Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Hòa nhạc TOYOTA 2014 [Lưu trữ] - Diễn đàn nhạc cổ điển Việt Nam (Vương Quốc Nhạc Cổ Điển)

PDA

View Full Version : Hòa nhạc TOYOTA 2014



Ù Ù Cạc Cạc
22-07-2014, 11:29
Quỹ Toyota Việt Nam, Công ty ô tô Toyota Việt Nam và Dàn nhạc Giao Hưởng Việt Nam trân trọng thông báo tổ chức chương trình “Hòa nhạc Toyota 2014” (Toyota Concert Tour 2014). Đây là năm thứ 17 Chương trình Hòa nhạc Toyota được tổ chức, kể từ năm 1998 tại Việt Nam. Năm nay, chương trình sẽ diễn ra tại 3 thành phố lớn bao gồm Hà Nội, Buôn Ma Thuột và TP. Hồ Chí Minh với 4 đêm diễn: ngày 01 & 02/08/2014 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, ngày 08/08/2014 tại Trung tâm văn hóa tỉnh Đắk Lắk và ngày 11/08/2014 tại Nhà hát TP. Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên chương trình tới Buôn Ma Thuột nhân Năm Du lịch Quốc gia 2014 “Đại ngàn Tây Nguyên” với mong muốn thổi một làn gió mới tới vùng đất đầy nắng gió này.

Chương trình Hòa nhạc Toyota 2014 được dàn dựng công phu và trình diễn bởi Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, dưới sự chỉ huy của Nhạc trưởng tài ba người Nhật Bản Honna Tetsuji, cùng tiếng đàn tài hoa của nghệ sĩ ưu tú cello Trần Thị Mơ, là sự kết hợp của âm nhạc đa dạng về màu sắc, phong phú về thể loại. Chương trình được lựa chọn từ các tác phẩm âm nhạc kinh điển với giai điệu trữ tình, lãng mạn của các tác giả Glinka, Elgar và Tchaikovsky đến các tác phẩm âm nhạc hiện đại với giai điệu đầy hân hoan, ấn tượng, nhịp điệu khó quên của tác giả Leroy Anderson.

Đặc biệt, chương trình năm nay lần đầu tiên có sự tham dự của giọng hát đầy nội lực và đam mê Tùng Dương. Chùm ca khúc do ca sĩ Tùng Dương thể hiện gồm “Trường ca Sông Lô”, “Chiếc khăn Piêu”, “Bài ca hy vọng” hay “Người lái đò trên sông Po Ko” với các giai điệu hào sảng và tươi sáng sẽ mang đến cho người nghe nhiều cảm xúc đặc biệt.

Tại buổi họp báo giới thiệu Chương trình, ông Nguyễn Trí Dũng – Giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam phát biểu: “Chương trình “Hòa nhạc Toyota 2014” được dàn dựng công phu chắc chắn sẽ mang tới cho quý vị khán thính giả những đêm nhạc hết sức phong phú, đặc sắc và tràn đầy cảm xúc bởi sự điêu luyện và chất lượng trong lĩnh vực chuyên môn, và bởi nội dung chương trình được chọn lựa kỹ càng, hòa quện bởi những tác phẩm cổ điển kinh điển của thế giới cùng những ca khúc nổi tiếng, những giai điệu quen thuộc của các tác giả gạo cội Việt Nam. Một điều đặc biệt trong chương trình năm nay đó là lần đầu tiên nhạc giao hưởng được đến với đồng bào Tây Nguyên, tại tp. Buôn Ma Thuột, chương trình “Hòa nhạc Toyota 2014” vinh dự được chọn là chương trình kỷ niệm Năm Du lịch Quốc gia “Đại ngàn Tây Nguyên”.

Bà Đoàn Thị Yến, Phó Chủ tịch Quỹ Toyota Việt Nam – Phó Tổng giám đốc Công ty ô tô Toyota Việt Nam chia sẻ tại buổi họp báo: “Suốt 17 năm qua, Công ty ô tô Toyota Việt Nam và nay là Quỹ Toyota Việt Nam luôn tự hào đồng hành cùng Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam với mong muốn hỗ trợ việc phổ biến ngày càng sâu rộng âm nhạc cổ điển đến với đông đảo công chúng, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của hàng nghìn khán thính giả yêu nhạc Việt Nam, cũng như đóng góp cho sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam. Năm nay, nhân Năm du lịch Quốc gia “Đại ngàn Tây Nguyên”, chương trình lần đầu tiên đến Buôn Ma Thuột, hy vọng sẽ mang một làn gió âm nhạc mới mẻ tới người dân Tây Nguyên. Cùng với đó, toàn bộ số tiền bán vé của các đêm nhạc đều sẽ được sử dụng cho “Chương trình Học bổng Toyota Hỗ trợ Tài năng trẻ Âm nhạc Việt Nam”. Chúng tôi trân trọng đặt niềm tin vào thế hệ trẻ và mong rằng sự hỗ trợ này sẽ mang đến cho các tài năng trẻ thêm đam mê, thêm nỗ lực để trở thành lớp nghệ sĩ tài năng tương lai của âm nhạc Việt Nam.”

