5 cung
Quãng 3 trưởng : 2 cung
Quãng 4 đúng : 2,5 cung
Quãng 4 tăng, 5 giảm: 3 cung
Quãng 5 đúng: 3,5 cung
Quãng 6 thứ: 4 cung
Quãng 6 Trưởng :4, 5 cung
Quãng 7 thứ : 5 cung
Quãng 7 trưởng : 5 ,5 cung
Quãng 8 đúng: 6 cung

(Chú thích nhỏ: các ca sĩ hay nói với ban nhạc: cho em tông Do TRưởng - nghĩa là ca sĩ muốn hát bài đó ở giọng Do Trưởng, yêu cầu ban nhạc đàn ở giọng Do TRưởng heheheh.)

TRong thang âm , người ta quy định 3 bậc quan trọng nhất là bậc 1,4,5 được khi theo số la mã I, IV,V.
Vì sao bậc 4 và 5 cũng được xem là quan trọng? vì khi đàn nốt bậc 1 trên đàn thì sau khoảng 1 giây, các nhà âm thanh học đo được nốt này sẽ cộng hưởng xuống quãng 5 (Do cộng hưởng xuống quãng 5 là Fa- trong thứ tự thang âm thì xếp là bậc 4) và cộn hưởng lên quãng 5 tức là bậc 5 trong thang âm
Bậc I được kí hiệu theo quy ước quốc tế: T (tonal - chủ âm)
Bậc IV_________________________: S ( sub-dominant- hạ át âm)
Bậc V__________________________: D (Dominant- át âm)

Còn trong nhạc atonal - vô điệu tính thì thang âm sẽ gồm 12 bán cung hay nôm na là 12 bậc của thang âm, có khoảng cách bằng nhau là nửa cung và hoàn toàn không có chủ âm, tất cả các bậc đều có tầm quan trọng như nhau và đều có thể là chủ âm tùy theo ý của tác giả.

nhocti
04-05-2010, 01:30
Cấu trúc nhạc cổ điển.

------

Các nhà sử học chia âm nhạc làm 5 thời kỳ :
- Từ khởi thủy tới Phục hưng (thế kỷ thứ 16) : Âm nhạc thời này chỉ dùng để phục vụ tế tự. Đại diện là Palestrina.
- Thời Baroque : tiếp theo Phục hưng và chấm dứt năm 1759. Đại diện với Bach và Handel. Âm nhạc thoát khỏi khuôn viên tu viện và chạy vào cung đình cho đám vua chúa quí tộc phong kiến thong thả ăn chơi.
- Thời cổ điển : Tiếp theo Baroque và chấm dứt ở cuối thế kỷ 18 đầu 19. Với Mozart và Haydn. Beethoven sống cuối cổ điển, là cầu nối giữa hai thời cổ điển và lãng mạn. Âm nhạc thời cổ điển rời khỏi cung đình, tà tà len vào đám trưởng giả học làm sang. Nhạc của Baroque và cổ điển vẫn còn nặng nề khuôn phép, đây là nhạc của pure music, tình cảm bị chế ngự buộc ràng (cho mãi tới khi Beethoven xuất hiện)
- Thời Lãng mạn : chấm dứt vào đầu thế kỷ 20. Nhạc trở thành đại chúng, chui thẳng vào nhà quần chúng nhơn dân. Tình cảm được biểu lộ thong thả tự do, không câu nệ gò bó gì ráo nữa, program music xuất hiện. Phẩm và lượng thời này thiệt dồi dào. Brahms, Schubert, Wagner, Tchaikovsky ... và rất nhiều tên tuổi khác.
- Thế kỷ 20 về sau : đây là giai đoạn của ‘âm thanh và cuồng nộ’, rất nhức cái đầu và đau cái màng nhĩ, rồi thì ... (theo thiển ý) nó tụt cấp luôn tới cái củ tỉ với loại nhạc RAP hiện hành, than ôi !



