PDA

View Full Version : Lịch sử âm nhạc cổ điển thời kỳ đương đại (Arale dịch)



le Ara
11-07-2008, 23:44
Âm nhạc cổ điển đương đại

Theo nghĩa rộng nhất, âm nhạc đương đại là bất kì thể loại âm nhạc nào được viết vào thời kì hiện nay. Trong ngữ cảnh của âm nhạc cổ điển, thuật ngữ này dùng để nói về âm nhạc được viết vào cuối một phần tư thế kỉ trước, đặc biệt là những tác phẩm sau năm 1975. Đã có các cuộc tranh luận về việc thuật ngữ này có thể áp dụng cho âm nhạc với bất cứ một phong cách nào, hay chỉ dành cho các nhà soạn nhạc viết thể loại âm nhạc tiên phong (cấp tiến), hay chỉ dành cho âm nhạc hiện đại. Có một vài cách sử dụng từ "Đương đại" như một từ đồng nghĩa cho "Hiện đại", đặc biệt trong các môi trường hàn lâm. Theo một cách hạn chế hơn nữa, người ta sử dụng thuật ngữ này cho các nhà soạn nhạc còn đang sống và các tác phẩm của họ (có khi chỉ cho các tác phẩm hiện tại của họ). Từ khi "đương đại" là một từ để mô tả một trạng thái thời gian, hơn là một phong cách hay một ý tưởng thống nhất, thì không có tiêu chuẩn phổ thông được tán thành nào để phân biệt những điều này.

Về lịch sử
Trong những năm đầu thế kỉ 20, âm nhạc đương đại gồm có chủ nghĩa hiện đại, kỹ thuật 12 âm, âm nhạc phi điệu tính, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa hoài cổ, chủ nghĩa xây dựng, Tân Khách quan, trái âm và một số lượng lớn nghịch âm, phức điệu, chủ nghĩa dân tộc, xã hội và chủ nghĩa xã hội, và tân cổ điển. Trong những năm năm mươi, âm nhạc đương đại nói chung nghĩa là âm nhạc 12 âm, còn những năm sáu mươi là âm nhạc 12 âm, âm nhạc hậu 12 âm, tính vô định hình, âm nhạc điện tử bao gồm âm nhạc máy tính, truyền thông hỗn hợp, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc biến đổi, và sau đó là âm nhạc tối giản, hậu tối giản, Tân Đơn giản, Tân phức, và tất cả những điều trên.

Từ những năm 1970 đã có thêm nhiều phong cách đa dạng, với nhiều trường phái được gọi hay được đặt tên. Tuy nhiên, nói chung thời kì này có 3 khuynh hướng rộng. Đầu tiên là sự tiếp nối truyền thống của tư tưởng cấp tiến hiện đại, bao gồm chủ nghĩa âm nhạc thực nghiệm. Thứ hai là các trường phái tìm cách tái sinh cho phong cách có âm điệu dựa trên cơ sở những thực tiễn chung trước đó. Xu hướng thứ 3 tập trung vào hòa âm nốt 3 phi chức năng, được minh họa bởi những nhà soạn nhạc sáng tác theo chủ nghĩa tối giản và liên hệ đến truyền thống.

Sáng tác âm nhạc Đương đại đã thay đổi cùng với ảnh hưởng của sự phát triển trong việc sử dụng máy tính phục vụ cho công việc sáng tác, nó cho phép các nhà soạn nhạc nghe được phần biểu diễn của tổng phổ trước khi trình diễn; họ soạn nhạc bằng cách xếp các phần đã được trình diễn lên trước các phần khác và phổ biến lên mạng internet. Tuy nhiên còn quá sớm để có thể nói kết quả cuối cùng của làn sóng tin học hóa sẽ ảnh hưởng đến âm nhạc như thế nào.