Lịch trình lưu diễn cụ thể của Chương trình Hòa nhạc Toyota 2014 như sau:



Thành phố

Địa điểm biểu diễn

Thời gian



Hà Nội

Nhà Hát Lớn Hà Nội
Số 1, Tràng Tiền, Hà Nội

20h00, 01 & 02/08/2014
(Thứ Sáu & Thứ Bảy)



Buôn Ma Thuột

Trung tâm văn hóa tỉnh Đắc Lắc
Số 2, Hùng Vương, TP.Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk

20h00, 08/08/2014
(Thứ Sáu)



Hồ Chí Minh

Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh
Số 7, Công trường Lam Sơn, Quận 1, Tp HCM

20h00, 11/08/2014
(Thứ Hai)




Kể từ năm 1998, Công ty ô tô Toyota Việt Nam và nay là Quỹ Toyota Việt Nam đã tài trợ cho Dàn nhạc tổ chức Chương trình Hòa nhạc Toyota hàng năm. Đến năm 2007, Chương trình được đổi tên thành Chương trình Hòa nhạc Toyota Xuyên Việt với các chuyến lưu diễn tại các thành phố lớn trên cả nước. Năm 2012, lần đầu tiên chương trình được mở rộng quy mô ra ba nước Đông Dương với tên gọi Chương trình Hòa nhạc Toyota 2012 Việt Nam – Lào – Campuchia. Cho đến nay, Chương trình đã trở thành một trong những sự kiện âm nhạc thường niên được mong đợi tại Việt Nam, được giới yêu nhạc cổ điển chào đón nồng nhiệt và đánh giá cao, đồng thời góp phần đưa âm nhạc cổ điển ngày càng đến gần hơn với công chúng Việt Nam.

Ù Ù Cạc Cạc
22-07-2014, 11:32
Vé hòa nhạc Toyota 2014

- Giá vé tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh được phân loại như sau:

Hạng A: VND 700,000/vé
Hạng B: VND 500,000/vé
Hạng C: VND 300,000/vé
Dành cho Sinh viên: VND 150,000/ vé

- Địa điểm bán vé: Vé được bán từ ngày 21/7/2014 tại:

ü Nhà hát Lớn Hà Nội – Số 1 Tràng Tiền, Hà Nội
ü Sketch Travel Hanoi Tầng 3, Lancaster Hà Nội – 20 Núi Trúc,Ba Đình, Hà Nội (04 39449510)
ü Shop P – 8 Nhà Chung, Hà Nội (0168 514 4746)
ü Nhà hát TP. Hồ Chí Minh – Số 7 Công trường Lam Sơn, Q.1, TP. Hồ Chí Minh (08 6270 4450/ 098 987 4517)
ü Giao vé miễn phí (0913 489 858/ 0983 067 996)
(Chương trình biểu diễn tại Buôn Ma Thuột không bán vé).

Ù Ù Cạc Cạc
22-07-2014, 11:33
THÔNG TIN NGHỆ SĨ

1. Chỉ huy dàn nhạc Honna Tetsuji

Honna Tetsuji, Giám đốc Âm nhạc và Chỉ huy chính của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam (DNGHVN).

Honna là chỉ huy của Dàn nhạc Giao hưởng Osaka (1995-2001) và là chỉ huy khách mời thường xuyên của Dàn nhạc Nagoya Philharmonic (1997-2000). Anh được DNGHVN mời làm Cố vấn Âm nhạc và Chỉ huy (2001-2009). Honna đã từng chỉ huy trong vô số dàn nhạc, bao gồm: Dàn nhạc La Scala Phil, Dàn nhạc Filharmonia London, Dàn nhạc Giao hưởng Hungary, Dàn nhạc Arturo Toscanini.

Một số giải thưởng lớn anh nhận được bao gồm: Giải Nhì tại cuộc thi chỉ huy Quốc tế Tokyo, Giải Nhì tại cuộc thi Chỉ huy Quốc tế Arturo Toscanini, Giải Nhất tại cuộc thi Chỉ huy Quốc tế Budapest.

Bên cạnh đó, anh cũng nhận được nhiều giải thưởng khác, bao gồm: Giải thưởng Âm nhạc của Nippon Steel dành cho nghệ sỹ tài năng trẻ, Giải thưởng của Bộ Văn hóa Nhật Bản, Giải thưởng của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, Huy chương vì sự nghiệp Văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam.

Honna đã xây dựng nhiều chương trình hòa nhạc với DNGHVN, bao gồm: Chuyến lưu diễn đầu tiên tới Hoa kỳ tại nhà hát New York Carnegie Hall và Boston Symphony Hall, Chuyến lưu diễn đầu tiên tới Italia tại nhà hát La.Fenice Venice, nhà hát Teatro Maggio Florence và tại Capella Paolina trong Phủ tổng thống Italia.

2. Nghệ sĩ độc tấu đàn Cello Trần Thị Mơ

Trần Thị Mơ học Violoncello từ khi còn nhỏ tuổi với Giáo sư Hoàng Dương tại Nhạc viện Hà Nội. Chị là một sinh viên xuất sắc của khoa dàn Dây cũng như của Nhạc viện và luôn được chọn như một nghệ sỹ độc tấu trong các chương trình biểu diễn báo cáo của Khoa và Nhạc viện.