* * *


Cấu trúc nhạc cổ điển dựa vào sáu yếu tố chánh. Sáu yếu tố này trên nguyên tắc quan trọng ngang nhau. Thực tế thì do sở thích hay do khả năng của từng nhà soạn nhạc mà yếu tố này sẽ quan trọng hơn yếu tố kia. Kết quả là nhạc mỗi thời đại mang sắc thái riêng đã đành, ngay cả trong cùng một thời đại, nét nhạc của mỗi nhạc sĩ cũng mỗi khác.

1. Rythm.
Gồm nhịp điệu và tiết tấu
- Nhịp điệu (meter) làm ta có thể dậm chân hay vỗ tay theo. Nó có thể là 2/4, 3/4, 4/4, ..vv...
- Tiết tấu (tempo) cho biết nhạc phải được chơi nhanh hay chậm. Tiết tấu được phân ra từ Largo (chậm nhứt) tới Prestissimo (nhanh nhứt). Chen giữa hai cực điểm này là một loạt những tiết tấu khác với độ nhanh tăng dần (Grave, Lento, Adagio, Andante, Andantino, Moderato, Allegro, Allegro molto, Vivace, Presto).

Chọn tempo cho bài nhạc là thẩm quyền của ngài nhạc trưởng. Cùng một bản nhạc thu âm nhưng thời gian dài ngắn xê xích chút đỉnh tùy tempo. Bản Bolero của Ravel là một khúc crescendo, trung bình dài độ 15 phút. Daniel Baremboin múa đũa dài nhứt, hơn 17 phút. Nhanh nhứt là Toscanini.
Sách vở kể rằng, Toscanini đã điều khiển dàn nhạc New-York Philharmonic Orchestra chơi Bolero tại Carnegie Hall với sự hiện diện của Maurice Ravel. Tấu khúc kéo dài vỏn vẹn chỉ hơn 12 phút. Sau buổi trình diễn, Ravel đã rượt theo Toscanini đặng... khiếu nại ‘Maestro ! Maestro ! Ngài chơi nhanh vậy hư nhạc của tui hết trọi, trời ơi là trời !’ (bứt râu bứt tóc ...). Toscanini xưa rày hổng ngán ai ráo (ngay cả Mussolini) mà cũng hổng hề (thích) bị chỉ trích bao giờ, bèn điên tiết sủa lợi ‘Mèn ơi, chơi vậy mà còn la làng gì nữa ông ! Than thở vậy là vì ông đã hổng hiểu nhạc của chính mình ! (tỉnh bơ tháo nơ bướm và khuy tay áo đặng còn kịp theo dzợ dzìa nhà). Sau vụ ni thì Arturo Toscanini thề hổng thèm đụng vô nhạc cũa Maurice Ravel nữa !

2. Melody – Âm điệu.
Melody hay tune là một chuỗi những nốt nhạc tiếp nối. Âm điệu một bài nhạc là cái nền làm bản nhạc du dương do đó dễ nghe và dễ nhớ. Âm điệu là yếu tố ngó chừng quan trọng nhứt của dòng nhạc thời Lãng mạn. Thính giả chẳng cần hiểu biết tối thiểu về nhạc cũng vẫn có thể nghe và thích các bản nhạc trầm bổng réo rắt của những tác giả sở trường về âm điệu như Schubert, Tchaikovski, Mendelssohn vv...

3. Texture - Kết cấu.
Đặt nốt nhạc tiếp nối nhau theo hàng ngang là viết melody.
Đặt nốt theo hàng dọc là viết harmony tức hoà âm.

Để tạo ‘bề sâu’ cho một nốt nhạc chánh người ta đặt kèm dọc theo, ngay trên và dưới nốt nhạc này, một loạt những nốt nhạc hổ trợ tương ứng thích hợp khác. Khi những nốt nhạc dọc này được chơi cùng lúc, chúng sẽ tạo ‘chiều sâu’ cho nốt nhạc chánh. Serie này có tên gọi là chords hay âm giai.

Homophonic : nhạc chỉ có một melody với những hoà âm chords đi kèm. Phần lớn nhạc thời Cổ điển và thời Lãng mạn là homophonic.
Polyphonic : nhạc với hai hay nhiều melodies một lần nhưng không có chords. Mỗi bè nhạc giữ một melody riêng. Các melodies đi riêng biệt và cùng lúc với nhau theo phương pháp đối âm counterpoint, còn gọi là counter-note.