Toàn bộ lịch sử là nhất thời, và lịch sử đương đại thậm chí còn mang tính nhất thời hơn, bởi vì những vấn đề nổi cộm của việc phổ biến tác phẩm và sức mạnh của xã hội. Người trong cuộc và người ngoài cuộc thường xem trọng việc ai là người được biết đến hơn là bản thân âm nhạc. Trong một kỷ nguyên với khoảng 40,000 nhà soạn nhạc chỉ trong một chương hòa nhạc tại Mỹ, thì việc có được buổi biểu diễn đầu tiên đã khó, buổi diễn thứ hai còn khó khăn hơn. Người ta thấy được bài học về những nhà soạn nhạc ít tiếng tăm trước đây trở nên quan trọng gấp đôi sau đó trong âm nhạc đương đại, nơi mà họ được xem như những nhà tiên phong trước khi được đưa vào danh sách chính thức, và là nơi những tác phẩm của họ sau đó được ngưỡng mộ như những hình mẫu về phong cách; những điều đã không được công nhận vào chính thời của họ.



le Ara dịch


Nguồn tài liệu tham khảo
http://www.brainyencyclopedia.com/encyclopedia/c/co/contemporary_music.html (http://www.brainyencyclopedia.com/encyclopedia/c/co/contemporary_music.html)
http://www.reference.com/browse/wiki/Contemporary_classical_music (http://www.reference.com/browse/wiki/Contemporary_classical_music)

le Ara
11-07-2008, 23:49
Những xu hướng trong âm nhạc đương đại

Chủ nghĩa hiện đại
Nhiều đặc trưng chủ chốt của xu hướng hiện đại cực đoan vẫn còn tồn tại, hoặc chỉ mới biến mất gần đây và vẫn còn có những nhà soạn nhạc, những nghệ sĩ và thính giả là hạt nhân hoạt động tích cực, tiếp tục nâng cao những ý tưởng và sự hình thành của chủ nghĩa Hiện đại. Ví dụ, nhà soạn nhạc Elliott Carter vẫn còn làm việc rất tích cực, và cả Lukas Foss. Khi mà trường phái hiện đại cực đoan về soạn nhạc như âm nhạc 12 âm, không còn nằm ở trung tâm của những lời tán tụng hoa mỹ, thì thời kỳ đương đại đang bắt đầu với quá trình phân loại qua thể thức hiện đại, tìm kiếm những tác phẩm giàu giá trị thực sự.

Chủ nghĩa hiện đại cũng thể hiện rõ trên bề mặt hoặc được ngụ ý trong các tác phẩm âm nhạc trong một phạm vi rộng những nhà soạn nhạc đương đại, trong khi âm nhạc phi điệu tính đã mất đi phần lớn khả năng làm kinh ngạc người nghe, và thậm chí những đoạn phim có sử dụng những trích đoạn âm nhạc rõ ràng đã bén rễ trong ngôn ngữ âm nhạc hiện đại. Những nhà soạn nhạc hiện đại bao gồm Harrison Birtwistle, Alexander Goehr, Judith Wei, Thomas Adès, Magnus Lindberg và Gunther Schuller.

Âm nhạc 12 âm
Một cách đặc trưng hơn nó còn có tên gọi là 12 âm “đầy đủ” hoặc 12 âm “hỗn hợp”, một trong những xu hướng quan trọng nhất thời hậu chiến, được dẫn dắt bởi những nhà soạn nhạc như Pierre Boulez, Bruno Maderna, Luigi Nono, và Karlheinz Stockhausen tại Châu Âu, và bởi Milton Babbitt, Donald Martino, và nhà soạn nhạc Charles Wuorinen ở Mỹ.

Những tác phẩm âm nhạc sử dụng một tập hợp có trật tự hoặc vài tập hợp như vậy là có thể trở thành cơ sở cho toàn bộ tác phẩm. Những thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng là hệ mười hai âm, hoặc kỹ thuật mười hai âm, đều được nói đến như các cách khác nhau cho hình mẫu của chủ nghĩa âm nhạc mười hai âm.