Sau khi tốt nghiệp xuất sắc Nhạc viện Hà nội, chị được cử sang học thực tập sinh tại Nhạc viện Quốc gia mang tên Tchaikovsky Matscova. Trở về nước, chị công tác tại Dàn nhạc giao hưởng Việt nam. Chị đã từng được tuyển chọn đi dự nhiều cuộc thi Âm nhạc Quốc tế. Trong nhiều Liên hoan Âm nhạc Quốc gia, chị đã đoạt nhiều giải thưởng trong đó có Huy chương Vàng. Chị cũng đã thu thanh nhiều CD, VCD các tác phẩm Việt nam và Quốc tế và các băng đĩa này thường xuyên được phát trên sóng phát thanh truyền hình. Năm 2001 chị được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sỹ Ưu tú.

3. Ca sĩ Tùng Dương

Tùng Dương, tên đầy đủ là Nguyễn Tùng Dương, là ca sĩ Việt Nam. Anh sinh 18 tháng 9 (http://vi.wikipedia.org/wiki/18_th%C3%A1ng_9) năm 1983 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1983) tại Bắc Ninh (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_Ninh), Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam). Anh được biết đến từ cuộc thi “Sao Mai Điểm Hẹn (http://vi.wikipedia.org/wiki/Sao_Mai_%C4%91i%E1%BB%83m_h%E1%BA%B9n)” được tổ chức năm 2004 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2004), trong đó anh đã giành chiến thắng với giải thưởng do Hội đồng nghệ thuật bình chọn.
Những ca khúc mà anh thể hiện trong cuộc thi trên, phần lớn là các sáng tác mang phong cách dân gian đương đại (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_gian_%C4%91%C6%B0%C6%A1ng _%C4%91%E1%BA%A1i&action=edit&redlink=1) của Lê Minh Sơn (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Minh_S%C6%A1n), đã được anh đưa vào album đầu tay mang tên Chạy trốn (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A1y_tr%E1%BB%91n) (2004 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2004)).

Sau khi tạm dừng hát nhạc Lê Minh Sơn, Tùng Dương có những thử nghiệm với sáng tác của các nhạc sĩ khác như Ngọc Đại (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%E1%BB%8Dc_%C4%90%E1%BA%A1i&action=edit&redlink=1), Như Huy (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C6%B0_Huy&action=edit&redlink=1), Giáng Son (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gi%C3%A1ng_Son&action=edit&redlink=1), Lưu Hà An (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=L%C6%B0u_H%C3%A0_An&action=edit&redlink=1), Quốc Trung (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_Trung) và Đỗ Bảo... Anh đã thu âm các Album đạt giải ở nhiều cuộc thi lớn như Những ô màu khối lập phương (2007), album Li ti (2010 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2010)). Anh còn giành được thành công ở chương trình Bài hát Việt (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0i_h%C3%A1t_Vi%E1%BB%87t) với những ca khúc năm 2007 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2007) ("Con cò") và 2009 (http://vi.wikipedia.org/wiki/2009) ("Đồng hồ treo tường"). Những chương trình biểu diễn chung gần đây của anh với Thanh Lam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_Lam), Lê Cát Trọng Lý (http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_C%C3%A1t_Tr%E1%BB%8Dng_L%C3%BD) và Nguyên Lê (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%C3%AAn_L%C3%AA) cũng giành được sự chú ý của báo giới và công chúng.

Tùng Dương được biết đến như là một nghệ sĩ luôn tìm tòi, sáng tạo và đầy đam mê với sự thể hiện khá thành công nhiều thể loại âm nhạc khác nhau, trong đó có pop (http://vi.wikipedia.org/wiki/Pop), jazz (http://vi.wikipedia.org/wiki/Jazz), dân gian đương đại (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=D%C3%A2n_gian_%C4%91%C6%B0%C6%A1ng _%C4%91%E1%BA%A1i&action=edit&redlink=1), New Age, electronic, world music (http://vi.wikipedia.org/wiki/World_music) và cả những sáng tác nhạc cách mạng (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_%C4%91%E1%BB%8F), nhạc tiền chiến (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_ti%E1%BB%81n_chi%E1%BA%BFn) và tình khúc 1954-1975 (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ACnh_kh%C3%BAc_1954-1975).

Ù Ù Cạc Cạc
22-07-2014, 11:35
CHƯƠNG TRÌNH BIỂU DIỄN

Chương trình tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh:

M.I.Glinka Overture from Opera “Russlan and Ludmilla”
Edward Elgar Cello Concerto
P.I.Tchaikovsky Ballet “Nutcracker”
Văn Cao Trường ca Sông Lô
Doãn Nho Chiếc khăn Piêu
Văn Ký Bài ca hy vọng

Chương trình tại TP. Buôn Ma Thuột:

M.I.Glinka Overture from Opera “Russlan and Ludmilla”
Georges Bizet Extract music from Opera “Carmen”
Johannes Brahms Hungarian Danse no.5 –Conducting corner
Leroy Anderson Sleigh Ride
Leroy Anderson Belles of the ball
Leroy Anderson Typewriter
Leroy Anderson Waltzing Cat
Văn Cao Trường ca Sông Lô
Doãn Nho Chiếc khăn Piêu
Văn Phong Người lái đò trên sông Pô Kô

Ù Ù Cạc Cạc
22-07-2014, 11:37
THÔNG TIN TÁC GIẢ TÁC PHẨM

8.1. Mikhail Ivanovich Glinka:

Mikhail Ivanovich Glinka (sinh năm 1804 – mất năm1857) là nhà soạn nhạc người Nga đầu tiên được công nhận rộng rãi trong nước, và thường được coi là người sáng lập nền âm nhạc cổ điển Nga. Tác phẩm của Glinka có ảnh hưởng rất lớn tới các nhà soạn nhạc Nga thế hệ sau đó, đặc biệt là các thành viên của nhóm The Five, những người đã theo sự dẫn dắt của Glinka và tạo ra một phong cách đặc biệt cho âm nhạc Nga.