Để dễ tưởng tượng vụ counterpoint của polyphonic, tui xin nói về Kim Dung. Dà, Kim Dung. Trong thiên Anh Hùng Xạ Điêu, Quách Tĩnh được nghĩa huynh Châu Bá Thông truyền cho ngón 'Song Thủ Hổ Bác'. Song Thủ vì hai tay xuất hai chiêu hoàn toàn khác nhau, nó tương đương như hai cao thủ xuất chiêu riêng, nhưng hai chiêu ni lại hổ trợ rất mật thiết nhịp nhàng để đường quyền trở nên thập phần uy dũng. Đối phương hoa mắt rồi xây xẩm mặt mày là cái cẳng. Polyphonic chính là ngón song thủ hổ bác này (hay tam tứ thủ hổ bác, tùy theo) không hơn không kém.
Bach của thời Baroque sở trường số một về kỹ thuật polyphonic-counterpoint. Bạn cứ tìm những bản viết theo thể điệu fugue của Bach sẽ nhận ra bản nhạc có hai (hay nhiều) melodies chạy song song, cantata Herz and Mund với Jesu, Joy of Man’s Desiring chẳng hạn. Một bản nhạc khác thường nghe trong mùa Giáng sanh, ‘Gloria’. Phần đầu ‘Canh khuya nghe tiếng hát các thiên thần ...’ là homophonic, phần điệp khúc ‘Glo ...ria in el celsis deo ...’ chính là polyphonic không khác.

Nghe nhiều melodies một lần cũng như nghe nhiều đứa ngứa miệng, a-lát xô lên tiếng một lượt, bởi vậy nên lộn xộn thấy bà (nếu từng đứa nói riêng thì nghe lại yếu xìu hổng đã, khổ vậy đó chớ) Nhưng nghe và để ý kỹ một nhóm nhạc cụ riêng bạn sẽ nhìn ra được melody nhóm này đang chơi, rồi từ đó bạn sẽ nhìn ra cái (hay những) melody còn lại do các nhạc cụ khác đảm trách (dà, mỗi lần để ý một nhóm thôi và phải nghe tới lui nhiều lần nha) Thoạt tiên thì khó khăn lắm lận nhưng xin đừng nản chí, ráng kiên nhẫn kháng chiến trường kỳ thì nhứt định sẽ đạt thắng lợi, từ từ rồi bạn nhận ra dễ dàng từng âm điệu một, và tui xin bảo đảm rằng, bạn sẽ thấy trước và sau này, chưa có ai qua mặt được ông Bach vĩ đại này hết trọi !

Monophonic : phần lớn nhạc nhạc thời trung cổ thuộc loại này. Nhạc chỉ có một melody do một hay nhiều người hát đồng ca. Không chords cũng không counterpoint gì ráo nên nghe chán phèo hà (Chorus trong opera cũng hát đồng ca nhưng là đồng ca 4 bè nghĩa là hát với chords, xin đừng lẫn lộn)

Gây chiều sâu cho nhạc bằng cách đan nốt. Harmony là đan dọc và counterpoint là đan ngang. Đan dọc đan ngang như thế giống như ta dệt vải vậy, nghĩa là ta tạo texture cho âm nhạc. Sau Bach và ngay cả nhạc thời nay kỹ thuật counterpoint vẫn còn được xử dụng nhưng nó không chiếm vị trí quan trọng như thời Baroque của Bach nữa.

4. Tone color – Âm sắc.
Mỗi nhạc cụ có tone color (hay timbre) riêng. ‘Sắc’ của flute khác ‘sắc’ của tuba, ngay cả khi chúng chơi cùng một nốt nhạc. Thậm chí với vĩ cầm, có người còn quả quyết rằng, âm sắc một nốt nhạc sẽ thay đổi nếu bowing khác cách (lên và xuống chẳng hạn).
Trong một dàn đại hoà tấu có chừng 20 loại nhạc khí khác nhau thì cũng có chừng ấy âm sắc. Nhà soạn nhạc giống như họa sĩ trước giá vẽ, phải biết chọn ‘màu’ nhạc thích hợp với từng nhạc cụ để diển tả những cảm xúc khác biệt.