Chủ nghĩa hậu hiện đại
Chủ nghĩa hậu hiện đại được hình thành bởi nhiều nhà phê bình và trở thành một ảnh hưởng mạnh mẽ trong trong âm nhạc cổ điển đương đại. Trong khi những cách giải thích về việc chủ nghĩa hậu hiện đại là gì, tại sao nó lại có một ảnh hưởng làm thay đổi rộng rãi, và những câu trả lời về việc nó "tốt" cho âm nhạc hay không, hay thậm chí bản thân nó có tốt hay không vẫn còn đang tiếp tục – thì đã có một sự đồng thuận rộng rãi rằng các chương trình biểu diễn khí nhạc và "âm nhạc nghệ thuật" có nhiều ý tưởng hấp dẫn và các tác động từ một nền văn hóa rộng hơn; và kết quả của những ảnh hưởng này, dù tốt hơn hay tệ hơn, thì cũng có thể được phát hiện ra ngay trong các tác phẩm âm nhạc. Những ví dụ bao gồm chủ nghĩa đa phong cách, sắp xếp đa dạng và nghệ thuật cắt dán, sự tham khảo nhạc pop, sử dụng những đoạn nhạc ngắn, tìm kiếm thanh âm và kết hợp giọng nói, sự chuyển đổi từ việc tăng dần hình thức nửa cung đến việc tăng thêm nhiều nốt ba, việc đặt các thể loại âm nhạc cạnh nhau, sự sử dụng những cách hòa âm phối khí mới với các nhạc cụ đến từ những nền văn hóa khác, và sự kết hợp của bản nhạc với video và các phương tiện truyền thông hình ảnh. Những nhà soạn nhạc chủ chốt bao gồm nhà soạn nhạc người Scotlent James MacMillan ( người đã xây dựng nên nhiều nguồn khởi đầu phong phú và đa dạng như dàn nhạc cho nhà thờ, thuyết thần học tự do Nam Mỹ và các kỹ thuật tiên phong tại Ba lan những năm 1960), nhà soạn nhạc người Mỹ Michael Torke (người xây dựng nên âm nhạc cổ điển truyền thống, chủ nghĩa tối giản và âm nhạc đại chúng) và Mark-Anthony Turnage từ nước Anh (xuất phát từ nhạc jazz , âm nhạc đồng quê nước Anh và nhóm tư tưởng cấp tiến).

Chủ nghĩa đa phong cách.
Chủ nghĩa phong cách là sự sử dụng nhiều phong cách hoặc kỹ thuật trong âm nhạc, và được xem như một đặc trưng của hậu hiện đại. Những nhà soạn nhạc theo chủ nghĩa đa phong cách bao gồm William Bolcom, Sofia Gubaidulina, George Rochberg, Frederic Rzewski, Alfred Schnittke, Ezequiel Viñao và John Zorn Ezequiel.

Chủ nghĩa khái niệm
Khi Duchamp đưa ra trình bày khu vực vệ sinh trong một nhà bảo tàng nghệ thuật, anh đã tấn công một đòn rõ ràng nhất cho khái niệm luận nghệ thuật. John Cage là nhà soạn nhạc tiêu biểu cho chủ nghĩa khái niệm và một thời gian sau đó, chủ nghĩa này xuất hiện những nhà soạn nhạc có liên quan tới xu hướng Fluxus. Một tác phẩm thuộc chủ nghĩa khái niệm là tác phẩm mà nhà soạn nhạc xem trọng việc xây dựng khung hình mẫu hơn nội dung của bản nhạc. Một ví dụ là tác phẩm “56 Blows” của Alvin Singleton, một tác phẩm mà sự độc đáo và khác biệt đã được đề cập đến trong một cuộc tranh luận trên sàn Thượng nghị viện.

Chủ nghĩa tối giản và chủ nghĩa hậu tối giản
Thế hệ thuộc về chủ nghĩa tối giản vẫn còn đóng một vai trò nổi bật trong các sáng tác mới. Philip Glass vẫn đang mở rộng chủ đề giao hưởng của ông, trong bản “On the Transmigration of Souls” ( Sự luân hồi của những linh hồn) của John Adams, một bản thánh ca kỷ niệm những nạn nhân của cuộc tấc công Ngày11 tháng 9 năm 2001đã chiến thắng tại giải thưởng Pulitzer. Steve Reich đã và đang khai thác mảng opera điện tử ( đáng chú ý nhất là vở “Three Tales” - Ba truyền thuyết) và Terry Riley thì rất tích cực trong việc biên soạn các tác phẩm âm nhạc và khí nhạc cho nhà hát. Nhưng bên ngoài giới hạn của bản thân chủ nghĩa tối giản, những ẩn ý trong hòa âm tam tấu phi chức năng giờ đây đã trở nên tầm thường, thậm chí đối với những nhà soạn nhạc chưa được coi là thuộc chủ nghĩa tối giản khu vực Đông Nam Á.