Glinka là người mở đầu một hướng mới trong sự phát triển của âm nhạc ở Nga. Văn hóa âm nhạc đến Nga từ châu Âu, và đặc biệt lần đầu tiên âm nhạc Nga bắt đầu xuất hiện, dựa trên văn hóa âm nhạc châu Âu, trong những vở opera của nhà soạn nhạc Mikhail Glinka.

Người đầu tiên chú ý tới xu hướng âm nhạc mới này là Alexander Serov. Sau đó ông đã nhận được sự ủng hộ từ một người bạn của ông, Vladimir Stasov, người đã trở thành nhà lý luận của xu hướng âm nhạc này. Xu hướng này đã được phát triển bởi những nhà soạn nhạc còn lại trong nhóm các nhà soạn nhạc mang tên The Five.

Ruslan and Ludmila là vở opera gồm 5 màn được Mikhail Glinka sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1837 đến năm 1842. Vở opera dựa trên bài thơ cùng tên viết năm 1820 của nhà thơ Aleksandr Pushkin. Lời nhạc kịch bằng tiếng Nga được viết bởi các tác giả Valerian Shirkov, Nestor Kukolnik, NA Markevich và một số người khác. Cái chết đột ngột của Pushkin trong cuộc đấu tay đôi nổi tiếng ngăn cản chính ông viết lời nhạc kịch theo như dự kiến. Buổi ra mắt tác phẩm diễn ra tại St Petersburg vào ngày 27 tháng 11 năm 1842 tại Nhà hát Bolshoy. Bốn năm sau đó, vở opera đã được trình diễn lần đầu tiên ở Moscow tại Nhà hát Bolshoy vào năm 1846.

8.2. Edward William Elgar:

Edward William Elgar (1857 – 1934) là nhà soạn nhạc người Anh. Ông sáng tác nhiều thể loại âm nhạc, bao gồm các tác phẩm viết cho dàn hợp xướng, các tác phẩm viết cho dàn nhạc, nhạc thính phòng và đàn phím. Năm 1924, ông được trao tước vị "Master of the King's Music" (tước vị đảm đương việc viết nhạc cho các sự kiện kỷ niệm quan trọng của hoàng gia).

Thập niên đầu thế kỷ 20 là thời kỳ Elgar sáng tác sung sức nhất và chính trong thời gian này ông đã cho ra đời những bản nhạc quý phái và giàu sức diễn cảm nhất như Bản giao hưởng số 1, cung La, trưởng; Op. 55 (1907 – 1908), và Bản concerto dành cho đàn Violin cung Xi thứ, op. 61 (1909 – 1910). Tuy nhiên, các tác phẩm được đông đảo quần chúng biết đến nhất trong thời kỳ này là bốn hành khúc đầu của tổ khúc "Pomp and Circumstance Marches (1901-1907). Hành khúc đầu tiên mang tên "Miền đất của Vinh quang và Hy vọng" đã trở thành bản quốc ca không chính thức của Đế chế Anh.

Bản concerto giọng Mi thứ Op.85 viết cho Cello và dàn nhạc do Edward Elgar sáng tác là một tác phẩm đáng chú ý và quan trọng trong số các tác phẩm viết cho solo đàn cello. Elgar sáng tác bản concerto này trong thời kỳ hậu thế chiến thứ nhất, khi đó thể loại âm nhạc của ông đã không còn phù hợp với công chúng thưởng thức hòa nhạc. Ngược lại với bản concerto trước đó được Elgar viết cho đàn violin đầy chất trữ tình và đam mê, bản concerto viết cho cello này phần lớn là giai điệu trầm mặc và bi thương.

Buổi biểu diễn đầu tiên đã thất bại do Elgar và những người tham gia biểu diễn không có đủ thời gian diễn tập. Tác phẩm này đã không được phổ biến rộng rãi cho tới những năm 1960 khi xuất hiện một bản thu âm của Jacqueline du Pré rất phù hợp với thị hiếu của công chúng và trở thành bản thu âm nhạc cổ điển bán chạy nhất. Elgar đã thu âm 2 bản tác phẩm này với sự trình diễn của nghệ sĩ độc tấu Beatrice Harrison. Kể từ đó, nhiều nghệ sĩ cello hàng đầu đã biểu diễn tác phẩm này trong các buổi hòa nhạc và trong các phòng thu.