Nhà nhạc học Arthur Elson cho rằng âm thanh phát từ mỗi nhạc khí mỗi khác, nên mỗi nhạc cụ có khả năng bộc lộ tình cảm riêng :
- Violin : diễn tả được mọi tình cảm.
- Viola : buồn da diết.
- Cello : mọi tình cảm (nhưng tiếng của cello gần với giọng nói con người hơn violin).
- Piccolo : nỗi vui hoan lạc, điên rồ
- Oboe : nỗi vui đắm thắm, dịu dàng
- Trumpet : hào hùng.
- Tuba : sức mạnh, thô bạo.
- English horn : buồn bã mơ màng.
- Clarinet : êm ái thuyết phục.
.......
(Vậy chớ English horn là gì ? French horn thuộc dàn kèn đồng và có nguồn gốc từ Pháp. English horn thì chẳng những hổng horn mà cũng hổng English gì ráo. Đây là tên gọi hoàn toàn sai, nó chỉ là cái oboe quá khổ, lớn gấp rưỡi cái oboe bình thường và âm sắc của nó thì hoàn toàn trái ngược với oboe - Xin xem ở trên)

Tone colors được chú trọng nhiều trong thời Lãng mạn. Lúc trước nhạc chỉ là nhạc thuần túy pure music (hay absolute music) nhạc viết khơi khơi, nhạc viết vì nhạc. Tới thời Lãng mạn nhạc viết ra với mục đích diễn tả một tình huống hay kể một câu chuyện, loại nhạc này gọi là program music (hay tone poem, symphonic poem) Wagner hổng thích gọi các vở nhạc kịch của mình là Opera, ổng ngon lành kêu chúng là ‘music drama’ cho tăng màu sắc !

Nếu một nhạc sĩ lãng mạn muốn người nghe nhạc nhận ra tiếng sóng bể kêu gào, tiếng chim hót véo von, tiếng thì thầm của tình nhân, hay lời tung hô chiến thắng vv.. thì chả phải tùy theo trường hợp mà viết nhạc và chọn những nhạc cụ với âm sắc thích hợp. Haydn Mozart thời cổ điển viết pure music, Berlioz Lizt thời Lãng mạn nghiêng về program music. Thông thường program music mới cần, nên mới chú trọng đến tone color nhiều hơn. Nhưng cũng có những nhạc sĩ do năng khiếu, đã xử dụng tài tình tone color vào ngay cả pure music làm dòng nhạc thêm lóng lánh sắc màu.

5. Form- Thể loại.
Nhà soạn nhạc xây dựng tác phẩm theo mô hình kiến trúc, gọi là form. Âm điệu hổng phải là mang nốt nhạc thả nổi khơi khơi vào đó, thả vậy nó rớt hết ra nha ! Nốt nhạc như những viên gạch được ‘gắn chặt’ vào khuôn (đã được nhạc sĩ chọn trước) để tạo thành tác phẩm. Mô hình có thể chặt chẽ, nhưng cũng có thể lỏng lẻo nên rồi méo mó chút đỉnh làm nghe khờ người mà cũng hổng biết nó là form gì ! Tác phẩm theo đúng khuôn dĩ nhiên giúp người nghe dể dàng nhận ra form của nó hơn.

Các forms gồm có :
- Thời Phục Hưng : Motets và Madrigals. Cả hai đều là nhạc hát vocal music.
- Thời Baroque : Passacaglia (dance form) và Fugue.
- Thời Cổ điển : Sonata, Symphony, String quartet, Concerto.
- Thời Lãng mạn : Symphonic poem và tấu khúc cho piano (prelude, polonaise...)
Forms thì còn rất nhiều, tui xin thủng thẳng nói sau khi có dịp.