Nhiều nhà soạn nhạc đang mở rộng những nguồn tài nguyên âm nhạc của chủ nghĩa tối giản từ nhạc rock, các giai điệu và khí cụ trên thế giới, chủ nghĩa 12 âm, và nhiều kỹ thuật khác. Kyle Gann coi Khúc dạo đầu về đường thời gian (Time Curve Preludes) của William Duckworth như một tác phẩm đầu tiên của chủ nghĩa “hậu tối giản”, và ông cho rằng John Adams là một nhà soạn nhạc “hậu tối giản”, hơn là một người thuộc chủ nghĩa tối giản thực sự. Gann định nghĩa "chủ nghĩa hậu tối giản " là sự tìm kiếm sự phức tạp hơn trong hòa âm và giai điệu, đại diện bởi những nhà soạn nhạc như Mikel Rouse và Glenn Branca. Một đặc trưng đáng chú ý khác là lối kể chuyện và biểu hiện xúc cảm giành được vị thế ưu tiên hơn so với kỹ thuật. Chủ nghĩa hậu tối giản cũng là một xu hướng trong hội họa và điêu khắc, bắt đầu từ cuối thập kỉ 60. ( Xem tác phẩm lumpers/splitters)

Các nhà soạn nhạc khác đôi khi được đề cập đến như những tác giả thuộc chủ nghĩa tối giản, bao gồm Erkki-Sven Tüür, Peteris Vasks, Giya Kancheli, Arvo Pọrt, Gavin Bryars, Lepo Sumera, Valentin Silvestrov, Veljo Tormis, Ingram Marshall, Kevin Volans, Daniel Lentz, Louis Andriessen, Frederic Rzewski, và nhiều nhà soạn nhạc liên quan đến tuyển chọn của nhóm Tiếng vang “Bang on a Can”.

Âm điệu thời hậu cổ điển
Những khía cạnh khác của hậu hiện đại có thể được nhìn thấy trong âm điệu thời “hậu cổ điển”, đã có được sự ủng hộ của những nghệ sĩ Michael Daugherty, Elena Kats-Chernin và Tan Dun.

Ảnh hưởng của "Âm nhạc Thế giới"
Số lượng ngày càng tăng của những nhà soạn nhạc sử dụng các nhạc cụ pha trộn giữa phương Tây và không thuộc phương tây, như nhạc cụ gamelan của Indonesia, nhạc truyền thống Trung Quốc, ragas của nhạc cổ điển Ấn Độ. Đã có sự khám phá về âm sắc Tây Âu và âm sắc không thuộc phương Tây, thậm chí trong những tác phẩm có cấu trúc tương đối theo truyền thống. Điều này có thể thấy trong nội dung các tác phẩm thuộc trường phái hậu tối giản, như các tác phẩm chịu ảnh hưởng từ âm nhạc dân gian vùng Bali của nhà soạn nhạc Janice Giteck và Evan Ziporyn, những bản nhạc bandura của Julian Kytasty, hay trong nội dung những âm điệu của trường phái hậu cổ điển, như trong âm nhạc của Bright Sheng, hoặc trong nội dung xuyên suốt các tác phẩm phong cách hiện đại.

Ảnh hưởng của nhạc Rock
Tương tự như vậy, nhiều nhà soạn nhạc đã xuất hiện từ những năm 80 là những người chịu ảnh hưởng nặng của nhạc rock. Số lượng các nhà soạn nhạc này rất nhiều, như Scott Johnson và Steven Mackey lúc đầu là các nhạc sĩ dòng nhạc rock và chỉ dịch chuyển vào lĩnh vực âm nhạc kí âm sau đó. Các nhà soạn nhạc đáng chú ý khác đã xây dựng âm nhạc trên nền nhạc rock bao gồm Annie Gosfield, Evan Ziporyn, Julia Wolfe, Michael Gordon, David Lang, John Zorn, Steve Martland, Ben Johnston, Anne LeBaron, Kitty Brazelton, Glenn Branca, và Nick Didkovsky. Rất nhiều những nhà soạn nhạc này ( Gordon, Lang, Wolfe, Ziporyn, Martland, Branca) là những nhà soạn nhạc có định hướng theo chủ nghĩa tối giản, nhưng một vài người ( như Didkovsky, Brazelton) thì không rõ rệt.