8.3. Pyotr Ilyich Tchaikovsky:

Pyotr Ilyich Tchaikovsky (1840 - 1893) là một nhà soạn nhạc người Nga tiêu biểu cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gồm: các vở ba-lê “Hồ thiên nga”, “Người đẹp ngủ trong rừng”, “Chiếc kẹp hạt dẻ”, Bản Overture 1812, Bản Concerto số 1viết cho piano, Ba bản giao hưởng cuối và vở nhạc kịch “Eugene Onegin”. Tác phẩm của ông thể hiện những cảm xúc dồn nén, đôi khi là sự duyên dáng, cuốn hút mãnh liệt, thường biểu lộ rõ ràng. Cảm xúc đó ngày càng trở nên dữ dội trong những năm về sau và nó được thể hiện đầy đủ nhất trong Bản giao hưởng số 6 của Tchaikovsky, một trong những tác phẩm giao hưởng lừng danh của thời đại đó.

Cuộc đời của Tchaikovsky cũng đầy những biến cố bất thường. Ban đầu ông theo học trường luật, sau đó, năm 23 tuổi, ông theo học nhạc tại Nhạc viện, rồi trở thành một giảng viên dạy hòa thanh và cuối cùng ông quyết định dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp sáng tác. Trong cuộc đời Tchaikovsky, không thể không nhắc tới góa phụ quý tộc Nazehda von Mack, một người say mê âm nhạc của ông và cũng là người đã bảo trợ cho công việc sáng tác của ông trong nhiều năm trời. Bên cạnh đó, việc Tchaikovsky là người đồng tính tuy không được công khai vào thời đó nhưng cũng không phải là bí mật với công chúng. Vật lộn trong cuộc sống tình cảm và những quy tắc đạo đức hà khắc của xã hội đương thời nhưng Tchaikovsky không ngừng làm việc và để lại cho nhân loại những kiệt tác âm nhạc bất hủ.

Chiếc kẹp hạt dẻ là một vở ballet gồm 2 màn, ban đầu được biên đạo bởi Marius Petipa và Lev Ivanov với phần phổ nhạc của Pyotr Ilyich Tchaikovsky (op.71). Phần lời được chuyển thể từ câu chuyện của E.T.A Hoffmann “Chiếc kẹp hạt dẻ và vua chuột”. Tác phẩm đã được ra mắt công chúng tại Nhà hát Mariinsky ở St Petersburg vào Chủ Nhật 18/12/1892, công diễn kết hợp cùng vở opera Iolanta của Tchaikovsky.

Phiên bản hoàn chỉnh của Chiếc kẹp hạt dẻ được phổ biến rộng rãi từ cuối những năm 1960 và đến bây giờ vẫn còn được biểu diễn bởi vô số các đoàn ballet, chủ yếu trong mùa Giáng sinh, đặc biệt là ở Mỹ. Các đoàn ballet lớn của Mỹ đã tạo ra khoảng 40 phần trăm doanh thu bán vé hàng năm từ các buổi biểu diễn của Chiếc kẹp hạt dẻ.

8.4. Văn Cao:

Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao (15 tháng 11 (http://vi.wikipedia.org/wiki/15_th%C3%A1ng_11), 1923 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1923) – 10 tháng 7 (http://vi.wikipedia.org/wiki/10_th%C3%A1ng_7), 1995 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1995)) là một nhạc sĩ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_s%C4%A9) Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của "Tiến quân ca (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BA%BFn_qu%C3%A2n_ca)", quốc ca (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_ca) của Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam), đồng thời cũng là một trong những gương mặt quan trọng nhất của tân nhạc (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_nh%E1%BA%A1c_Vi%E1%BB%87t_Nam). Văn Cao còn là một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị.

Tên ông cũng được đặt cho nhiều con phố đẹp ở Hà Nội (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i), Thành phố Hồ Chí Minh (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh), Hải Phòng (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_Ph%C3%B2ng), Huế (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BA%BF), Đà Nẵng và Nam Định (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_%C4%90%E1%BB%8Bnh).

Trường Ca Sông Lô là tác phẩm nổi tiếng được nhạc sĩ tài danh Văn Cao sáng tác trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Tháng 10 năm 1947, Văn Cao (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Cao) được cử lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Đúng lúc đó quân Pháp (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p) nhảy dù xuống Bắc Kạn (http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%AFc_K%E1%BA%A1n), tấn công Việt Bắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_B%E1%BA%AFc). Do vậy, Văn Cao phải đi qua Phú Thọ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D), rồi men theo dọc bờ sông Lô (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_L%C3%B4) để tìm đường lên Chiến khu Việt Bắc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_B%E1%BA%AFc).
Ngày 24 tháng 10 năm 1947 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1947), bộ đội pháo binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A2n_%C4%91%E1%BB%99i_Nh%C3%A2n_d%C3%A2n_Vi%E 1%BB%87t_Nam) đã chiến thắng trận Đoan Hùng trên sông Lô và buộc Pháp phải cho quân rút lui khỏi Việt Bắc. Khi thua trận phải rút chạy, quân Pháp đã cướp bóc, tàn phá và đốt trụi các làng xóm dọc hai bờ sông Lô.
Quân Pháp vừa rút đi thì cũng là lúc Văn Cao (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Cao) đi ngược dòng Lô giang (http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_L%C3%B4). Trên đường đi, ông đã tận mắt thấy các cảnh: xóm làng bị đốt trụi, cảnh dân đôi bờ hân hoan chiến thắng, bắt tay vào dựng lại xóm làng, cảnh "đoàn quân thời chinh chiến" trên đường chiến thắng trở về chiến khu, cảnh dòng sông bao la hùng vĩ, chảy về xuôi.