Trong âm nhạc, nhiều nốt thành phrase, nhiều phrase thành section, nhiều section thành mouvement và các mouvements hợp thành bản nhạc. Mouvements có cấu trúc với các luật lệ riêng mà các nhà soạn nhạc phải tuân theo. Thường các sections trong mouvement có khuynh hướng lập lại, hoặc lập lại y chang hoặc biến dạng hay thêm thắt mở rộng ra chút đỉnh
Tác phẩm được cấu tạo chặt chẽ, bài bản đúng nghĩa tức đúng fondamental forms, là những đứa con hợp pháp. Nghe chúng người ta nhận ra huyết thống của chúng liền tù tì (symphony, sonata, concerto ...). Một số tác giả lấy vài câu vài đoạn của một tác phẩm đã nổi tiếng rồi thêm thắt hoa lá cành vào thành một bài nhạc mới, hình thức này thường thấy và có tên gọi là Theme and variations ...
Nhạc viết không theo form nữa gọi là free form, thấy trong các symphonic poem hay prelude vv..

6. Tonality – Âm chuẩn.
Âm chuẩn là dịch đại, ngó chừng dám sai !
Phần này tùm lum quá. Xin thú thiệt là tui cũng mơ huyền nên xin tóm lại thiệt đơn giản và thiệt gọn (theo khả năng) cho bớt rắc rối.

Nói tới tonality người ta nghĩ tới cung bậc. Mỗi cung có một nốt chủ âm (tông hay tone) và âm giai tức chord của chủ âm này. Tác giả chọn tông rồi viết melody và harmony xoay chung quanh nó.
Consonance là khi các nốt đi theo đúng tông, nhạc khi trình tấu lên nó êm ái mượt mà và nó ... thuận nhĩ. Dissonance là khi các nốt không đúng tông, nhạc cất lên thiệt gồ nghề trúc trắc và ... nghịch nhĩ.

Chuyện consonance ngó chừng được ưa thích nên nếu muốn du dương tình tứ truyền cảm thì chắc chắn nhạc phải đặt đúng tông. Nhưng nếu muốn diễn tả những tình cảm khó chịu hoang mang hoặc muốn nhấn mạnh để làm nổi một âm điệu trong dòng nhạc thì các nhà soạn nhạc phải chọn phương cách dissonance để gây ấn tượng. Dissonance không nhất thiết phải đảo lộn tùng phèo cả âm giai (nghĩa là dùng hẳn một âm giai khác) mà lắm khi chỉ cần đổi một nốt và đổi thiệt nhẹ (tăng cao hay hạ thấp hơn nửa tông) chừng như cũng đã đủ để làm ... đất bằng dậy sóng !
Ngay cả khi cùng một tông, chỉ cần đổi từ trưởng major ra thứ minor là dòng nhạc cũng đã khác. Major thì hùng tráng vui tươi trong khi minor lại buồn bã mơ màng.

Nhưng rồi thuận và nghịch lại còn tùy, do tánh tương đối của nó. Người ta nói rằng : nghe nghịch mãi riết quen, rồi sẽ biến thành thuận liền hà (bởi vậy đờn ông lấy vợ ít lâu y hình ai cũng sanh lòng hiếu thảo ráo trọi !) Thành ra nghịch nhĩ của Palestrina (Phục hưng) hổng thấm tháp chi với nghịch nhĩ của Schubert (Lãng mạn), và một ngày đẹp trời Schubert (thế kỷ 19) vặn CD nghe Stravinsky (thế kỷ 20) dám sẽ lăn đùng ra chết giấc, cho dù ổng cũng ngầu vụ dissonance hết ý !!!