Chủ nghĩa lịch sử
Một số nhà soạn nhạc đã sử dụng cách tiếp cận về chủ nghĩa lịch sử để sáng tác, sử dụng các phong cách đa dạng từ những thời kỳ trước. Trước đây đã có vài nhà soạn nhạc thử xâm nhập vào lĩnh vực này ( Alfred Schnittke), trong khi những người khác theo đuổi nó với nhiều mức độ khác nhau và bỏ đi những phong cách khác.

Một vài tác phẩm theo phong cách tối giản, như chủ đề "Oi me lasso" của Gavin Bryars sử dụng tinh thần thời Trung cổ. Những nhà soạn nhạc khác đi theo xu hướng thời Phục hưng, baroque, và những phong cách cổ điển với nhiều mức độ khác nhau của chủ nghĩa thuần túy (Fritz Kreisler, Robert Casadesus, Jordi Savall, Rene Clemencic, Thomas Binkley, Benjamin Bagby, Joseph Dillon Ford, Ladislav Kupkovič, Winfried Michel, một vài nhà soạn nhạc của nhóm xã hội Delian, và nhóm Vox Saeculorum). Xu hướng này có liên quan đến âm nhạc sơ khai thời kì Phục hưng và một số nhà soạn nhạc lịch sử chủ nghĩa bị ảnh hưởng bởi sự hiểu biết riêng của họ với thực tiễn khí nhạc của những thời kì trước (Alexandre Danilevsky, Paulo Galvão, Roman Turovsky-Savchuk).

Chủ nghĩa lịch sử có thể cũng được kết hợp với chủ nghĩa thiếu số, chủ nghĩa hậu thiểu số, và âm nhạc thế giới.

Chủ nghĩa thực nghiệm
Một sự xu hướng quan trọng trong âm nhạc đương đại kéo theo việc mở rộng phạm vi của việc thực hiện điệu bộ hay cử chỉ của nhạc công, ví dụ trong tác phẩm của George Crumb. Nhóm tứ tấu Kronos đã để lại những ấn tượng biểu diễn tích cực trong các tác phẩm âm nhạc đương đại Mỹ dành cho tứ tấu đàn dây, họ trôi theo cảm giác hứng khởi khi chơi nhạc và kéo theo việc thay đổi tư thế tùy theo những âm thanh cất lên từ nhạc cụ.

Những nhà soạn nhạc Châu Âu sử dụng nhiều các kỹ thuật mở rộng bao gồm Helmut Lachenmann, Sciarrino và Heinz Holliger Salvatore.

Âm nhạc Điện tử
Điện tử giờ đây là một phần trong xu hướng chủ đạo để tạo ra âm nhạc. Các cuộc biểu diễn những tác phẩm thông thường thường sử dụng những bộ tổng hợp âm thanh midi để hỗ trợ hoặc thay thế những nhạc công bình thường. Xoay vòng, chơi các đoạn mẫu, và (đôi khi) trống điện tử cũng có thể được sử dụng. Tuy nhiên sự hình dung trước đây về âm nhạc điện tử ( âm nhạc cụ thể, điện âm học ...) – như là một sự tìm kiếm âm thanh thuần khiết và sự tương tác với bản thân phần cứng - tiếp tục tìm thấy một chỗ đứng trong việc sáng tác, từ những tác phẩm thành công về mặt thương mại đến những tác phẩm nhằm vào những thính giả kỹ tính. Ví dụ như các tác phẩm của Michel Chion.

Chủ nghĩa lãng mạn mới
Sự hồi sinh của chủ đề âm sắc mở rộng rất hưng thịnh vào những năm đầu của thế kỷ 20, và tiếp tục trong thời kỳ đương đại, mặc dù nó không còn được coi là gây sửng sốt hoặc gây tranh luận như trước. Những nhà soạn nhạc làm việc theo phong cách lãng mạn mới bao gồm John Corigliano, George Rochberg ( trong một ít những tác phẩm của ông sau năm1971), David Del Tredici và Krzysztof Penderecki ( sau khoảng năm 1975).