Khi lên tới chiến khu, Văn Cao (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_Cao) đã tìm gặp người sĩ quan pháo binh Doãn Tuế (http://vi.wikipedia.org/wiki/Do%C3%A3n_Tu%E1%BA%BF), vừa tham gia chỉ huy các trận đánh trong chuỗi chiến thắng sông Lô, để nghe kể lại diễn biến trận đánh. Doãn Tuế đã dẫn Văn Cao đi dọc bờ sông nơi chiến trường vừa im tiếng pháo, và qua lời kể của Doãn Tuế, Văn Cao đã có nhiều cảm hứng để cho ra đời bản trường ca. Trường ca sông Lô được Văn Cao sáng tác rất nhanh và hoàn thành vào khoảng tháng 3 năm 1948 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1948).

8.5. Doãn Nho:

Doãn Nho sinh ngày 1 tháng 8 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1_th%C3%A1ng_8) năm 1933 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1933) tại Hà Nội, vừa là một nhạc sĩ, một đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được biết tới với nhiều ca khúc nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến. Ông còn có các bút danh khác là Ánh Quyên, Bun Nho.

Thuở nhỏ, ông đã sớm tiếp xúc với âm nhạc dân gian Bắc Bộ và âm nhạc phương Tây. Ông đã bắt đầu học violon (http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9_c%E1%BA%A7m) năm 10 tuổi và sau đó có những năm tháng dài học về âm nhạc tại Nga.
Ngoài những sáng tác thanh nhạc, ông còn viết thanh xướng kịch. Ông còn viết nhạc cho kịch, kịch múa và nhạc phim. Nhạc sĩ Doãn Nho đã được nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều tặng thưởng cao quý.

Chiếc khăn Piêu là một trong những tác phẩm rất hay của nhạc sĩ Doãn Nho, được ông sáng tác khi ông mới 23 tuổi. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Doãn Nho từ Tây Bắc trở về Hà Nội. Lúc ấy, không khí hào hùng của chiến tranh vẫn bao trùm đất nước nhưng cũng đã có được cảm nhận về hòa bình. Với một chàng trai trẻ như ông trong tâm thế ấy, tất yếu phải nảy sinh những đòi hỏi về tình yêu. Khi còn kháng chiến, tình yêu thường bị lấn át đi bởi sự sống và cái chết, có chăng lúc đó chỉ là tình đồng đội, tình quân dân…

Khi hòa bình lặp lại đã 2 năm, Doãn Nho có dịp được trở lại Tây Bắc để sưu tầm dân ca và ông đã gặp được một bài dân ca dân tộc Xá có tên “Tăng A Tim”. Giai điệu này khiến ông vô cùng thích thú. Lúc ấy ông chưa từng yêu ai nhưng những thôi thúc từ trái tim đã khiến ông viết nhạc phẩm “Chiếc khăn piêu”.

8.6. Văn Ký:

Văn Ký tên thật là Vũ Văn Ký sinh ngày 1 tháng 8 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1_th%C3%A1ng_8) năm 1928 (http://vi.wikipedia.org/wiki/1928). Ông là một nhạc sĩ Việt Nam, nổi tiếng với 2 dòng nhạc gồm nhạc đỏ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%A1c_%C4%91%E1%BB%8F) và nhạc trữ tình. Ông cũng là một chiến sĩ cách mạng Viêt nam.

Văn Ký đã viết khoảng 400 nhạc phẩm với nhiều thể loại trong đó có ca khúc, ca kịch, giao hưởng... Văn Ký đã được nhà nước Việt Nam trao tặng nhiều huân chương cao quý.

Bài ca hy vọng là tác phẩm được nhạc sĩ Văn Ký viết vào năm năm 1958 khi đất nước Việt Nam rơi vào hoàn cảnh khó khăn, không ít người bi quan, hoang mang nhìn về tương lai đất nước. Lúc đó, Văn Ký chỉ muốn khẳng định với riêng mình điều mà mình đã suy nghĩ sâu sắc. Ông tin tưởng rằng cách mạng sẽ nhất định thắng lợi. Vào một ngày giáp tết, khi mùa xuân đang đến gần, qua cửa sổ phòng làm việc, ông bắt gặp bầu trời xanh tới ngỡ ngàng. Niềm tin vào tương lai tươi sáng trong ông trào dâng và ông đã đặt bút viết những giai điệu đầu tiên của tác phẩm.

Sau đó, không ngờ, khi ca khúc hoàn thành, Văn Ký đã cho phát bài hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, và được lãnh đạo Đài và nhạc sĩ Phạm Tuyên khen ngợi, ủng hộ, nên bài hát đã được phổ biến khắp nơi và trở thành tác phẩm nổi tiếng cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam.