Tác phẩm nổi tiếng ‘Erlkoring - The Elf King’ đã được Schubert viết với kỹ thuật nghịch nhĩ này. Đây là một music program ở dạng lied (ca khúc), lấy ý từ thơ của von Goethe. Erlkoring kể chuyện một người cha trên lưng ngựa, với đứa con nhỏ trong tay, ráng băng qua cánh rừng già để cố gắng thoát khỏi nanh vuốt của tử thần Elf chạy phía sau. Trong bài nhạc, Schubert đã để người cha hát giọng thấp và đứa bé hát giọng cao hơn. Nhạc chính của hai cha con được viết trên cùng một tông. Thế nhưng ... Tử Thần cất tiếng êm ái như tơ và hát ở một tông khác. Nhạc liên tục đổi tông lia chia rất ... suspense. Rồi ba lần thằng nhỏ kêu lên ‘Tiá ơi tía ơi’ vì nó quá sợ hãi. Để tạo cảm giác khủng khiếp này, Schubert đã cho giọng đứa bé lạc đi, bằng cách cho nó hát cao hơn nhạc (piano) đệm nửa nốt. Thiệt là dissonant lỗ tai người nghe, tạo cảm giác khó chịu hồi hộp muốn chết !!

Schubert đã dùng hai tones để tạo chuyện nghịch nhĩ, nhưng hai tone này cũng chỉ tuần tự thay phiên nhau, xong cái này mới qua cái kia chớ chúng không hề được hát lên cùng một lần. Tới thế kỷ 20 để đổi mới cho âm nhạc, người ta tà tà làm màn sáng tạo. Một trong những phẩu thuật lift-face này là nhạc được chơi trên 2-3 tông và (má ơi) ... chơi cùng lúc. Tên gọi của nó là polytonality (hay bitonality, tritonality ... tùy theo). Tiền phong trong phong trào polytonality này phải kể tới Prokofiev, Bartók, Stravinsky...

Một hình thức tonality mới nữa là ... atonality, nhạc không có tông, viết với ‘12 tone serial system’.
Đại khái thế này : tonality viết nhạc với 7 nốt chính, chúng cách nhau 1 tông hay ½ tông, rồi dùng diese và bemol để thay đổi khoảng cách các nốt nhạc cho hợp theo âm chuẩn. Atonality không có âm chuẩn nên không cần diese hay bemol để làm chuyện thăng giáng nữa, 7 nốt nhạc biến thành 12 nốt với khoảng cách đồng đều đúng ½ tông, 12 tone serial system là vì thế.

Cả polytonality lẫn atonality là những tiếng động cuồng nộ và man rợ nên cho tới nay y hình chúng đã cứ vẫn là những âm thanh lạc lõng và cô độc !
________________

Bài viết của Mme Ngo


Nhịp điệu : time signature . Vd nhip 2/4, 3/4, 4/4...

Tempo: là tốc độ .Hay được ghi ở đầu bài để cho biết tác giả muốn ta biểu diễn bài này ở tốc độ đã ghi : như allegro là tốc độ nhanh, andante là khoan thai, largo là chậm...

Tiết tấu thì vẫn là Rhythm

Âm nhạc chia ra đơn vị nhỏ nhất là motiv ( một nhóm nốt , ít nốt thôi) sau đó motiv mở rộng ra thành phrase (ý nhạc, vế nhạc. Giống như tỏng văn học , hết 1 ý người ta có 1 dấu phẩy), sau đó là sentence là câu nhạc.Tiếp theo là đoạn nhạc không nhớ tiếng anh có phải là section hay không nhưng nhiều phần là không đúng. Nhiều đoạn nhạc là thành 1 bài nhạc.

Movement là chương nhạc. Chữ này chỉ sử dụng cho tác phẩm nhiều chương chứ không dùng để định nghĩa cấu trúc bài nhạc hay là nhiều đoạn nhạc gộp lại thì thành movement thì không phải.
vd: Ballade số 1 - Chopin cho piano thì đàn 1 lèo từ đầu đến cuối - là 1 bài nhạc độc lập, sẽ gọi là work, có khi sẽ gọi là piece nhưng ít hơn.
Còn sonate số 1 cho piano của Beethoven thì là 1 tác phẩm gồm 4 chương tức là a work or a piece of Beethoven has 4 movement do B chia ra rất rõ với mỗi chương có tốc độ khác nhau, điệu tính ( giọng điệu )khác nhau.

Túm lại. kết cấu tác phẩm âm nhạc gần giống tác phẩm văn chương. KHi nào rảnh sẽ lên 8 với pà con tip.