Chủ nghĩa đơn giản mới.
Một xu hướng tại nước Đức trong cuối những năm 70 và đầu những năm 80, phản ứng lại với sự đa dạng của những chiến lược nhằm khôi phục tính chủ quan trong sáng tác. Nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất của chủ nghĩa đơn giản mới là Wolfgang Rihm, người đã đấu tranh cho sự bay bổng của cảm xúc của Chủ nghĩa lãng mạn cuối thể kỉ 19 và Chủ nghĩa biểu hiện đầu thế kỉ 20. Được gọi là “Die neue Einfachheit” trong tiếng Đức, nó còn có thuật ngữ là " Chủ nghĩa lãng mạn mới ", "Tân chủ quan" "Nội tâm mới” “Chủ nghĩa nhục cảm mới" " Chủ nghĩa biểu hiện mới" và “Âm sắc mới".

Những phong cách âm nhạc tìm thấy ở những quốc gia khác đôi khi có liên quan đến xu hướng Bình dị Mới tại nước Đức bao gồm cái gọi là "Chủ nghĩa tối giản thần thánh" của gia đình nhà Pole Henryk Górecki và nhà Estonian Arvo Pärt ( trong những sáng tác của họ sau năm 1970), cũng như nhà soạn nhạc người Anh John Tavener, người không giống với những nhà soạn nhạc của chủ nghĩa bình vị mới đã quay ngược trở lại với những hình mẫu của thời Phục hưng vàTrung cổ, tuy nhiên, về mặt cảm hứng thì nhiều hơn so với Chủ nghĩa lãng mạn cuối thể kỉ19. Những tác phẩm tiêu biểu quan trọng bao gồm Bản giao hưởng số 3 "Symphony of Sorrowful Songs" (Bản nhạc giao hưởng về những khúc ca buồn" ( năm1976) của Gôrecki, “Cantus in memoriam Benjamin Britten” (Ca khúc về kỷ niệm của Benjamin Britten) (năm 1977) của Pärt, “The Veil of the Temple” (Tấm màn che của ngôi đền) (năm 2002) của Tavener.

Chủ nghĩa phức tạp mới
"Chủ nghĩa phức tạp mới" là một hiện tượng trong bối cảnh âm nhạc đương đại cấp tiến Châu Âu ngày nay, cái tên được đặt để đối nghịch lại với chủ nghĩa đơn giản Mới. Trong nhóm đa dạng này có Richard Barrett, Brian Ferneyhough, James Dillon và Michael Finnissy.

Âm nhạc huyền ảo
Được coi là mẫu mực trong các tác phẩm của Hugues Dufourt, Gérard Grisey, Tristan Murail, và Horatiu Radulescu. Nhiều sáng tác của Kaija Saariaho một vài tác phẩm của Claude Vivier cũng bị ảnh hưởng bởi những tác giả thuộc trường phái âm nhạc huyền ảo.

Âm nhạc thánh ca đương đại
Vào đầu thế kỷ, Eric Whitacre đã đạt được sự chú ý đáng kể do việc kết hợp âm nhạc có giai điệu với những chùm âm thanh và những kỹ thuật thực nghiệm tương tự. Mặc dù còn quá sớm để nhận rõ những khuynh hướng âm nhạc trong thế kỉ 21, tinh thần của âm nhạc thực hành đã thống trị vào những thập niên trước của thế kỷ thứ 20 - có vẻ sẽ còn tiếp tục thông qua những tác phẩm của Karl Jenkins, John Rutter, Kentaro Sato và Morten Lauridsen trong số những tác phẩm khác.



le Ara dịch
Nguồn tài liệu tham khảo
http://www.brainyencyclopedia.com/encyclopedia/c/co/contemporary_music.html (http://www.brainyencyclopedia.com/encyclopedia/c/co/contemporary_music.html)
http://www.reference.com/browse/wiki/Contemporary_classical_music (http://www.reference.com/browse/wiki/Contemporary_classical_music)

no family
15-08-2008, 12:44
Tài liệu bạn dịch có chỗ thiếu sót. Nhắc đến âm nhạc 12 âm mà không hề đả động đến trường phái Viên mới gồm 3 thành viên là Shoenberg, Berg, Webern thì quả thật thiếu sót lớn quá...