8.7. Georges Bizet:

Sinh ra trong một gia đình có cha mẹ làm âm nhạc, Georges Bizet (1838 - 1875) được coi là thần đồng âm nhạc và ông theo học Học viện Âm nhạc Pari năm 9 tuổi. Ông chơi piano và nhận được sự dìu dắt của nghệ sỹ bậc thầy Antoine-Francois Marmontel. Bizet đã viết Bản giao hưởng cung Đô trưởng năm 17 tuổi, đây được coi là tác phẩm của một thiên tài. Bizet cũng sáng tác vô số các nhạc phẩm dành cho piano, các vở opera, trong đó vở opera được yêu thích nhất là “Carmen”, một vở nhạc kịch được kết hợp với giai điệu Tây Ban Nha để làm nhạc nền cho vở kịch.

Carmen là vở opera gồm 4 màn do nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet sáng tác. Lời nhạc kịch do tác giả Henri Meilhac và Ludovic Halevy cùng viết dựa trên một cuốn tiểu thuyết cùng tên của Prosper Mérimée. Vở opera này được biểu diễn lần đầu tiên tại nhà hát Opéra Comique ở Paris, vào ngày 03 tháng 3 năm 1875, và lần biểu diễn này không hoàn toàn thành công. Những buổi diễn ban đầu của vở opera này đã lên tới 36 buổi, trước khi kết thúc thì Bizet đột ngột qua đời, và do vậy không biết gì về sự nổi danh sau đó của vở opera.

Vở opera được viết theo thể loại hài kịch với các con số trên bản nhạc được tách rời nhau bởi phần lời thoại, câu chuyện kể về sự sụp đổ của Don José, một người lính ngây thơ bị quyến rũ bởi những mưu kế của người đàn bà Gypsy bốc ​​lửa, Carmen. José từ bỏ người yêu thời thơ ấu và chối bỏ các nghĩa vụ quân sự, nhưng rồi lại để mất tình yêu của Carmen vào tay đấu sĩ đấu bò Escamillo quyến rũ, sau đó José đã giết cô trong cơn thịnh nộ ghen tuông.

Lúc đầu Carmen chỉ nổi tiếng do các nhà sản xuất bên ngoài nước Pháp, mãi đến 1883 mới trở nên nổi tiếng tại Paris; sau đó vở opera nhanh chóng có được danh tiếng cả trong và ngoài nước và tiếp tục là một trong những vở opera thường xuyên được biểu diễn nhất.

8.8. Johannes Brahms:

Johannes Brahms (1833 – 1897) là nhà soạn nhạc người Đức và là một nghệ sỹ dương cầm. Ông là một trong những nghệ sỹ tiêu biểu của giai đoạn âm nhạc lãng mạn. Sinh ra tại Hamburg nhưng Brahms lại dành nhiều thời gian cho sự nghiệp tại thủ đô Viên, nước Áo. Theo như lời nhân xét của chỉ huy dàn nhạc thế kỷ 19 Hans von Bülow (http://en.wikipedia.org/wiki/Hans_von_B%C3%BClow), tên tuổi cũng như tầm ảnh hưởng của ông trong làng âm nhạc là rất lớn. Brahms được xem như một nhà soạn nhạc truyền thống, đồng thời cũng là một nhà soạn nhạc cách tân. Âm nhạc của ông có cấu trúc và kỹ thuật sáng tác bắt nguồn từ các bậc thầy nhạc Ba – rốc và nhạc cổ điển mang vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung dị sâu sắc của tâm hồn. Là nghệ sỹ piano bậc thầy, ông đã công diễn nhiều tác phẩm của chính mình và cũng đã hợp tác với nhiều nghệ sỹ biểu diễn hàng đầu, trong đó có nghệ sỹ piano Clara Schumann (http://en.wikipedia.org/wiki/Clara_Schumann) và nghệ sỹ Joseph Joachim (http://en.wikipedia.org/wiki/Joseph_Joachim). Brahms viết các tác phẩm cho piano, nhạc thính phòng, thanh nhạc và hợp xướng.

The Hungarian Dances do Johannes Brahms sáng tác, là một tập hợp gồm 21 vũ điệu sôi động chủ yếu dựa trên chủ đề người Hungary, được hoàn thành vào năm 1869.
Các bản nhạc này có độ dài đa dạng từ khoảng một phút đến bốn phút, là các tác phẩm nổi tiếng nhất của Brahms và mang lại sự nổi danh cho ông. Mỗi điệu nhạc được phối khí cho những nhạc cụ và nhóm hòa tấu khác nhau. Brahms ban đầu đã viết phiên bản này cho piano và sau đó đã sắp xếp 10 điệu nhạc đầu tiên cho độc tấu piano.

Hiện chỉ có bản số 11, 14 và 16 hoàn toàn là bản gốc. Hungarian Dance số 5 giọng Fa thứ là bản nổi tiếng nhất, nhưng dù vậy điệu nhảy này được dựa trên tác phẩm Csárdás của Béla Keler có nhan đề " Bártfai emlék " mà Brahms nhầm tưởng là một bài dân ca truyền thống.

8.9. Leroy Anderson:

Leroy Anderson (1908 – 1975) là nhà soạn nhạc người Mỹ, nổi tiếng với những sáng tác ngắn gọn, nhẹ nhàng. Nhiều trong số những tác phẩm của ông đến với công chúng qua sự thể hiện của Dàn nhạc Boston Pops dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Arthur Fiedler. Anderson tốt nghiệp Harvard và làm việc với tư cách một nghệ sỹ organ, nghệ sỹ bass và chỉ huy hợp xướng tại đây. John William đã nhận xét: "Mặc dù chúng tôi đã biểu diễn tác phẩm của ông rất nhiều lần trong nhiều năm tại Boston Pops nhưng những tác phẩm ấy vẫn còn mãi sự tươi trẻ như ngày mới được sáng tác".

Sleigh Ride: Năm 1947, Leroy Anderson ông bắt đầu soạn tác phẩm "Sleigh Ride" trong thời điểm thời tiết nóng bức. Tác phẩm được hoàn thành năm 1948 nhưng không phải là tác phẩm viết về mùa Giáng sinh mà đơn thuần chỉ là một bản nhạc miêu tả sự kiện xảy ra vào giữa mùa đông. Tuy nhiên, tác phẩm đã trở thành một nhạc phẩm kinh điển của mùa Giáng sinh. Phiên bản hoà tấu của tác phẩm được hãng Arthur Fieldler và Boston Pop thực hiện lần đầu năm 1949.

"Belle of the Ball" của Leroy Anderson nằm trong chuỗi các tác phẩm hoà tấu ngắn cực kỳ thành công, chất chứa những giai điệu hân hoan và tạo ra những hiệu ứng sáng tạo, phản ánh chân thực nhân cách giản dị và khiêm nhường của tác giả. Bản Waltz này được soạn năm 1952.

“Typewriter” được Leroy Anderson viết cho dàn nhạc và được hoàn thành ngày 9/10/1950. Tác phẩm được trình diễn lần đầu tiên dưới tài chỉ huy của Leroy Anderson cho chương trình thu âm Decca Records vào 8/9/1953. Hãng Mills Music đã công bố phiên bản viết cho dàn nhạc vào năm 1953.

“Waltzing Cat” được Leroy Anderson sáng tác vào năm 1950. Mở đầu cho tác phẩm, âm thanh từ đàn dây vang lên với kỹ thuật luyến ngắt trên những nốt chính tạo nên hiệu ứng như tiếng meo meo. Phần giữa của bản nhạc gợi lên những bản nhạc trong các bộ phim hoạt hình với những hành động vui nhộn của mèo và chuột. Chủ đề chính của tác phẩm tiếp tục trở lại với âm thanh đầy màu sắc và tiếng meo meo quyến rũ kết thúc nhạc phẩm duyên dáng này.

8.9. Cầm Phong:

Nhạc sĩ Cầm Phong tên thật là Đỗ Lạc. Ông sinh ngày 11/6/1929 tại Huyện Chương Mỹ - Hà Nội. Ông đến với âm nhạc bằng con đường tự học. Sau đó, ông đã tham gia Đội ca kịch Sao vàng. Năm 1947, ông là diễn viên Đội tuyên truyền Phòng Chính trị Khu I Việt Bắc. Tháng 8-1948, ông về Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) làm biên tập âm nhạc, là một trong những người đầu tiên xây dựng Đoàn Ca nhạc của Đài Tiếng Nói Việt Nam. Và ông đã dành phần lớn sự nghiệp cho các chương trình âm nhạc trên sóng đài tiếng nói Việt Nam cho tới ngày về hưu. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, ông đã trở thành một tên tuổi xứng đáng nhận nhiều giải thưởng âm nhạc Nhà nước.

Người lái đò trên sông Pô Kô là tác phẩm được nhạc sĩ Cầm Phong phổ nhạc theo bài thơ của nhà thơ Mai Trang (hay tên khác là Nguyễn Thị Ngọc Oanh) viết ca ngợi người anh hùng A Sanh (bí danh của Puih San). Puih San (1937-2000) là một anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (http://vi.wikipedia.org/wiki/Anh_h%C3%B9ng_l%E1%BB%B1c_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_v%C5% A9_trang_nh%C3%A2n_d%C3%A2n) Việt Nam, người dân tộc Jrai (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Gia_Rai). Ông là người xã Ia Krái, huyện Ia Grai (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ia_Grai), tỉnh Gia Lai (http://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_Lai). Năm 1958, ông gia nhập lực lượng du kích (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Du_k%C3%ADch&action=edit&redlink=1) cộng sản (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n). Năm 1961, ông gia nhập quân đội nhân dân Việt Nam, thuộc đơn vị đường dây T2C07, mặt trận B3 (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=C%C3%A1c_m%E1%BA%B7t_tr%E1%BA%ADn_ trong_Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam&action=edit&redlink=1). Nhiệm vụ chính của Puih San trong đơn vị này là lái đò đưa bộ đội, vũ khí, lương thực qua sông Pô Kô (http://vi.wikipedia.org/wiki/P%C3%B4_K%C3%B4). Những năm sau đó, ông trải qua nhiều nhiệm vụ khác nhau để phục vụ quân đội nhân dân Việt Nam. Ông nổi bật trong chiến đấu với thành tích nhiều lượt lái đò đưa bộ đội qua sông tham gia trận Plei Me (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BA%ADn_Plei_Me&action=edit&redlink=1) ở huyện Chư Prông.

kiensurveyor
27-07-2014, 23:07
Chương trình năm nay bị nội địa hóa kinh, phú quý giật lùi!